Wole Soyinka

Chủ nhật, 02 Tháng mười hai 2007, 22:39 GMT+7
  • Bằng cách nào chúng ta có thể khôi phục lại hoạt động của cái tế bào đã tê liệt nơi ẩn chứa sự lĩnh hội lịch sử và phát triển của lịch sử? Liệu những sự kiện, những cuộc hội họp kiểu thế này có thể giúp ích chăng? Liệu chúng ta có dám đủ ngạo mạn để nói với họ rằng: Nhìn cho kỹ đi, rồi đưa ra câu trả lời của quý vị.

    Wole Soyinka
    Wole Soyinka là nhà thơ Châu Phi đầu tiên được trao giải Nobel vì đã góp phần tạo dựng một nền nghệ thuật thơ ca và sân khấu có viễn cảnh văn hóa rộng lớn. Trong các vở kịch của mình, ông sử dụng rộng rãi và kết hợp khéo léo những kĩ thuật sân khấu đa dạng, mà trước hết là các truyền thống Châu Phi, nhơ vũ điệu nghi lễ, mặt nạ và các điệu bộ kịch câm, tiết tấu và âm nhạc.

    Wole Soyinka (tên thật là Akinwande Oluwole Soyinka) là con thứ hai trong số sáu người con của một thanh tra giáo dục, mẹ có cửa hàng buôn bán tại miền Tây Nigeria, lúc đó là thuộc địa của Anh. Ngay từ nhỏ, những phong tục, vũ điệu, truyền thuyết của bộ tộc đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí ông. Từ năm 1952, ông học văn học Anh, lịch sử, tiếng Hy Lạp tại trường Cao đẳng Ibadan, rồi tiếp tục học Anh văn tại Đại học Leeds.

    Năm 1958, W. Soyinka học sân khấu, làm diễn viên và viết kịch bản cho Nhà hát Hoàng gia London (các vở lớn đầu tiên là Cư dân đầm lầy, Sư tử và hạt ngọc). Năm 1960, ông được trao học bổng Rockefeller; sau đó ông quay trở về Nigeria học nghệ thuật kịch Châu Phi và giảng dạy tiếng Anh tại các trường Đại học Ibadan, Lagos và Ife; đồng thời viết kịch, làm đạo diễn, diễn viên. Từ năm 1960-1964, ông cùng một số người sáng lập tạp chí danh tiếngThiên thần đen (Black Orpheus). Năm 1965, ông xuất bản tiểu thuyết đầu tay không có cốt truyện, nội dung là cuộc trò chuyện giữa năm trí thức trẻ Nigeria vừa tốt nghiệp đại học ở nước ngoài có mong muốn phục vụ đất nước nhơng lại bị cản trở bởi quan điểm và tệ tham nhũng.

    Những năm 1967-1969, ông phải ngồi tù vì viết một bài báo kêu gọi chấm dứt nội chiến ở Nigeria. Trong thời gian này, ông viết tập Thơ trong tù (1969) (tái bản bổ sung năm 1972 với tên gọi Một chuyến đi trong hầm nhà thờ) và tiểu thuyết Người đã chết (1972). Năm 1973, ông nhận bằng tiến sĩ của Trường Đại học Leeds và trở thành giáo sư Văn học So sánh vào năm 1975.

    Năm 1986, W. Soyinka là nhà văn Châu Phi đầu tiên nhận giải Nobel vì có những đóng góp quan trọng cho nền sân khấu Châu Phi. Ông đã dành tặng bài diễn từ đọc tại lễ trao giải Nobel của mình cho vị lãnh tụ Nam Phi luôn đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Nelson Mandela.

    Năm 1993, chế độ độc tài quân sự lên nắm quyền, ông ra nước ngoài sinh sống. Trong tập truyện kí Mở ra nỗi đau của lục địa: một chứng kiến riêng tơ về cuộc khủng hoảng ở Nigeria viết năm 1996, ông đã ghi lại quá trình giành độc lập của Nigeria từ năm 1960 đến năm 1993. Năm 1997, sau các bài viết nói về cuộc phục hơng đất nước Nigeria, ông đã bị buộc tội "phản quốc". Tháng 6-1998, khi chính phủ mới lên thay, ông được hủy bỏ tội danh này. Năm 1999, W. Soyinka xuất bản Gánh nặng của trí nhớ: Nàng Thơ của lòng khoan thứ, kể về những tội ác đối với người Châu Phi và về sự khó khăn của việc hòa giải. Tập thơ về những năm tháng lưu vong của ông, Samarkand và các thị trường khác mà tôi biết, được xuất bản năm 2002.

    W. Soyinka là một trong những người xây dựng nền sân khấu dân tộc Nigeria độc lập và sáng lập đoàn kịch Mặt nạ 1960 (1960 Masks). Ông cũng là người không tán thành khuynh hướng négritude (“phận da đen”, đề cao các giá trị văn hóa da đen) của nhóm Senghor. Trong các vở kịch của mình ông thường kết hợp rất khéo léo các chi tiết Phương Tây với những yếu tố dân gian và tôn giáo. Ông biết tạo nên những đánh giá chính xác, phù hợp với tình trạng xã hội và quan niệm đạo đức của nhân vật, qua đó bày tỏ sự thất vọng của mình về sự lãnh đạo độc đoán và xã hội Nigeria nói chung.

    * Tác phẩm:

    Cư dân đầm lầy (The swamp dwellers, 1958), hài kịch.

    Sư tử và hạt ngọc (The lion and the jewel, 1959), hài kịch.

    Phát minh (The invention, 1959), kịch.

    Vụ xét xử anh em dòng họ Jero (The trial of brother Jero, 1960), hài kịch.

    Vũ khúc của rừng (A dance of the forest, 1960), kịch.

    Giống nòi khỏe mạnh (The strong breed, 1963), kịch.

    Con đường (The road, 1965), kịch.

    Thông dịch viên (The interpreters, 1965), tiểu thuyết.

    Mùa gặt ở Kongi (Kongi’s harvest, 1967), kịch.

    Idanre (1967), thơ.

    Thơ trong tù (Poems from prison, 1969), thơ.

    Những gã điên và bác sĩ (Madmen and specialist, 1970), tiểu thuyết.

    Một chuyến đi trong hầm nhà thờ (A shuttle in the crypt, 1972) là tên gọi khác trong lần tái bản năm 1972 của Thơ trong tù (Poems from prison, 1969), thơ.

    Người đã chết (The man died, 1972), nhật kí.

    Mùa Anomy (Season of Anomy, 1973), tiểu thuyết.

    Sự hóa thân của Jero (Jero’s metamorphosis, 1974), kịch.

    Bacchae (1974), kịch.

    Cái chết và kị sĩ của nhà vua (Death anh the King’s horseman, 1975), kịch.

    Thần thoại, văn chương, và thế giới Châu Phi (Myth, literature, and the African world, 1976), phê bình văn học.

    Vở opera Wonyosi (Opera Wonyosi, 1977, kịch).

    Ake: Những năm thơ ấu (Ake: The years of childhood, 1981), tự truyện.

    Isara (1989), tự truyện.

    Trò chơi của những người khổng lồ (A play of giants, 1984), kịch.

    Đất của Mandela (Mandela’s earth, 1988), thơ.

    Tín điều của tồn tại và hư vô (The credo of being and nothingness, 1991), tập tiểu luận.

    Từ Zia, với lòng yêu mến (From Zia, with love, 1992). kịch.

    Mở ra nỗi đau của lục địa: một chứng kiến riêng tư về cuộc khủng hoảng ở Nigeria (Open sore of continent: a personal narrative of the Nigeria crisis, 1996), tập truyện kí.

    Gánh nặng của trí nhớ: Nàng Thơ của lòng khoan thứ (The burden of memory, the Muse of forgiveness, 1999), thơ.

    Samarkand và các thị trường khác mà tôi biết (Samarkand and other markets I have known, 2002), thơ.

    © Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây

    Diễn từ Nobel

    Nhắc quá khứ là nói về hiện tại

    Một cảnh khá kỳ quặc, không có trong kịch bản, từng xảy ra sau cánh gà một rạp hát ở Luân Đôn cùng lúc với vở kịch theo lịch trình đang được diễn trên sân khấu thật trước mặt khán giả. Chuyện là như vầy: một nam diễn viên không chịu lên sân khấu diễn vai mình. Hành động kịch chựng lại. Một bạn diễn ra sức thuyết phục chàng diễn viên nọ ra sân khấu, nhưng anh này khăng khăng lắc đầu. Một cuộc giằng co xảy ra.

