ĐHQGHN nên chọn một trong hai giấy khai sinh

Thứ bảy, 10 Tháng sáu 2006, 10:13 GMT+7
  • Sau bài "ĐHQGHN thành lập từ cách đây 100 năm” của TS Phạm Hồng Tung, một số nhà giáo dục có tên tuổi lại có bài viết thứ hai gửi đến TS. Chúng tôi xin được trích giới thiệu các ý kiến tiêu biểu tập trung vào những điều mà nhiều độc giả quan tâm nhất.

    I. TRƯỜNG ĐH NÀO CÓ LỊCH SỬ THÀNH LẬP 100 NĂM?

    • Trường Y Hà Nội mới có thể xem là có 100 năm lịch sử.

    GS. Nguyễn Ngọc Lanh: Tôi đã đọc báo thấy tin trường ĐHQGHN kỷ niệm 100 năm thành lập và đã đọc bài của tác giả PHT .

    Theo tôi, Trường chuyên nghiệp đầu tiên ở Đông Dương, sau này phát triển sớm nhất thành đại học có tên là Trường Y Đông Dương; thành lập theo quyết định của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ký ngày 08-1-1902. Cùng ngày đó còn có quyết định bổ nhiệm nhà bác học 39 tuổi Yersin làm Hiệu trưởng.

    Trường Y Đông dương không chỉ đào tạo thầy thuốc cho phạm vi Đông Dương. Nó có các phòng thí nghiệm và có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, có quyền cho phép các nhà khoa học Pháp và quốc tế tới làm việc. Năm đầu tiên, chỉ có 29 học viên mà đội ngũ giảng dạy có 6 tiến sĩ. Tỷ lệ thầy-trò này đến nay đại học quốc gia của ta đang mơ ước.

    Rõ ràng, đây là các yếu tố của đại học. Điều dễ thấy là trong những năm đầu, hoàn toàn chưa có nguồn tuyển sinh, vì ngay cả bậc trung học cơ sở (cấp II) cũng chưa có, nói gì bậc trung học phổ thông (cấp III). Các kỳ thi Hương vẫn thu hút hàng ngàn thí sinh, kéo dài tới 1915 (để tuyển tú tài) và sau đó còn kỳ thi Hội cuối cùng, năm 1918 (để tuyển cử nhân, tiến sĩ nho học).

    Năm 1902 cả nước chưa có bậc trung học cơ sở nên trình độ thí sinh rất thấp. Riêng Bắc Kỳ năm đó có tới trên 400 thí sinh, chỉ trúng tuyển 15 người trong tổng số 29 người của cả nước. Vào trường, họ phải học tiếng Pháp, Toán, Lý, Hoá, Sinh song song với các môn Y học. Tuy vậy, họ vẫn được gọi là sinh viên. Lẽ ra, theo quy định sau 3 năm họ phải ra trường, nhưng do phải bổ túc văn hoá, khoá học phải kéo dài. Sau 7 năm mới có 5 người ra trường, nhận việc, và được đánh giá là “đủ trình độ công tác độc lập”, phụ trách y tế ở một tỉnh hay cấp tương đương.

    Khi bậc trung học cung cấp đủ nguồn tuyển sinh (những năm 20 của thế kỷ trước), trường này lập tức được tổng thống Pháp ra sắc lệnh nâng cấp: chỉ học 4 năm, khi ra trường được trả lương ngang (hoặc hơn) cử nhân.

    Đến lúc có đủ thí sinh tú tài thì trường này được nâng cấp lần nữa: nó vừa có hệ đào tạo y sĩ Đông Dương học 4 năm, lại có thêm hệ đào tạo bác sĩ học 7 năm (và một số hệ khác). Để có bằng bác sĩ y khoa, sinh viên phải sang Pháp 2 năm cuối để làm luận án. Năm 1918 khi chấm dứt các kỳ thi tiến sĩ nho học thì Trường “Y khoa toàn cấp” Đông Dương bắt đầu tuyển sinh bác sĩ và sản phẩm đầu tiên xuất hiện năm 1927 sau khi bảo vệ luận án ở Paris.

