206 ngày đêm khốn khổ

Thứ tư, 24 Tháng ba 2004, 23:31 GMT+7
  • 206 ngay dem khon kho
    Tác phẩm "Nhật ký-cuộc hành trình đau khổ"
    87 trang nhật ký trên giấy A4 là tâm sự của 17 con người sau 206 ngày gian nan nơi xứ lạ: không việc làm, không nhà ở, không lương bổng, có người bị đói khát, bị tù tội...

    Chúng tôi nhận được “tác phẩm” “Nhật ký - cuộc hành trình gian khổ Malaysia” với chữ ký cùng địa chỉ, số hộ chiếu của 17/61 lao động được Công ty Bitocimex (Công ty Thương mại xuất nhập khẩu du lịch Bình Phước - trực thuộc UBND tỉnh Bình Phước) đưa đi Malaysia ngày 21-8-2003 và về nước từ ngày 17-3-2004.

    87 trang nhật ký trên giấy A4 là tâm sự của 17 con người sau 206 ngày gian nan nơi xứ lạ: không việc làm, không nhà ở, không lương bổng, có người bị đói khát, bị tù tội... Giờ đây, những con người ấy dường như không dám nhìn thẳng mặt nhau bởi nỗi đau của những ngày cũ cứ ào tới... Nước mắt và sự thảng thốt vẫn còn hiện rõ trên từng khuôn mặt.

    206 ngay dem khon kho
    Nguyễn Văn Toàn (Trái)
    Johor ngày thứ nhất

    Họ đưa chúng tôi đến khu vực công trường bên cạnh khu rừng, nơi không có bóng dáng người dân, chỉ có ít người Indo đang làm việc tại đó.

    Đây gọi là Johor, 61 người chúng tôi được đổ xuống một căngtin chật hẹp, không có ông chủ, cũng không ai cho chúng tôi biết phải làm gì, ăn ở thế nào.

    Cả đoàn mang mì gói ra ăn, lượm các lon bia để nấu nước sôi. Sau ba ngày ăn ngủ tự túc, mỗi người được phát hai phần cơm/ngày, cả suất trưa và chiều dồn một.

    Cuộc sống kéo dài như thế. Chúng tôi thay phiên nhau “bán” cả thân mình cũng không đủ tiền ăn, mỗi ngày chỉ 10-15 người đi làm, công việc dọn vệ sinh công trình, làm côppha. Mới hay tất cả chúng tôi đã được hai ông bà người Tàu mua đi bán lại từ người khác như những món hàng.

    “Cả đời tôi chẳng biết đến một dòng nhật ký. Ngày dài nơi xứ lạ với bao sự cố bất ngờ, không hi vọng, tôi thay anh em viết lại cuộc hành trình để mong ngày trở về... làm kinh nghiệm cho những lao động khác” - Nguyễn Văn Toàn (xóm Vạn An, Vân Diên, Nam Đàn, Nghệ An) - tác giả cuốn nhật ký.

    Không có tiền ăn, chúng tôi phải lội suối đi vào rừng mò cua bắt cá, kiếm rau, xin đu đủ... ăn cho khỏi chết đói. Làm được một tháng tám ngày, không thấy lương bổng gì, cũng không biết ai là ông chủ. Có một ông đến đưa tám lao động đi, nói vào rừng làm lán trại rồi phát cây cao su.

    Có tám người đi, những người không đồng ý ở lại. Tám người vào rừng hôm trước thì hôm sau bị cảnh sát bắt sáu người vì không có giấy tờ tùy thân. Chu Văn Thiệp (Lâm Xuân, Nghĩa Hoàn,Tân Kỳ, Nghệ An) nằm trong số sáu người bị bắt, 19 ngày được chuộc ra khỏi tù. Còn những người khác được bán lại qua các ông chủ nhỏ, không biết số phận ra sao.

    Lao động tiếp tục bị bán tứ tán. Các ông chủ chặn xe chở lao động VN giành nhau người, tám người ở lại công trường cũ, 17 người chuyển đi gửi tạm ở một công ty môi giới. Chúng tôi cầu cứu các nơi nhưng đều tuyệt vọng.

    Kuala Lumpur ngày thứ 39

    Cuộc sống thật ảm đạm, không một ai giúp đỡ chúng tôi, cứ chuyển dời liên tục. Nhiều người kiệt sức, chúng tôi phải tự cứu mình. 12 người đi bộ 7km đến Ban quản lý lao động và chuyên gia tại Malaysia (ở Kuala Lumpur), đói và khát, ngủ tạm nơi vỉa hè.

    Không có giấy thông hành, chúng tôi mất cả quyền tự do đi lại, sống trong lo âu thấp thỏm.Từ người lao động hợp pháp, chúng tôi bị công ty biến thành những người bất hợp pháp.

    Quả thật, chúng tôi đang đứng trước cửa nhà giam. Nhưng chúng tôi không còn sự lựa chọn. Được ban quản lý can thiệp, đại diện công ty đến tách chúng tôi làm ba nhóm mang về khách sạn, bốn người được phát 25 ringgit (khoảng 100.000 đồng VN) ăn trong sáu ngày.