    Anh bạn diễn hy vọng rằng nếu bắt ngờ lôi được chàng diễn viên bất đắc dĩ kia ra trước công chúng dưới ánh đèn sân khấu chói chang, ắt hẳn anh ta sẽ không còn cách nào khác là phải diễn. Thế là anh ta thử thình lình lôi chàng diễn viên nọ về phía sân khấu để chàng kia bị bất ngờ. Nhưng anh không thành công, thế là bắt đầu một cuộc giằng co ngắn ngủi nhưng chướng mắt. Chàng diễn viên miễn cưỡng kia bị đẩy bật về phía sau và vô cùng bối rối, bởi một phần khán giả đã chứng kiến cảnh giằng co đó.

    Có thể giải thích rằng bản thân vở kịch này là một vở ứng diễn xung quanh một sự kiện. Nghĩa là, diễn viên được hoàn toàn tự do trong phạm vi quy ước của buổi diễn: họ có thể ngừng hoặc diễn lại bất kỳ màn nào họ muốn, mời một số khán giả lên sân khấu, cho khán giả đóng thử vai của mình và thay đổi trang phục ngay trước mắt khán giả. Do vậy họ cũng có thể biến thành hành động kịch ngay cả ý muốn buộc chàng diễn viên bất hợp tác kia phải tham gia - và họ làm điều đó một cách rất chi là thích thú.

    Thực ra, chàng diễn viên đó đã rời sân khấu trước khi cảnh lôi thôi đó diễn ra. Anh đã báo trước trong các buổi tập rằng sẽ không tham gia. Cuối cùng, anh đạt được điều mình muốn, nhưng chuyện xảy ra vẫn khiến anh ăn ngủ không yên suốt mấy tuần sau. Anh cảm thấy buộc phải giải đáp cho được mối xung đột quan điểm giữa bản thân anh với người biên kịch và các bạn diễn. Mặt khác, anh ngày càng phẫn nộ vì buộc phải trở thành bất lực khi đối diện trước thực tại trần trụi, buộc phải chường ra trước thiên hạ với vẻ xấu hổ rặt phường tuồng, dường như mình đã bị ức chế vì một thực tại tàn nhẫn hoặc có lẽ đã để cảm xúc của mình đối với một sự kiện đi quá xa đến mức gây trở ngại đến ý chí nghề nghiệp của anh.

    Dĩ nhiên, anh biết đây là một việc hoàn toàn khác. Sự thật đơn giản hơn thế nhiều. Khác với các đồng nghiệp mà nhất định có cùng quan điểm chính trị với anh về sự kiện được tái hiện, anh nhận thấy kiểu diễn này đối nghịch với cái ác mà nó đang ra sức chuyển tải, tạo nên cảm giác bất an khi thấy chính anh cũng hiện diện trên sàn diễn kia, trước một công chúng mà anh cho rằng chính họ phải chịu trách nhiệm tập thể về cái thực tại phi nhân đó.

    Bây giờ chúng ta hãy cùng khám phá vài bí mật và làm sáng tỏ hơn cái vụ việc này. Bối cảnh là nhà hát hoàng gia Luân Đôn, năm 1958. Đêm đó là một trong những đêm chủ nhật dành cho sân khấu thể nghiệm, một sự cách tân của George Devine vị giám đốc lừng danh của nhà hát, người hỗ trợ cho sáng tạo và do đó làm thay đổi triệt để nền sân khấu Anh thời đó và sau này, tạo ra những nhân vật lẫy lừng như John Osborne, N.F.Simpson, Edward Bond, Arnold Wesker, Harold Pinter, John Arden v.v., thậm chí đã buộc khẩu vị bảo thủ kiểu Anh thời đó phải nếm thử mùi những tác giả bị xã hội hắt hủi vì phong cách và tư tưởng như Samuel Beckett và Bertold Brecht.

    Tối hôm đó, sàn diễn được dành cho một kiểu nhà hát “sống”, vé vào cửa được ghi tiêu đề “Mười một người chết tại Hola”. Tham gia vở diễn không phải đều là diễn viên chuyên nghiệp, thực chất, phần lớn diễn viên là các nhà văn cùng sáng tác và trình diễn các màn kịch này. Những ai có hồi ức chính trị tốt có thể nhớ lại những gì đã diễn ra tại khu trại tập trung Hola ở Kenya trong cuộc đấu tranh giành tự do của người Mau-Mau. Chính quyền thuộc địa Anh cho rằng người Mau-Mau có thể đã bị người Kenya dẹp tan và dồn vào những trại tập trung đặc biệt nhằm tách riêng những kẻ cứng đầu cứng cổ, những kẻ chỉ bị tình nghi và những tên có thể chỉ là lính mới - ồ, họ đã làm việc đó rất gọn gàng chóng vánh. Một trong những khu trại như vậy có tên là trại Hola, và sự kiện này có liên quan đến cái chết của mười một tù nhân bị các sĩ quan và lính gác đánh đến chết. Người ta tổ chức điều tra theo thông lệ, và bản báo cáo về vụ việc này là văn bản chính mà vở diễn dựa vào làm nền.

    Bây giờ chúng ta chỉ cần xác định anh chàng diễn viên bất đẵc dĩ kia là ai nếu như đến giờ các vị vẫn chưa đoán ra - không ai khác ngoài chính người đang nói với các vị đây. Tôi hồi tưởng lại câu chuyện đó một cách sống động như các diễn viên thường hồi tưởng lại hoài hoài cái khoảnh khắc đáng sợ khi sân khấu tắt đèn đổi cảnh, khi người ta quên không chỉ những dòng thoại mà ngay cả cái khoảnh khắc trong vở kịch.

    TôI được phân vai lính gác, một trong những kẻ giết người. Chúng tôi được trang bị những cây gậy tuần đêm to tướng và, trong khi người dẫn chuyện đọc to lời chứng của một trong các lính gác thì nhiệm vụ của chúng tôi là từ từ giơ dùi cui lên, gần như theo một nghi thức, giáng xuống cổ, xuống lưng những người tù theo lệnh các sĩ quan chỉ huy da trắng. Một cảnh tượng không thể tin được [i] . Thậm chí trong khi diễn tập, kết quả sau cùng hiển nhiên sẽ là một bức tranh siêu thực. Người đọc lời chứng đứng yên một chỗ trên bục, đọc với giọng bình thản, cố ý tỏ ra vô cảm, để những sự thật trần trụi đó phơi bày tâm trạng của cả nạn nhân lẫn kẻ hành hình. Một nhóm sĩ quan chỉ huy da trắng trang bị vũ khí đứng vây quanh.

    Một kẻ giằng lấy dùi cui của một lính gác để hướng dẫn cách đánh nạn nhân mà không lưu lại dấu vết. Thế rồi đến nhóm tù ở trong cùng - vũ khí duy nhất của họ là bất bạo động. Họ quyết định đình công, không đi làm việc chừng nào chưa được đối xử tử tế hơn. Họ nằm bẹp xuống đất không nhúc nhích, ghì chặt hai tay sau đầu gối, âm thầm thách thức. Mệnh lệnh được ban ra. Vòng vây lính gác phía trong, người da đen, tiến vào nhấc bổng những người tù bằng cách vòng tay xuống dưới nách, cứ thế lôi xềnh xệch họ đi như những con nhái hóa đá sang một phía, chia họ thành từng nhóm một.

    Vẻ mặt các nạn nhân không nao núng, họ kiên quyết không kháng cự. Trận đòn bắt đầu: tiếng nện huỳnh huỵch nổi lên, xuống bên trái, xuống lưng, cánh tay, bên phải rồi bên trái, đằng trước, đằng sau. Một cách nhịp nhàng. Những cái dùi cui nhún nhảy đồng điệu. Nét mặt những tên lính gác da trắng ánh lên vẻ thỏa mãn nghề nghiệp, thỉnh thoảng tay chúng ra hiệu một cách uể oải, nhắc đã đến lúc phải thay tốp lính khác, hoặc phải đánh dữ hơn về phía này hay phía kia. Nói một cách hình tượng thì cảnh này thật sống động, gần như một vở múa balê.

    Thế rồi chúng tôi diễn những tù nhân đó đã chết như thế nào theo cách giải thích chính thức ban đầu, một giải thích trái ngược hẳn. Báo cáo nói rằng các tù nhân đó đã gục ngã, rằng họ đã chết sau khi uống phải nguồn nước bị nhiễm độc. Thế là chúng tôi cũng diễn đúng như vậy. Các tù nhân tìm thấy một xe chở nước giữa lúc đang sắp chết khát. Sau khi một, hai rồi ba người uống thử, họ bắt đầu quằn quại vì đau đớn, thấy vậy một số lính gác tốt bụng vội ngăn những người khác lại nhưng không được, tất cả bọn họ đã hóa dại vì khát, chen lấn nhau vượt qua hàng rào bảo vệ để dốc ừng ực thứ nước đó. Tiếng rống lan từ người này sang người khác, họ quằn quại vật vã, ngã gục xuống, chết đầy đau đớn. Đó là lời thuật của giám đốc trại.