    Năm 1929, trong khi các trường khác chỉ đào tạo cử nhân thì trường đại học Y được nâng cấp để đào tạo tiến sĩ ngay trong xứ Đông Dương. Sinh viên không cần sang Pháp bảo vệ luận án nữa, mà bảo vệ ngay ở trường, với một hội đồng giám khảo do đại học Y Paris quyết định. Sản phẩm hoàn toàn nội địa có từ năm 1935 trở đi. Trong khi đó, không một trường nào khác ở Đông Dương có thể đào tạo tiến sĩ. Trước 1945, các vị tiến sĩ các ngành Văn, Toán, Luật... của Việt Nam đều phải do nước ngoài đào tạo.

    Năm 1945 và 1946, trường Y-Dược hoàn toàn do các thầy người Việt giảng dạy và là trường duy nhất có giáo sư. Trường đủ tư cách lập hội đồng chấm luận án tiến sĩ y khoa, do vậy trong lễ khai giáng năm đó (15-11-1945) chủ tịch nước đã trao bằng cho 9 tiến sĩ y khoa.

    Cũng nhờ đội ngũ thấy đông đảo, chất lượng cao, trường Y-Dược vẫn tồn tại và phát triển trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ngay trong lòng cuộc kháng chiến này, tham gia rất trực tiếp mà không thể tạm lánh sang Trung Quốc như một số trường-lớp đại học khác.

    Tóm lại, Trường Y (Dược) đã có các đặc điểm: 1) ra đời đầu tiên (1902); 2) chưa hề đứt đoạn trong quá trình tồn tại (kể cả thời kỳ kháng chiến 9 năm); 3) được nâng cấp ngay khi có nguồn tuyển sinh thích hợp; 4) tự đào tạo tiến sĩ từ 1921 (phần đầu) và từ 1929 (toàn phần). 5) từ 1962 đã viết lịch sử 60 năm (mà không đoạn tuyệt quá khứ), năm 1982 đã long trọng kỷ niệm 80 năm tồn tại (vinh dự với quá khứ), rồi kỷ niệm 90 và 100 năm...

    Vì vậy, chỉ Trường Y Hà Nội mới có thể xem là có 100 năm lịch sử. Nhưng nói rằng cả 100 năm nay, trường này tồn tại và hoạt động ở trình độ đại học thì e rằng chưa đủ khiêm tốn và cần phải cân nhắc. Có lẽ nếu gọi là “Đại học” Y khoa thì chỉ còn khoảng 80 năm tuổi thôi.

    • Các trường đại học khác đều đẻ non, tồn tại chủ yếu trên giấy

    GS. Nguyễn Ngọc Lanh:

    Việc thành lập các trường hồi đó là sự “đẻ non”.

    Dựa vào các tư liệu hiện có, phải nói rằng Trường Y cũng vậy (xem phần trên), với các trường khác càng như vậy.

    Khác với trường Y (tuyển sinh và học tập chỉ sau vài tháng kể từ khi có quyết định thành lập), các trường khác trong Viện đại học sau khi có giấy khai sinh phải mất không dưới một năm rưỡi mới chiêu sinh và khai giảng. Và cần nói thêm: riêng số học sinh vào trường Y năm đó đã gấp từ 2 đến 3 lần số vào học mỗi trường bạn. Có trường, sinh viên chính thức chỉ chục người. Sự tốn kém do đài thọ thầy là một trong những nguyên nhân khiến Paul Beau bị phản đối gay gắt, đồng thời trình độ học sinh quá kém cũng làm nảy sinh nhiều ý kiến ngược dòng.

    Đúng khi đó, tác dụng tích cực của Đông Kinh nghĩa thục và của phong trào chống thuế ở miền Trung cứ lan rộng, khiến người Pháp lo sợ sinh viên Viện đại học cũng bị ảnh hưởng. Do vậy, các trường đại học (gồm cả trường Y) lâm vào thời kỳ hết sức khó khăn (giảm kinh phí, cắt bớt học bổng, bị quản lý chặt...). Trường Y vẫn gắng gượng hoạt động, có sản phẩm đào tạo hàng năm, và mau chóng hồi sinh. Còn các trường khác phải đình giảng rất lâu; có trường đình giảng cả chục năm.