    Sau nhiều cuộc làm việc với đại diện công ty không thành, họ bắt chúng tôi làm đơn đề nghị xin về nước hoặc tiếp tục ở lại làm việc trong điều kiện khốn cùng như thế. Tất cả chúng tôi đều muốn về song không muốn ký vào đơn tự nguyện xin về.

    Điều đó sai sự thật vì mỗi người đến đây đã mất 25-28 triệu đồng/phí (tiền chính thức cho công ty là 1.150 USD và 1 triệu đồng). Chúng tôi muốn làm việc kiếm tiền, kiếm sống và trả những khoản nợ cho chuyến làm ăn xa này.


    Ngược lại, không có việc thì chúng tôi về, không phải tự nguyện xin về để công ty phủi bỏ mọi trách nhiệm sau đó. Căng thẳng từng ngày, đói ăn, những nét mặt xanh xao như không còn giọt máu.

    206 ngay dem khon kho
    17 lao động đang chờ đợi trước cửa công ty - Ảnh: N.B.
    Trại Kem Kjang... 864 giờ khắc khoải

    Ngày 25-10-2003, chúng tôi ngơ ngác khi bị cảnh sát bắt ngay trong khách sạn vì không có giấy tờ tùy thân. Thật là khủng khiếp! “Nhất nhật tại tù...”: bệnh tật, roi mây, giày đinh và đói khát, ngày được hai vắt cơm, sáng một lát bánh mì, điểm danh bốn tiếng/lần, bất kể ngày đêm. 1-12-2003, chỉ còn ít lâu là Tết Nguyên đán, công ty chuộc ra, đưa trở lại công trường, hứa giải quyết về trước tết, lại làm việc và sống cầm hơi như cũ.

    Ngày 2-1-2004, Hồ Văn Trương bị té lầu trong khi làm việc. Từ chiều đến 11 giờ đêm mới có y tá đến đưa đi bệnh viện. 12 người trong tù ra, số còn lại thất nghiệp không có tiền ăn, phải tự cứu nhau. Chủ công trường không nhận lại vì hết việc.

    Công ty không ai dòm ngó. Hồ Văn Trương không có tiền thanh toán viện phí không biết sẽ ra sao. Có bốn người may mắn được về hai ngày trước tết, số còn lại được đưa một ít tiền ăn và những lời hứa.

    Và ngày về

    Chiều 23-3-2004, trong khi những lao động đang chờ đợi ngoài hành lang tại chi nhánh của công ty ở TP.HCM, chúng tôi làm việc trực tiếp với đại diện Công ty Bitocimex.

    Giám đốc là ông Nguyễn Thọ Tuấn vắng mặt đã lâu vì lý do sức khỏe, ông Lê Tuấn Anh (phó giám đốc công ty) cùng người phụ trách mảng lao động trực tiếp xử lý việc này.

    Ông Tuấn Anh nói: “Lỗi không của riêng ai, đây là rủi ro trong làm ăn, công ty chỉ kiểm soát được một phần sự việc. Sự việc liên tục xảy ra khiến hai bên không có sự hợp tác, tin cậy..., mệt mỏi từ hai phía”.

    Không tiền bạc, sức khỏe vơi đi cùng cả số tư trang ít ỏi trên người cũng được đánh đổi lấy đồ dùng trong những ngày ở tù. Họ đếm từng ngày trôi đi trong gánh nặng tiền bạc.

    Riêng Hồ Văn Thông, số hộ chiếu AX 0134520, ở Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, ngày 21-3-2004 đã về đến TP.HCM sau cuộc hành trình ba ngày từ Malaysia qua Thái Lan, Campuchia và đến cửa khẩu An Giang.

    “Tôi không dám tin rằng mình còn sống bởi tất cả như là cơn ác mộng, hết đi từ nỗi sợ hãi này đến kinh hoàng khác. Cứ lấy chân đạp trên nền đất để biết rất thật rằng đây là VN”.

    Vì không nằm trong danh sách những người được công ty đưa về, khủng hoảng và kiệt sức, tôi cố bám theo đoàn thương lái 30 người, trà trộn và giả dạng người Campuchia, nhảy xe khách, đi bộ hàng chục kilômet, qua hàng rào cảnh sát các nước, may nhờ một người VN che chở đã đóng tiền để qua được các vòng.

    Đôi mắt thâm quầng và nước da xanh mét, Thông nói: “Dẫu sao chúng tôi cũng may mắn hơn những bạn bè khác hiện đang còn kẹt lại ở xứ người”.

    NGUYỄN BAY

    _________________________________________________________

    Tin bài liên quan:

    Khi người lao động từ chối xuất ngoại!

    Dừng đưa lao động sang Malaysia làm xây dựng

    Gần 1.000 lao động VN tại Malaysia đang gặp khó khăn

    Dừng đưa lao động sang Malaysia nếu không đủ việc làm

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Chủ đề liên quan: 206 ngày đêm khốn khổ

    Nhận xét tin 206 ngày đêm khốn khổ

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết 206 ngày đêm khốn khổ bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết 206 ngay dem khon kho ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc 206 ngày đêm khốn khổ ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Xã Hội của chuyên mục Xã Hội.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - XÃ HỘI - TIN XÃ HỘI