    Chủ đề khá đơn giản, hình thức sân khấu là thể nghiệm, trung thành với một quy ước nhất định. Thế thì vấn đề ở đây là gì? Theo tôi, đó là một vấn đề đã tác động đến phần lớn các nhà văn. Khi nào thì hành động diễn kịch bị thực tại lên án? Khi nào thì hư cấu trở nên quá trớn? Điều gì xảy ra sau hành động diễn? Một đặc tính nổi bật của cái quy ước diễn kịch cụ thể như tôi vừa mô tả, ấy là nó phả ra cái mùi gay gắt của sự lặp lại vĩnh cửu, cái cảm giác “Tôi đã từng ở đây rồi”, “Tôi đã từng chứng kiến sự việc này”.

    “Quá khứ đang diễn bày sự hiện diện của nó”. Trong trường hợp như vậy, cái cảm giác về sự lặp lại vĩnh cửu đó vừa có thể là một thứ phù phép, bằng chứng của sự giải thoát, hay - đặc biệt là với khán giả - vừa có thể là một thứ gây buồn ngủ. Chúng ta phải nhớ rằng, vào thời điểm công diễn vở kịch đó, đối với phần lớn khán giả, mỗi cái chết của những người đấu tranh vì tự do kia là một vết khía trên nòng súng, cái chết của một kẻ hung ác, một con vật, một thứ quái thai, chứ không phải sự tuẫn tiết của một người ái quốc.

    Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng những nỗ lực như vậy có thể kích thích sự thay đổi, rằng việc biến những chú giải thuần túy mang tính báo chí hay thống kê thành thực tại có thể khơi dậy sự phản tỉnh ở những cái đầu tự mãn, dẫn đến sự khởi đầu một quyết tâm thay đổi, sửa chữa. Nhân sự kiện này, nhiều câu hỏi bức bối đã được nêu ra trong Thượng viện. Người theo chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa cải lương, tất cả đều lên tiếng đòi công lý cho các nạn nhân. Một số người thậm chí đã đến Kenya để thu thập các tình tiết nhằm vạch trần sự dối trá của chính phủ. Vì vậy, nỗi bất an sâu xa đó, vốn từng làm tê liệt ý chí sáng tạo của tôi, đã vượt xa ngoài đám khán giả ngồi kia, và cuối cùng tôi đã lần ra gốc rễ của nó, ấy là cảm giác của chính tôi về lòng nhân đạo bị tổn thương, nó gào thét đòi một cách phản ứng khác.

    Nó gợi lên cảm giác khiếm nhã trước trò diễn đó, có phần giống như cánh tay biến dạng của người hủi thò ra trước mũi người lành lặn để cầu xin lòng trắc ẩn. Tôi nghĩ rằng đây là căn nguyên của cái điều không thể nắm bắt được kia, nhưng sự cự tuyệt hoàn toàn theo bản năng vốn ngăn trở những đòi hỏi nghề nghiệp của tôi đã khiến điều đó trở nên bất hợp và nhạo báng sự đồng cảm của các đồng nghiệp tôi. Dường như cái tổng thể vô nhân kia, mà cái vở diễn này chỉ là một mảnh nhỏ của nó, đang nói với chúng ta: Làm ơn hãy giữ tính đa cảm kia cho riêng quý vị mà thôi.

    Tất nhiên, tôi sử dụng tình tiết đó chỉ để minh họa cái quá trình nội tại sâu xa hơn nhiều của tâm thức sáng tạo, một quá trình gây nguy hiểm cho nhà văn theo hai cách: hoặc anh ta bị tê liệt hoàn toàn, hoặc anh ta phải từ bỏ nghề viết để chọn những phương tiện khác trực tiếp hơn để chiến đấu với cái thực tại không thể chấp nhận. Và một lần nữa, trại Hola là một phương thức tiếp cận phù hợp với phương diện đó của thực tại châu lục tôi, cái thực tại mà đối với chúng tôi, những kẻ bị nó trực tiếp sỉ nhục, là mối đe dọa lớn nhất đối với hòa bình toàn cầu. Bởi có một sự trùng hợp khủng khiếp trong việc một người Châu Phi, một người da đen ngày hôm nay đang đứng đây, vào cùng cái năm đã xảy ra vụ ám sát vị thủ tướng cấp tiến của nước chủ nhà, cũng năm này Samora Machel [ii] đã bị giết hại trên lãnh thổ của những kẻ cố sống cố chết bảo vệ đến cùng học thuyết thượng đẳng chủng tộc, cái học thuyết đã đem đến quá nhiều bất hạnh cho nhân loại.

    Dù sự thực về cái chết của Olof Palme [iii] là gì đi nữa, không thể có nghi vấn nào về cuộc đời ông. Về nạn áp bức chủng tộc đang đè nặng lên một phần lớn nhân loại, Olof Palme đã tuyên bố, đã hành động và trả lời dứt khoát: Không! Có lẽ chính những kẻ cảm thấy phẫn nộ bởi hành vi “phản bội” chủng tộc này của Palme là những kẻ đui mù đến mức tưởng rằng cái chết của một cá nhân sẽ ngăn được tiến trình đi lên của những niềm xác tín của người đó; có lẽ đó chỉ là thêm một ví dụ về cái Bệnh dịch Kinh hoàng ngày nay, cái bệnh dịch được nuôi dưỡng bằng sự va chạm chứ không phải bằng lý trí. Điều đó chẳng hề gì; lương tâm đích thực của người da trắng đã bị bịt miệng, và sự mất mát là của quý vị lẫn của tôi, của tất cả chúng ta. Samora Machel, nhà lãnh đạo từng đặt đất nước mình vào vị thế đối đầu với Nam Phi, bị chết vì tai nạn máy bay trong những tình huống đến nay còn nhiều uẩn khúc.

    Quả thực, tất cả chúng ta vẫn còn bị ám ảnh bởi hiệp định Nkomati [iv] , cái hiệp định đã phủ nhận khoảnh khắc chiến thắng ban đầu trước ý chí chung của người Phi; tuy nhiên, kẻ thù ở bên kia biên giới nước ông hoàn toàn có lý do để vui mừng vì sự ra đi của ông, và theo nghĩa đó, cái chết của ông, thật mỉa mai, lại là một hình thức chiến thắng của chủng tộc da đen.

    Có lẽ điều đó quá đỗi ngược đời chăng? Hãy để tôi dẫn quý vị trở lại trại Hola. Đó là bầy thú cần phải trị bằng gậy, bằng roi. Cũng như ngựa, dê, lừa, v.v. thôi. Bởi vậy, định nghĩa về chúng hàm ý rằng đôi khi chúng có thể bị đánh đến chết. Nếu 30 năm sau sự việc ở trại Hola, chúng ta có thể nào nghĩ đến cái tài khéo của sự nhiễu điện từ tinh vi nhất dùng để giết chết một nhà kháng chiến châu Phi, thì những kẻ vô địch của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã tự thừa nhận với chính mình điều mà họ không ngừng phủ nhận với thế giới: rằng họ, những kẻ thuộc nòi da trắng thượng đẳng, đã tiến được khá xa trong việc định nghĩa kẻ thù đã chọn của mình kể từ vụ trại Hola.

    Họ đã tiến xa đến khó tin kể từ vụ Sharpeville khi họ bắn vào sau lưng những người châu Phi không có khí giới đang chạy trốn. Họ đã tiến rất xa kể từ năm 1930, từ vụ đốt giấy thông hành [v] có tổ chức đầu tiên, khi người Nam Phi da đen quyết định đổi ngày Dingaan - cái tên đặt cho cuộc bại trận của người lãnh đạo quân Zulu Dingaan - thành biểu tượng phản kháng bằng cách công khai đốt những tờ giấy thông hành đáng tởm mà họ buộc phải sử dụng. Để đáp lại hàng ngàn tấm giấy thông hành bị đốt ở Cartright Flats, Cảnh sát Durban đã bất ngờ tấn công những người biểu tình tay không, giết 6 người và làm bị thương hàng trăm người. Họ yểm trợ cho hành động đó bằng chiến dịch đốt sạch, phá sạch khiến hàng ngàn người Châu Phi phải ly tán khỏi môi trường sống của họ, phải lâm vào cảnh tù đày.