    Cần nói thêm một điểm nữa: Hiệu trưởng trường Y là nhà khoa học thật sự làm chuyên môn, trong khi phụ trách Viện đại học là quan chức hành chính, chỉ thuần tuý có nhiệm vụ quản lý hành chính, mà không có bất cứ vai trò chuyên môn, học thuật nào và thực tế họ không muốn và không thể thật sự làm nhiệm vụ hiệu trưởng.

    Đại học Đông Dương (gồm trường Y-Dược) có cơ hội phát triển mạnh là trong thế chiến II khi mà con cái giới cầm quyền thực dân không thể về Pháp học đại học, nhưng ngay cả khi đó vẫn chỉ có mỗi Trường Y đào tạo tiến sĩ (học 7 năm, tốt nghiệp bằng luận án), các trường khác chỉ đào tạo cử nhân.

    Trừ trường Y, tất cả các trường đại học khác đều bị teo đi và bị đứt đoạn (phần lớn thời gian hay toàn bộ thời gian). Đặc biệt trong 9 năm kháng chiến chống Pháp.

    Sau năm 1954 Việt nam có chủ trương phục hồi Viện đại học (như thời Pháp thuộc) không? Tư liệu để lại cho thấy là “hoàn toàn không” (thư trả lời của Bộ Giáo dục cho GS Hồ Đắc Di). Đây là thời kỳ “manh mún hoá” ngành đại học. Trong thời kỳ này, có 5 trường đại học (faculty) được coi là “trường trọng điểm” của đất nước, hoàn toàn độc lập với nhau.

    Ô. Lê Văn Giạng(Nguyên Thứ trưởng Bộ ĐH&THCN cũ):

    >> Các trường khác hoàn toàn trên giấy

    Từ 1906 đến 1918 chỉ có Trường Y Dược là có thực chất, tuy vẫn là một trường trung cấp chuyên nghiệp (với mục tiêu đào tạo y sĩ phụ trợ v.v...) mặc dù được Beau phong cho là trường cao đẳng (mãi đến1918, trường Y Dược này mới thực sự là trường cao đẳng và đến 1941 mới được gọi là faculté).Trường Luật và Hành chính mãi đến năm 1918 mới có, còn trước đó ở Hà Nội chỉ có 1 lớp dạy luật (cours de droit) với muc tiêu là đào tạo thừa phát lại (huissirers) và thư ký thông ngôn tư pháp.


    Còn 3 trường Cao đẳng khoa học, văn khoa, xây dựng dân dụng là hoàn toàn trên giấy, không có một chút dấp dáng gì tồn tại trên thực tế trước 1923. Năm 1923, mới mở trường cao đẳng văn khoa nhưng ngay năm sau thì bãi bỏ. Cũng năm đó, mở trường khoa học thực hành (école des sciences appliquées) rồi cũng bị giải thể ngay.

    Trong thời kỳ 1940-1945 tôi là sinh viên của các trường Cao đẳng Nông lâm và Cao đẳng Khoa học họat động trong Ban chấp hành Tổng hội sinh viên Đông Dương. Tôi biết rõ: mãi đến năm 1941 mới mở một trường thực sự về khoa học tự nhiên với tên gọi là cao đẳng khoa học. Về trường cao đẳng xây dựng dân dụng (génie civile) hoàn toàn ở Đông Dương không có môt trường nào mang một cái tên như vây; chỉ có trường gọi là công chính (travaux publícs), vả lại trường cao đẳng công chính chưa có năm 1906; mãi năm 1918 mới có trường công chính đào tạo cán sự chuyên môn (agent technique) và từ năm 1925 mới được chuyển dần từng bước lên bậc cao đẳng. (xem: ”Lịch sử đại học và trung học Việt Nam” tập I, trang 79,95-100 và 296-322, Viện Đại học, 1985).