    Và ngay cả cuộc đàn áp năm 1930 đó cũng là một bước nhảy vọt từ cuộc đấu tranh tự phát buổi đầu chống lại Bộ luật Native Pass [vi] năm 1919 khi cảnh sát phi ngựa đuổi theo đám người biểu tình, xông vào quất họ túi bụi bằng roi da tê giác, săn đuổi và càn quét họ như bầy dê lạc đường và đàn thú cứng đầu, từ góc phố này đến lều lán nọ. Mỗi hành vi khủng bố chủng tộc, với sự tinh vi ngày càng tăng về cách thức và ngày càng tăng sự mất tính người, nó chính là sự thừa nhận rằng người ta đã biết nhiều hơn và biết kính sợ hơn trước tiềm năng của cái người ta sợ, thừa nhận cái nhịp độ ngày càng tăng của chiến thắng bằng cái giá những kẻ bị biến thành vật hy sinh.

    Bởi có một khía cạnh này làm tôi chấn động mạnh mẽ nhất trong cái nỗ lực nhằm tái hiện tội ác đã xảy ra ở trại Hola. Khía cạnh này nổi bật qua những lời khai của các sĩ quan da trắng, dù người ta nhắc tới công khai hay đơn giản chỉ bằng việc họ không tham gia vào vụ thảm sát đang diễn ra. Khía cạnh ấy là đây: chưa có một lúc nào những người chứng kiến da trắng này thực sự cảm thấy nạn nhân của mình là những “kẻ khác”, những người khác. Rõ ràng họ không hề cảm thấy cái thực tại rằng các nạn nhân kia cũng là con người. Là những con thú thì có thể, hay một dạng đời sống thực vật độc hại nào đó, nhưng nhất định không phải là con người. ở đây tôi không nói đến các lãnh chúa thực dân, những kẻ đã thiết lập và duy trì chính sách thực dân, những người đã phân phát súng Măcxim và cất lên giọng kèn đế quốc.

    Họ biết rất rõ rằng các đế quốc đang tồn tại sẽ tan vỡ, rằng các nền văn minh đã tồn tạ nhiều thế kỷ rồi sẽ có lúc bị tiêu diệt. Sự hạ thấp [nạn nhân] xuống [một loài] dưới mức người mà đối với nó “sứ mệnh truyền bá văn minh” của họ trở thành một phương thuốc đầy vị tha, ấy chỉ là lớp đường nhằm hợp lý hóa phủ lên mặt chiêc bánh của lòng tham đế quốc. Nhưng quả thực cũng có những tay sai, những kẻ chỉ biết làm theo mệnh lệnh (như Eichmann, để có cái so sánh từ phía lục địa của người da trắng) họ - dù đấy là các quan chức, kỹ thuật viên hay giám đốc trại giam – họ đều không có vùng tư duy nào trong đầu để có thể chứa cái ý nghĩ "người da đen cũng là con người" - trừ những trường hợp rất hiếm hoi và khác thường. Cũng chính xác nếu nói rằng điều này vẫn còn là bệnh của những người Nam Phi da trắng bình thường kể từ cuối thế kỷ trước cho đến nay. Sau đây là một thí dụ về lời thú nhận chân thật của một người đã được khai sáng, thậm chí là một đầu óc cấp tiến của quốc gia đó:

    "Mãi đến năm học cuối tôi mới nhận ra rằng những người da đen đó, cái số đông bị tước quyền bầu cử đó, dù thế nào đi nữa cũng có mối quan tâm đến cái chủ nghĩa xã hội mà tôi đang truyền bá, rằng họ cũng có một vai trò trong cuộc cách mạng xã hội vĩ đại dường như sắp sửa xảy ra trong những ngày này. Cái khái niệm "Công nhân", những kẻ được coi là sẽ thừa hưởng thế giới mới, hiển nhiên chỉ có thể là những thợ xây, thợ mộc, thợ mỏ và lái xe điện người da trắng được tổ chức thành công đoàn và bầu cho Đảng Lao động.

    Tôi chẳng bao giờ có ý định thảo luận về chính trị với một thanh niên người địa phương, có chăng chỉ mời anh ta đến nhà tôi chơi, dùng bữa hoặc rủ anh ta tham gia câu lạc bộ bóng đá Carnarvon. Người châu Phi thuộc về một bình diện khác, khó lòng là con người, mà chỉ là một phần của cảnh quan, cũng như lũ chó, cây cối và xa hơn nữa là những con bò. Tôi không có ấn tượng đặc biệt nào về anh ta, không quan tâm, không yêu cũng chẳng ghét. Anh ta chỉ không hiện diện trong bức tranh xã hội của tôi. Thế là tôi đã hoàn toàn thừa nhận quan điểm truyền thống của thời đại".

    Vâng, tôi tin rằng theo sự tự phân tích chính mình trên đây của Eddie Roux, nhà khoa học và chính trị gia đối lập người Nam Phi da trắng này, đến nay vẫn là sự thật trần trụi, thẳng thừng đối với đa số người Nam Phi da trắng. “Không có cảm tình đặc biệt, không quan tâm, không yêu cũng chẳng ghét” là kết quả của việc hoàn toàn thừa nhận những “quan điểm truyền thống”. Thông điệp nêu trên nắm bắt cái gọi là não trạng phân biệt chủng tộc bẩm sinh [vii] vào thập kỷ đầu của thế kỷ này, khoảng thời gian mà nói ngắn gọn là khi các giải thưởng Nobel được trao lần đầu tiên. Nhưng một phiến đá, dù sạch đến thế nào, cũng không tránh khỏi bị hằn dấu khi bị phơi bày ra không khí, dù trong lành hay ô nhiễm.

    Và nay chúng ta đang sống ở năm 1986, nghĩa là sau tròn một thế kỷ phơi bày trực tiếp, sát sạt kể từ cuộc chạm trán ấy, sự phản kháng đầu tiên đối với cái chiêu bài hạ thấp con người ngầm ẩn trong các điều luật Native Pass. Eddie Roux, cũng như hàng trăm, thậm chí hàng ngàn đồng hương của ông, tiến bộ rất nhanh. Nòi giống của ông đã sản sinh ra vô số kẻ tử vì đạo trong sự nghiệp đấu tranh vì sự xóa bỏ phân biệt chủng tộc - chúng ta còn nhớ với một chút đau lòng về Ruth First, người đã bị một quả bom thư của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc giết chết. Còn những người khác như André Brink, Abram Fischer, Helen Suzman, Breyten Breytenbach với những vết sẹo tuẫn tiết vẫn đang cháy bỏng tận trong linh hồn họ. Các trí thức, nhà văn, nhà khoa học, người lao động đơn thuần hay chính khách, tất cả đều đi đến chỗ hiểu rằng không thể tiếp tục săm soi cái thực tại xã hội này như một thứ văn hóa dưới kính hiển vi, cũng không thể biến nó thành những biến thể thẩm mỹ trên giấy, vải hoặc trên sàn diễn.

    Tất nhiên, người da đen bị trói buộc vào một điều kiện rất rõ ràng: ở đây tôi không cần nói với chúng tôi [viii] . Chúng tôi biết, và chúng tôi chấp nhận sứ mệnh của mình. Chính những kẻ khác kia mới là đối tượng mà cái tiền lệ này [ix] nắm lấy cơ hội để nói với họ, không chỉ những kẻ bị kẹt trong cái trại đáng nguyền rủa kia mà cả những người sống ở bên ngoài nó, bên lề của lương tâm. Đặc biệt là những kẻ kia, những kẻ trơ trẽn bịa ra những cái cớ đạo đức cũ rích nhằm biện hộ cho sự ù lì của mình bằng thứ ngôn ngữ chính trị rỗng tuếch chưa từng có: “Về phần mình, tôi thấy hình phạt đó thật đáng ghê tởm về đạo đức”. Hoặc chúng tôi sẽ nói gì về một vị lãnh đạo khác mà những trừng phạt kinh tế của ông ta có hiệu lực chống lại một nước Đông Âu nhưng lại không động chạm gì đến lãnh thổ phân biệt chủng tộc Nam Phi, cái bậc thầy đạo đức giả đã hát trên làn sóng radio thế giới rằng: “Hãy để Ba Lan được yên”, nhưng lại bịt tai khi thế giới thét lên: “Hãy để Nicaragua được yên”. Đã quá đủ cho các lãnh đạo thế giới nói lời nước đôi và trưng ra những thứ đạo đức hai mặt.

    Sẽ rất khó cho bất cứ đầu óc nào vờ vịt tỏ ra có một chút mảy may lý trí, thật sự là khó, khó đến khủng khiếp. Liệu cũng một cái mảnh đất đồng hóa hiện tượng đó - cái mảnh đất đã cho bằng chứng về khả năng chuyển hóa những quan sát dựa trên kinh nghiệm thành những ngụ ý về hành vi đạo đức hợp lý -, liệu cũng một mảnh đất đó, mảnh đất mà hơn nửa thế kỷ trước, trọn 50 năm trước, hai hoặc ba thế hệ trước đã sản sinh ra Bunting, Roux, Douglas Woltons, Solly Book, Gideon Bothas, liệu cũng một mảnh đất đó, năm mươi, sáu mươi thậm chí bảy mươi năm sau lại là nơi sinh sống của một giống người phi lịch sử [x] đến độ bản tuyên ngôn đã được cất lên rành rọt đến nhường đó vào năm 1919 tại cuộc biểu tình đốt giấy thông hành nay chỉ còn là một sự kiện, phiền toái thì phiền toái thật, song không có ý nghĩa lâu dài?

    Một vài loài sâu bọ lại giống đang hoành hành ở đây, thách thức mọi lý giải khoa học, một sự dừng trong thời gian trong mệnh lệnh tiến hóa của tự nhiên, đặt nghi vấn về toàn bộ kinh nghiệm hiểu biết của loài người! Lúc đó chúng ta phải tự hỏi: sự kiện nào có thể nói về một giống người như vậy? Bằng cách nào chúng ta có thể khôi phục lại hoạt động của cái tế bào đã tê liệt nơi ẩn chứa sự lĩnh hội lịch sử và phát triển của lịch sử? Liệu những sự kiện, những cuộc hội họp kiểu thế này có thể giúp ích chăng? Liệu chúng ta có dám đủ ngạo mạn để nói với họ rằng: Nhìn cho kỹ đi, rồi đưa ra câu trả lời của quý vị.

    Trong nỗi khao khát chứng minh rằng cái khoảnh khắc này là không thể, quý vị đã giết, làm thương tật, làm câm miệng, hành hạ, đày ải, hạ nhục, làm mất phẩm giá con người hàng trăm nghìn kẻ được bao bọc trong chính làn da này, mang trên đầu mái tóc này, mãn nguyện một cách tự hào về chính bản thể họ? Bao nhiêu nhân vật lỗi lạc trong ngành ghép tim đã bị quý vị bỏ phí? Làm sao chúng ta biết được có bao nhiêu nhà văn, nhà khoa học người Nam Phi da đen lẽ ra đã có mặt nơi đây, vào lúc này, giá như quý vị đã có đủ tầm nhìn để giáo dục cho phần còn lại của thế giới về những giá trị của một xã hội rộng lớn đa chủng tộc.

    Chắc hẳn Jack Cope đã tổng kết điều này trong lời giới thiệu về THE ADVERSARY WITHIN, một công trình nghiên cứu về sự bất đồng quan điểm về văn chương của người Nam Phi gốc Âu, ông viết:

    Nhìn lại quá khứ từ viễn cảnh hiện tại, tôi nghĩ chúng ta có thể nói một cách thích đáng rằng, trong cốt lõi vấn đề, các lãnh đạo Nam Phi gốc Âu năm 1924 đã có một bước ngoặt sai lầm. Bản thân họ từng là nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc trong phương diện xấu xa nhất của nó, thế nhưng tất cả những thống khổ và mất mát to lớn trong đời họ lại không thể dạy cho họ bài học lịch sử hiển nhiên. Để rồi chính họ lại trở thành những tên đế quốc mới. Họ thừa kế từ nước Anh cái áo khoác của nước đế quốc và chủ nghĩa thực dân.

    Lẽ ra họ đã có khả năng đương đầu với sự thôn tính, xâm lược, bóc lột thuộc địa, đàn áp, thói kiêu căng chủng tộc và đạo đức giả trơ tráo, những thứ mà bản thân họ từng là nạn nhân. Lẽ ra họ đã có thể cởi mở tiếp nhận những ý tưởng nhân đạo và quá trình văn minh hóa để biến một cường quốc với những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô tận thành một Thế Giới Mới khác. Thay vì thế, họ lại cố ý vặn ngược đồng hồ càng xa càng tốt. Tiếp quản mười triệu thần dân bản xứ từ chế độ thực dân Anh, họ tước bỏ những quyền ít ỏi mà đám thần dân này đã có được trong hơn một thế kỷ qua và siết chặt đai ốc để buộc đám dân này phải khuất phục.

    Có thể những cuộc chiến tranh chống Chaka, Dingaan và Diginswayo thậm chí Cuộc di cư lớn (Great Trek) vẫn còn quá sống sít trong ký ức quý vị về thời cha ông quý vị phải chiến đấu để sinh tồn [xi] . Nhưng chúng tôi đang nói rằng đã hơn một thế kỷ trôi qua từ đó, một thế kỷ mà thế giới đã có bước nhảy vọt ít nhất là ba thế kỷ so với nhịp tiến trong quá khứ. Chúng ta từng được chứng kiến tiềm năng của những con người nam nữ thuộc mọi chủng tộc đấu tranh với cái chủ quyền đối với Thiên nhiên và Vũ trụ được [người ta] khư khư bảo vệ.

    Trong mọi lĩnh vực, cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn, chúng ta đã thấy sức sáng tạo của con người trong việc đối đầu và kiềm chế sự thù địch của môi trường xung quanh, thích nghi, điều hòa, chuyển hóa, hòa hợp và thậm chí chinh phục nó. Chiến thắng nhữhg lỗi lầm và giành lại những lĩnh vực từng phải từ bỏ, khi con người có thời gian để liếm những vết thương của mình và lại lắng nghe lời thúc giục của linh hồn mình. Cách diễn đạt xuyên tạc, cơ hội về lịch sử đã bị loại bỏ và phục hồi trở lại tính xác thực của thực tại, bởi vì những kẻ chuyên bịa đặt lịch sử của người khác đã khám phá ra rằng họ càng tiến xa thì sự tiến bộ của chính họ càng bị soi xét và vô hiệu hóa bởi những khiếm khuyết mà họ cố tình nhét vào trong lịch sử của kẻ khác.

    Sự tư lợi buộc phải có thêm một vòng duyệt xét - thoạt đầu là những sự nhượng bộ dè dặt, không đáng kể. Nhưng một lỗ thủng đã được phá ra trong đê, và một cơn lũ ồ ạt tháo ra cho thấy tiến trình đó hợp với logic. Giữa lòng rừng già nhiệt đới, ngay cả trước khi có sự hỗ trợ của máy ảnh chính xác cao gắn trên vệ tinh quan sát quỹ đạo, các nền văn minh đã hồi sinh, chứng minh sự tồn tại của mình bằng một thứ ngôn ngữ biểu tượng và nghệ thuật không thể bác bỏ. Đáng ngạc nhiên hơn nữa vẫn là những ghi chép của các nhà du hành cổ đại, những nhà buôn ưa mạo hiểm vào cái thời châu Âu chưa có nhu cầu thống trị các lãnh thổ khác để nuôi sống các nhà máy công nghiệp của mình - lời kể khách quan của các thủy thủ và nhà thám hiểm thời xưa xác nhận những gì mà các di vật khảo cổ còn lại đến nay là lời khẳng định hùng hồn.

    Những di vật đó nói về các cộng đồng sống động tự làm chủ cuộc sống của mình, đã phát triển một mối quan hệ đầy hiệu quả với Tự nhiên, chăm lo đến những nhu cầu của mình và bảo đảm tương lai của mình bằng tài năng của chính mình. Những câu chuyện này – những câu chuyện bị đơn giản hóa bởi những động cơ đen tối nhằm huyền thoại hóa hành động của những kẻ chỉ biết vì mình mà hối hả triệt phá những xã hội độc lập để dễ bề cưỡng đoạt - chĩa tay buộc tội một cách không nhầm lẫn vào các nhà bác học, nhà triết học, nhà khoa học châu Âu, vào các lý thuyết gia châu Âu về sự tiến hóa của loài người. Gobineau là một cái tên khét tiếng, nhưng ngày nay có bao nhiêu môn đồ của tư tưởng Âu châu, trong đó có cả người Phi chúng tôi, có nhớ được rằng ngay cả những tên tuổi đáng kính nhất trong triết học Âu châu - Hegel, Locke, Montesquieu, Hume, Voltaire, một danh sách dài vô tận - đều là những lý luận gia dày dạn của lý thuyết thượng đẳng chủng tộc, là những kẻ phỉ báng con nguời và lịch sử châu Phi. Còn về các tên tuổi lỗi lạc hơn trong số các nhà lý luận cách mạng và đấu tranh giai cấp, chúng ta sẽ kéo màn nhằm giảm bớt phần nào cái tội lầm lạc trí tuệ của họ, tha thứ chút ít cho họ vì họ vẫn nuôi ảo tưởng về sự cáo chung của tình trạng người bóc lột người.