    Về mặt tổ chức và bộ máy quản lý, tôi xin lưu ý là: a) từ 1907 đến khoảng 1918, không còn tên gọi ĐHĐD, tên gọi này mãi sau 1918 mới được A.Sarraut lập lại.Trong khỏang thời gian 1907-1918, các Hội đồng nói trên chỉ làm việc nghiên cứu hoặc tồn tại trên danh nghĩa, b) từ 1918 đến 1945, các Hội đồng đó cũng chủ yếu có tính chất tư vấn cho Nha Học chính Đông Dương.Nha này cũng chỉ trực tiếp quản lý 3 trường là Y Dược, Lụật và Mỹ thuật, còn các trường cao đẳng khác như Nông lâm, Công chính,Thú y lại do các Tổng Nha khác trực tiếp quản lý (về dạy học, tuyển sinh, tốt nghiệp, kỷ luật, kinh phí...).

    Những điều trình bày ở trên chứng tỏ tên gọi ĐHĐD chỉ là một tên gọi chung cho tập hợp các trường cao đẳng và đại học có ở Hà Nội thời kỳ đó và hoàn toàn có căn cứ để nói rằng cái gọi là université năm 1906 chỉ là vẽ trên giấy và thưc chất của nó lúc đó chỉ là Trường Y Dược, không thể nói là tiền thân của ĐHQGHN được.

    II. VỀ NĂM THÀNH LẬP ĐHQGHN

    • Nhà giáo Lê văn Giạng:

    >> ĐHQGHN thành lập năm 1956

    Khi ĐHQGHN tổ chức nghiên cứu về lịch sử của trường, có trưng cầu ý kiến một số người ngoài trường, trong đó có tôi. Sau khi tôi biết trong trường có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề ngày truyền thống của trường mà tiêu biểu là hai ý kiến hoặc chọn năm 1906 (xuất phát từ ĐHĐD), hoặc chọn 15/11/1945 (xuất phát từ lễ khai giảng vào ngày đó), nên tôi đã viết thư cho trường, ủng hộ ý kiến thứ hai, dựa vào tính chất bước ngoặt lớn lao của ngày đó và thấy không thể theo ý kiến thứ nhất.

    Rõ ràng là giữa 2 ý kíên đó, ý kiến thứ hai dễ được dư luận đồng tình hơn. Lúc đó cũng như mãi đên gần đây, tôi không được biết là bộ phận nghiên cứu của ĐHQGHN tìm được và sử dụng nghị định của Paul Beau để tác động lãnh đạo ĐHQGHN chọn theo phương án thứ nhất; nếu tôi biết thì tôi đã cung cấp những tư liệu cần thiết để ít nhất cũng làm cho bộ phận nghiên cứu phải thận trọng hơn, để kiểm tra lại độ tin cậy và giá trị cúa nghị đinh đó.

    Còn bây giờ thì tôi thấy phải dứt khoát hơn, tức là giải quyết như tôi đã đề nghị trong bài báo trước đây trên TS (tức là: ĐHQGHN đã được thành lập từ 1956, năm thành lập Đại học Tổng hợp Hà Nội).

    • GS TSKH Tống Duy Thanh(Nguyên Giáo sư ĐHTHHN và ĐHQGHN):

    >> Tôi tán thành đề xuất của bác Lê Văn Giạng.

    Trong bài viết nhằm phản bác ý kiến của Bác Lê Văn Giạng, TS PHT dẫn ra ý kiến của Phó Thủ tướng: “Đồng ý Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Trường Đại học Đông Dương – tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội”.

    Vậy là ý kiến của Chính phủ rất rõ ràng: 1) Đại học Đông Dương là tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội. Hai Đại học này không phải là một thực thể thống nhất. 2) Chính phủ đồng ý tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đại học Đông Dương (không phải là 100 năm ngày thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội như đã được tổ chức).

    Để giải thích cho việc không lấy ngày 10-12-1993 là ngày thành lập ĐHQGHN theo nghị định 97/CP của Chính phủ, TS PHT viết “…ĐHQGHN đã được Chính phủ thành lập (TDT gạch dưới) trên cơ sở sắp xếp và tổ chức lại một số trường đại học và viện nghiên cứu khoa học ở Hà Nội”, và viết tiếp “đây không phải là sự thành lập một thực thể hoàn toàn mới, mà là sự tái tổ chức những thực thể đã có từ trước”. Người đọc khó hiểu cách lập luận này, vì đầu tiên là “ĐHQGHN đã được Chính phủ thành lập ”, rồi sau đó lại “không phải là sự thành lập một thực thể hoàn toàn mới, mà là sự tái tổ chức những thực thể đã có từ trước”.