    Trong bất kỳ trường hợp nào, mục đích thực ra không phải để buộc tội quá khứ mà là gợi lại nó để nói với một thực tại lỗi thời và đang tự sát. Để nói với cái thực tại quái thai đó rằng: mi chỉ là một đứa trẻ đang sống trong những thế kỷ đầy lừa lọc, dối trá và chủ nghĩa cơ hội đang ngự trị, thậm chí ở cả bậc thiêng thiêng nhất trong các bậc thiêng thiêng của sự khách quan tri thức. Nhưng thế giới đang lớn mạnh không ngừng, trong khi mi cứ khăng khăng mãi là một đứa trẻ, bướng bỉnh, tự hủy diệt mình, có chút quyền năng hủy diệt nào đó, nhưng chỉ là một đứa trẻ. Và để nói với thế giới, để lưu ý thế giới về những đoạn lịch sử bịa đặt của chính nó - những đoạn sử bịa đặt mà một số người vẫn chưa chịu từ bỏ - nơi dung dưỡng sự sớm phát triển về cái ác ở đứa trẻ này. Vậy thì cớ sao [ai đó] ngạc nhiên rằng chúng tôi, nạn nhân của sự bất lương tri thức đó của kẻ khác, đòi hỏi thế giới đó, cái thế giới mà rốt cuộc cũng đang hồi tỉnh lại này, phải có biện pháp để chuộc tội?

    Đòi hỏi nó tự cứu mình, bằng những hành động cụ thể, từ cái vết nhơ rằng mình chính là cha mẹ đẻ ra con quái vật này một cách chủ ý, nhất là khi đứa trẻ quái vật đó vẫn đang được nuôi dưỡng về vật chất, được hít thở và được thừa nhận là người nhờ những thế lực và mưu đồ của cái thế giới đó, với sợi dây rốn vươn dài xuyên suốt đại dương, thậm chí lên cả vũ trụ thông qua cái gọi là những chương trình hợp tác công nghệ. Chúng tôi đang nói một cách giản dị nhưng khẩn thiết rằng: Hãy cắt đứt sợi dây đó. Bằng bất kỳ tên gọi nào như Tổng trừng phạt, Tẩy chay, Ngừng đầu tư, hoặc bất kỳ tên gọi nào khác, hãy cắt sợi dây rốn này và để mặc quái thai đó teo tóp đi, héo mòn và chết phứt đi, hoặc để nó tự xây dựng lại chính mình dựa trên những nền tảng nhân văn mà bao lâu nay chính nó đã phủ nhận. Hãy để nó sụp đổ vì bị cắt đứt nguồn dinh dưỡng bên ngoài, để nó sụp đổ vì mất cân bằng xã hội, lệch lạc về kinh tế và vì chiến tranh tiêu hao nguồn lao động sản xuất của chính nó. Hãy để nó quắt queo đi như một bào thai bị phá của gia đình nhân loại nếu nó vẫn khăng khăng tiếp tục bóp nghẹt những trí tuệ và sức lực vốn dĩ là bản thể đích thực của nó.

    Cái xã hội ngoài lề nhân loại đó - xã hội phân biệt chủng tộc Nam Phi - đang đùa giỡn với trí tuệ loài người. Hãy nghe một ví dụ đây. Khi thế giới ngày càng mạnh mẽ kêu gọi giải phóng cho Nelson Mandena, chính phủ Nam Phi ôn tồn tuyên bố họ sẽ tiếp tục giam giữ Nelson Mandela vì những lý do giống như lý do mà các thế lực đồng minh đang cầm tù Rudolf Hess! Một tuyên bố như vậy hiển nhiên là khêu gợi lòng yêu thích cái nực cười trong mỗi chúng ta.

    Nhất định là nó đã làm tôi phải nặn ra một bài thơ trào phúng - Rudof Hess mang gương mặt da đen như Nelson Mandela! Một nhà văn có thể làm gì khác hơn để bảo vệ tính nhân văn của mình chống lại những công kích thậm tệ đến thế! Đặt Nelson Mandela ngang hàng với tên tội phạm kinh tởm Rudolf Hess là một tiến bộ vượt bậc trong thái độ luôn coi ông như một sinh vật dưới mức người. Nó cùng một kích cỡ với sự tự hoàn thiện của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Nam Phi như tỷ lệ giữa Sharpeville và Von Brandis Square, cái động thái giải tán cuộc nổi loạn đầu tiên của giới báo chí trong nước một cách gần như tử tế, gần như chu đáo.

    Cái thế giới đang bị tư tưởng nghĩa phân biệt chủng tộc phỉ báng một cách thuận tiện nhường đó dĩ nhiên lại là thế giới mà tôi yêu bằng cả trái tim mình - đây là lựa chọn của tôi trong vô số những lựa chọn khác, là ý nghĩa sự có mặt của tôi nơi đây. Đó là thế giới đã nuôi dưỡng bản thể tôi, một thế giới tự đủ cho chính nó (tiện túc, self-sufficient) và giàu có ở mọi khía cạnh của sự năng sản của nó, tự tin vào bản thân và vận mệnh mình đến nỗi nó không hề e ngại chìa tay ra với kẻ khác cũng như đáp lại cái chìa tay của họ.

    Nó là hòn đá tảng cho hiện hữu sáng tạo của chúng tôi. Nó là lăng kính của cách lĩnh hội thế giới của chúng tôi, và điều này có nghĩa là cái nhìn của chúng tôi không cần phải và trên thực tế chưa bao giờ thường trực soi vào trong nội thể mình. Nếu đúng là như vậy thì chúng tôi đã không dễ gì hiểu kẻ thù trước cửa nhà mình, không biết làm cách nào tước đoạt khí giới của chúng. Khi xã hội này, cái xã hội vốn là nước Nam Phi phân biệt chủng tộc, khoái trá kêu lên với thế giới bên ngoài rằng nó tượng trưng cho pháo đài cuối cùng của văn minh chống lại lũ man di phương Bắc, thậm chí chúng tôi còn có thể nhoẻn một nụ cười bao dung.

    Cái nhà nước này tưởng tượng rằng chỉ cần dựng dậy bóng ma của dăm vị lãnh tụ người châu Phi phản bội, những kẻ tâm thần và những nhà đại tư bản bóc lột mà chính chúng tôi là nạn nhân - những kẻ mà chúng tôi tố cáo trước thế giới và lật đổ khi chúng tôi có thể -, cái xã hội phân biệt chủng tộc này lải nhải với thế giới rằng viễn cảnh tương lai của nó là cái thực tại mà chỉ những chính sách của nó mới có thể xóa bỏ. Nó tuyên bố rằng đây là một lục địa chỉ biết hủy diệt, được cư trú bởi một chủng tộc không bao giờ đóng góp một cái gì tích cực vào kho tàng tri thức của nhân loại. Như cái máy hút bụi hút vào cái dạ dày tham lam không đáy của nó toàn bộ tinh hoa của các thế kỷ văn minh châu Âu, sau đó nhổ ra cặn bã một cách khinh bỉ. Lạ lùng thay khi một xã hội tự xưng là đại diện cho cái bộ mặt đang lâm nguy này của tiến bộ lại tự nhốt mình trong những ảo vọng xưa tới hàng thế kỷ, vô tình không biết hoặc dửng dưng với sự thực rằng nó là sản phẩm hợp hiến cuối cùng của những tín điều cồ lỗ của tư duy Âu Châu - Do Thái.

    Hãy lấy Chúa trời và Luật pháp làm thí dụ, đặc biệt là Chúa trời. Chủng tộc da đen có quá đủ sự bảo chứng lịch sử để chỉ hoang mang tí chút trước sự xâm nhập của những vị chúa trời thuộc các dân tộc khác vào vận mệnh của họ. Bởi thậm chí hiện nay, cái não trạng apartheid về trật tự tiền định - theo lời tự nhận trơ tráo của nó - vẫn dựa trên cái mà tôi chỉ có thể gọi là những đoạn trong di chúc của Đạo Trời (nguyên văn: Godism, ND) - tôi không dám gọi nó là Cơ đốc giáo. Một đằng là các con trai của Ham, đằng kia là hậu duệ của Shem. Một khi đã thốt, ấy là lời nguyền bất di bất dịch. Còn về Luật pháp, những người theo thuyết chủng tộc thượng đẳng lại biện hộ cho việc không thừa nhận quyền tham gia chính trị một cách bình đằng của người da đen với luận điệu là người châu Phi không tôn trọng cũng không hiểu biết tí gì về Luật pháp, nghĩa là không có bất cứ ý niệm gì về quan hệ giữa cá nhân và tập thể.

    Ngay cả kẻ ôn hòa nhất, theo chủ nghĩa tự do, có đôi chút nuối tiếc nhưng vẫn hài lòng biện hộ cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, bởi ít nhất có một vài hình thức phân biệt chủng tộc không hẳn là phân biệt chủng tộc nhưng đảm bảo cái nguyên trạng (status quo) - ngay cả cái giống người lập lờ nước đôi này cũng dựa vào lý lẽ rằng trí óc người da đen không có ý niệm về Luật pháp. Tôi chỉ cần nhắc đến một đóng góp gần đây cho văn chương dưới hình thức tự truyện của một nhà phẫu thuật ghép tim nổi tiếng, một người lẽ ra hoàn toàn có quyền là ứng viên cho giải Nobel khoa học. Mặc dầu những cuộc gặp gỡ về trí tuệ diễn ra liên tiếp với nhiều mức độ khác nhau, nhưng hiện tượng đáng buồn đó vẫn khắc sâu trong não trạng người Nam Phi gốc Âu, mà theo lời Eddie Roux, là sản phẩm của sự thừa nhận hoàn toàn "những quan điểm truyền thống của thời đại".

    Như đã thừa nhận, họ có những bậc trí giả tiền bối “đáng kính”. Friedrich Wilhelm Hegel, xin đưa ra ở đây chỉ một ví dụ ưa thích của tôi, đã nhận thấy thật là tiện lợi khi ngụy biện rằng người châu Phi chưa tiến hóa đến mức như ông, kẻ đã “đạt tới nhận thức về bất cứ tồn tại khách quan thực chất nào - chẳng hạn Chúa Trời hay Luật pháp - mà ý muốn của con người có liên quan tới và ở đó ông nhận ra bản chất đích thực của mình”

    Ông tiếp:

    “Cái khác biệt này giữa bản thân ông với tư cách một cá nhân và tính phổ quát của bản thể ông, người Châu Phi đồng dạng, cái tổng thể chưa phát triển của hiện hữu ông, hãy còn chưa đạt tới: vì vậy cái tri thức về Hữu thể tuyệt đối, Kẻ khác và Cái Cao hơn cái ngã cá nhân của ông là hoàn toàn thiếu hụt”.

    Lãng phí thời gian để bác lại luận điện sáo rỗng giả dối này thì thật vô nghĩa, tôi tự hài lòng với việc rút ra từ đó chỉ một một bài học mà ngay cả ngày nay vẫn bị lãng quên bởi những kẻ khăng khăng cho rằng đỉnh điểm sự khao khát tri thức của con người là khả năng nhìn thấy trước tính phổ quát này theo hướng của cái Khác Siêu việt (the Super-Other). Tôi tin rằng có một trường phái tư tưởng lành mạnh không chỉ đối lập lại điều này một cách vật chất, mà còn tạo ra những xã hội được cấu trúc một cách hữu hiệu khả dĩ hoạt động độc lập với cái điều dối trá đầy cám dỗ, gây cảm hứng - dù có hiệu quả - nhưng quá đỗi ngông cuồng này.

    Vậy, một khi chúng ta vượt qua được sự cám dỗ đặng nghi vấn về sự phủ nhận cái kỳ công phóng chiếu giàu tưởng tượng này về người châu Phi, chúng ta chỉ còn lại mỗi một việc là vô tư suy xét xem ở những lĩnh vực nào chúng ta bắt gặp những khác biệt giữa lịch sử của các xã hội mà, theo Hegel và những người cùng hội với ông, chưa bao giờ hiểu nổi cái sự Phún xuất toàn năng (Omnipotent Extrusion) vào Không gian vô tận (Infinite Space) này, còn những ai hiểu được - dù đó là những khác biệt trong đời sống kinh tế hay đời sống văn nghệ, các mối quan hệ xã hội hoặc kiến thức khoa học -, tóm lại là tất cả các hoạt động có thể xác minh bằng kinh nghiệm, hoàn toàn khác với hậu quả của lời nguyền chủng tộc sinh ra từ thời cái thời tự do trần truồng của Adam và Eva trong kinh Cựu ước.

    Khi làm vậy, chúng ta vấp phải một thực tế lạ lùng. Lịch sử trước thời đại thuộc địa của các nước châu Phi - ở đây tôi muốn đề cập đến cả thuộc địa Cơ đốc giáo Tây Âu lẫn thuộc địa Arập-Hồi giáo - cho thấy rõ rằng trong suốt lịch sử tồn tại của mình các xã hội Châu Phi chưa bao giờ gây chiến với các nước khác vì tôn giáo của họ. Nghĩa là, không có một thời nào chủng tộc da đen lại cố tìm cách khuất phục hoặc buộc kẻ khác theo tín ngưỡng của mình với sự cuồng nhiệt của kẻ coi tôn giáo của mình là nhất. Vì động cơ kinh tế và chính trị thì có. Nhưng tôn giáo thì không. Có lẽ sự thật lạ thường này là lý do để Hegel kết luận như vậy - chúng ta không biết. Có điều chắc chắn là, những trang sử đẫm máu của các tôn giáo lớn trên thế giới, mà những cuộc giao tranh cục bộ lẻ tẻ vẫn kéo dài cho đến ngày nay, đã dẫn tới sự ngờ vực ngấm ngầm rằng, như các triết gia lỗi lạc trên đây đã định nghĩa, tôn giáo chỉ có thể đạt tới chỗ tự biết mình thông qua hành động chiến tranh.

    Vì vậy, dù đã gần kết thúc thế kỷ 20, nghĩa là nhiều thế kỷ sau những cuộc Thập tự chinh và Thánh chiến từng tàn phá hết nền văn minh này đến nền văn minh khác, phá vỡ những mối quan hệ xã hội bền chặt từ xa xưa và chà đạp lên tinh thần của nhiều dân tộc, hủy hoại nền văn hóa của họ theo lời phán xét của các thượng đế vô hình, ngày nay, chúng ta vẫn chạm trán với những quốc gia mà lý luận xã hội của họ được dẫn dắt bởi những luận điệu giáo điều và thần học; về phần mình, chúng tôi tin rằng kỷ nguyên tối tăm đó chưa hề thực sự rời bỏ thế giới này. Một quốc gia tự biện hộ cho hành vi liên tục đàn áp người bản xứ, những người bản xứ chiếm đa số dân ở quốc gia đó, dựa trên luận điệu sự “lựa chọn thần thánh”, quốc gia đó là mối đe dọa cho sự an ninh của quan hệ toàn cầu trong một thế giới mà một mẫu số chung là chủ nghĩa quốc gia đang thịnh hành. Nói cách khác, một xã hội như vậy không thuộc về thế giới hiện đại này. Chúng tôi cũng có những huyền thoại của mình, nhưng chúng tôi không bao giờ dùng chúng làm cơ sở để nô dịch kẻ khác. Tuy vậy chúng tôi cũng sống trong một thế giới thực tế, và, để phục hồi lại sự toàn vẹn của thế giới đó, chủng tộc da đen không có lựa chọn nào khác ngoài tự chuẩn bị để cống hiến sự hy sinh cao cả nhất.

    Khi nói về thế giới đó - cả huyền thoại và thực tại -, nhiệm vụ của chúng tôi, có lẽ là nhiệm vụ hòa bình cuối cùng của chúng tôi trước một kẻ thù mà số trời là phải đền tội, là phải nhắc về nó, cũng như những thế lực ủng hộ nó từ bên ngoài, rằng sự mâu thuẫn ẩn chứa trong thế giới châu Phi có từ rất lâu rồi, nhưng những kẻ đề xướng ra những phương diện phỉ báng đó từ lâu đã biết cách vứt bỏ những gì không thể biện hộ. Quả thật, hẳn sẽ còn thích đáng hơn nếu ta nhắc nhở cái xã hội phân biệt chủng tộc này rằng thế giới châu Phi chúng tôi, với những kho tàng văn hóa và tư tưởng triết lý của nó, đã có những tác động cụ thể tới tổ tiên của chính những kẻ phân biệt chủng tộc kia, đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến một số trào lưu và thậm chí còn tạo ra những phụ lưu, cả thuần khiết lẫn vấy đục, trong số những người bản xứ da trắng trên mảnh đất của chính họ.

    Lẽ dĩ nhiên, sự đa dạng của các cuộc đối mặt và phản ứng kia có được là nhờ những sự tìm tòi sâu xa về những phương hướng mới trong hành trình thám hiểm văn hóa của họ, tìm kiếm niềm an ủi để chống trả lại sự cơ giới hóa không khoan nhượng đối với sinh tồn của họ, về thực chất là tìm ý nghĩa mới cho những bí ẩn của cuộc sống và cố gắng khắc phục nỗi bất an xã hội do chính những chiến thắng của nền văn minh của chính họ.