    Cuối bài viết phản bác ý kiến của Bác Giạng, TS PHT viết “việc ĐHQGHN thừa nhận ĐHĐD và Trường ĐHQGVN là những tiền thân của mình, tổ chức kỷ niêm 100 năm thành lập và 60 năm ngày truyền thống không chỉ có cơ sở khoa học chắc chắn, mà còn mang nhiều ý nghĩa sâu sắc”.

    Nhìn vào câu chữ xem ra chẳng có gì đáng phản bác. Vì:

    Thứ nhất, ĐHĐD và Trường ĐHQGVN là những tiền thân của ĐHQGHN thì dễ thống nhất ý kiến. Tuy vậy, ĐHĐD và ĐHQGHN không phải là cùng một thực thể, và kỷ niệm 100 năm thành lập vừa qua đáng lẽ ra là của ĐHĐD chứ không phải là của ĐHQGHN.

    Thứ hai, giá như vừa qua ĐHQGHN tổ chức “kỷ niệm 100 năm thành lập ĐHĐD và truyền thống Đại học ở ĐHQGHN” thì chắc cũng chẳng ai thắc mắc. Những người có hiểu biết về tính kế thừa trong văn hoá, khoa học thì ai lại thắc mắc chuyện đó. Nhưng điều đáng tiếc ở đây là ĐHQGHN lại đã lấy ngày thành lập Đại học Đông Dương (16-5-1906) làm mốc thời gian để kỷ niệm 100 năm ngày thành lập của mình. Như vậy là ĐHQGHN đã nhận nhầm ngày sinh của mình và như vậy cũng có nghĩa là nhầm cả người sinh thành ra mình.

    Chúng ta cùng suy nghĩ xem, với tính chất đa ngành, đa lĩnh vực như Đại học Quốc gia Hà Nội, ứng với University trong tiếng Anh hay Université trong tiếng Pháp (ta hãy tạm không nói đến việc hiện nay các trường Đại học chuyên ngành và kỹ thuật cũng tự gọi mình là University) thì đó chính là hình mẫu của Đại học Tổng hợp, nay được mở rộng và nâng cấp. Giá như những người hữu trách chịu khó nghiên cứu kỹ hơn khi trình việc thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội với tên gọi “Đại học Tổng hợp Quốc Gia Việt Nam” thì đã hay hơn nhiều.


    Tôi tán thành ý kiến của Bác Lê Văn Giạng, một cựu sinh viên vào đầu thập kỷ 40 của thế kỷ trước. Nhà nước Việt Nam có 2 văn bản chính thức liên quan với Đại học Quốc gia Hà Nội: i/ Nghị định thành lập ĐHTH HN (năm 1956), ii/ Nghị định về việc sát nhập 2 trường Đại học Sư phạm với trường Đại học Tổng hợp Hà Nội để thành Đại học Quốc gia Hà Nội (1993).


    Xét cả về mặt lịch sử và pháp lý cũng như về bản chất thì có thể coi Đại học Tổng hợp Hà Nội là tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội. Do đó chỉ nên chọn một trong hai “Giấy khai sinh” để dùng cho lý lịch Đại học Quốc gia Hà Nội – hoặc là mốc của Nghị đinh 1956 về thành lập ĐHTH HN (nếu muốn nhấn mạnh tính kế thừa), hoặc mốc của Nghị định 1993 về sát nhập 2 trường Đại học Sư phạm với trường Đại học Tổng hợp Hà Nội để thành Đại học Quốc gia Hà Nội (nếu muốn nhấn mạnh tính chất văn bản hành chính).

    • PV (Tổng hợp)
    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin ĐHQGHN nên chọn một trong hai giấy khai sinh

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết ĐHQGHN nên chọn một trong hai giấy khai sinh bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết DHQGHN nen chon mot trong hai giay khai sinh ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc ĐHQGHN nên chọn một trong hai giấy khai sinh ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Nhận Định của chuyên mục Xã Hội.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - XÃ HỘI - NHẬN ĐỊNH