    Nó đã dẫn tới sự ngưỡng mộ sâu xa về đóng góp của người Châu Phi vào kho tàng tri thức thế giới, phần đóng góp mà dẫu vậy vẫn không dập tắt được sự phỉ báng đã thành lệ thường đối với thế giới châu Phi. Nó đã tạo ra ở nhiều nơi một sự gần như thần thánh hóa người Phi - cái thời kỳ mà mỗi người châu Phi phải là một ông hoàng - thế nhưng lại gắn liền với một nỗi sợ hãi và ghê tởm sơ khai đối với người Phi. Với những phản ứng ngược đời này, bản chất thực sự của người da đen chúng tôi vẫn chưa được khám phá. Vì người da đen biết rõ - và mãn nguyện bởi điều đơn giản là họ biết - về bản thân mình. Chính thế giới châu Âu đã ra sức, với sự hăng say tột cùng, để định nghĩa lại bản thân mình thông qua những cuộc đụng độ đó, thậm chí có vẻ đang ra sức gán một ý nghĩa cho cái trải nghiệm của mình về thế giới Châu Phi.

    Chúng ta có thể lấy thí dụ về giai đoạn ban đầu của chủ nghĩa biểu hiện Châu Âu, một trào lưu từng nhận thấy rằng nền nghệ thuật, âm nhạc và nghi thức kịch nghệ của người châu Phi có cùng một tầm ảnh hưởng giống như tập hợp các tư tưởng, ý thức hệ và khuynh hướng xã hội khác biệt và xung khắc nhau một cách đáng kinh ngạc như Freud, Karl Marx, Bakunin, Nietzsche, cocaine và tình yêu tự do. Thế thì có gì lạ rằng sự hiện diện mềm dẻo và mang tính tâm linh của Bakota, Nimba, Yoruba, Dogon, Dan v.v. sẽ thấy chính mình vừa là nguồn cảm hứng vừa là kẻ bị nguyền rủa của một cơn điên rồ đặc sệt châu Âu, phần lớn là Giécmanh và Gôloa, kéo dài ít nhất bốn thập kỷ từ thế kỷ trước đến thế kỷ này.

    Nhưng cái mục đích mạnh mẽ vẫn là sự giải phóng hoàn toàn con người, giải phóng cái tiềm năng chưa được khai phá của con người, cái tiềm năng có thể tạc ra những khối đá cẩm thạch để xây dựng một thế giới mới, giải tư sản hóa (debougeoisify) những kiềm tỏa hiện tại của tư duy châu Âu và thắp lên ngọn lửa rèn nên một tình bằng hữu mới trong khắp cái thế giới mới huy hoàng này. Phải, chỉ trong cái trào lưu đó, cái trào lưu bao trùm một loạt những thứ như chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa phi chính phủ, cái thực tại vốn là châu Phi kia, như mọi khi, bị hít thở, bị thử nghiệm, bị nuốt chửng, bị phun ra, bị chiếm đoạt, được tán dương và bị đọa đày trong nỗi cuồng say khai sáng của năng lượng tái tạo của một lục địa.

    Ví như Oscar Kokoschka: đối với nhà soạn kịch và họa sĩ này, lễ thức châu Phi chủ yếu đưa người ta theo hướng bạo dâm, suy đồi tính dục và tự mãn nói chung. Một cách tự nhiên, nó tuôn trào thành những lời hiệu triệu về tận thế kiểu Nietzsche, tràn đầy nỗi phẫn nộ tự cảm và đầy đam mê xuất thần chống lại xã hội, mà thực ra là chống lại thế giới. Vassily Kadinsky về phần mình đã hưởng ứng những qui tắc nghệ thuật Châu Phi bằng một lời tiên đoán:

    “một khoa học về nghệ thuật được xây dựng trên một nền tảng rộng lớn mà tự bản chất là mang tính quốc tế”.

    Ông nhấn mạnh:

    “Điều đó thật thú vị, nhưng chắc chắn là chưa đủ để tạo nên một lý thuyết nghệ thuật đặc trưng của Châu Âu”.

    Theo ông, khi đó khoa học về nghệ thuật sẽ dẫn đến

    “một sự tổng hợp toàn diện nó sẽ vượt xa ngoài những cương tỏa của nghệ thuật để tiến vào địa hạt của sự đồng nhất thể giữa con người và cái ’thánh thiêng’”.

    Cũng chính trào lưu này, cái trào lưu mà các thủ đô nghệ thuật châu Âu sẽ tổ chức kỷ niệm một trăm năm trong một, hai thập kỷ tới - trong số nhiều nghịch lý có hiện tượng là nhiều nghệ sĩ Châu Âu có tầm vóc khổng lồ được [thế giới] thừa nhận về sau - Modigliani, Matisse, Gauguin, Picasso, Brancusi v.v. sùng bái với mức độ nhiệt tình khác nhau trước điện thờ nghệ thuật của người Pôlinêdi và người châu Phi, ngay cả Johannes Becher, trong niềm say mê chủ nghĩa biểu hiện, đã thề sẽ xây dựng một thế giới mới hoàn toàn không có các bệnh dịch, bao gồm

    “Lũ người da đen, sốt, bệnh lao, bệnh hoa liễu, những khiếm khuyết về mặt tinh thần trí tuệ, tôi sẽ chiến đấu với chúng và đánh bại chúng”.

    Và có một trùng hợp ngẫu nhiên là cùng thời điểm với lời tuyên bố hùng hồn này còn một nguời Đức nồng nhiệt nữa, Leo Frobenius, kẻ không tự nhận có đóng một vai trò nào trong trào lưu Biểu hiện và trên thực chất là rất ít quan tâm đến trào lưu Biểu hiện, đã có thể đến thăm Ile-Ife, trung tâm và cái nôi của chủng tộc Yoruba và bị kích thích mạnh mẽ bởi đối tượng của cái đẹp, sản phẩm của trí tuệ và bàn tay người Yoruba, một cách biểu hiện cổ điển về khía cạnh trong sáng trong cách lý giải thế giới của chủng tộc đó, qua lời của chính ông:

    “Trước mặt chúng tôi là đỉnh cao của vẻ đẹp huy hoàng, được tạc nên thật tuyệt vời trong chất liệu đồng cổ, giống hệt như thật, phủ một lớp gỉ màu xanh đen lộng lẫy. Đây chính là Olokun, Poseidon của Châu Phi”.

    Thế nhưng ta hãy lắng nghe những gì ông viết về chính những con người mà tác phẩm thủ công của họ đã nâng ông lên cảnh giới thăng hoa siêu phàm của vạn vật:

    “Với niềm xúc động sâu sắc, tôi đứng lặng hồi lâu trước những di vật của Chúa tể và đấng Quân vương đế quốc Atlantis thuở xa xưa. Các bạn đồng hành của tôi cũng không kém phần kinh ngạc. Như thể đã nhất trí từ trước, chúng tôi thảy cùng im lặng. Sau đó tôi nhìn quanh và thấy những người da đen, các con chiên của " vị linh mục tôn kính", Đức giáo hoàng và những chức sắc thông tuệ của ngài. Tôi xúc động lặng im, cảm thấy u buồn khi nghĩ rằng chính cái đám hậu thế suy đồi và nhu nhược này sẽ là những người bảo vệ hợp pháp cho một vẻ đẹp đáng yêu đến nhường ấy”.

    Là lời mời gọi tham gia vào một cuộc đua mạnh ai nấy chạy nhằm truất quyền sở hữu (những di sản của châu Phi), được biện minh dựa trên lý lẽ rằng kẻ đang nắm giữ di sản đó (ý nói người da đen, ND) là những kẻ không xứng đáng, nó làm ta nhớ lại những hoàn cảnh điên rồ khác vốn đã sản sinh ra chẳng hạn cái huyền thoại đen tối, chết người của Van Lvyck Louw. Bởi mặc dù kẻ ủng hộ chủ nghĩa Nazi từ xa xưa này có trút như mưa những lời nguyền rủa xuống đầu những kẻ phân biệt chủng tộc cực đoan trong số những đồng bào mình:

    “Hỡi Chúa, hãy dạy chúng con "sở hữu" nghĩa là gì, Chúa hãy để chúng con suy ngẫm, và khi đó, vượt qua lòng thù ghét đối với người da đen, da nâu, da trắng: vượt qua sự thù ghét này và nguyên nhân của nó, con dám thỉnh cầu sự phán quyết của người”.

    Thiên anh hùng ca RAKA của Van Lvyck được đảm bảo sẽ khuấy động những nỗi lo sợ nguyên thủy đó của người da trắng. Là một tác phẩm với tác động bỏng rát, bản năng vẫn còn nhức nhối trong ký ức chủng tộc, nó nuôi dưỡng cái cương lĩnh của người Nam Phi gốc Âu bằng cái bóng lù lù hắc ám của sự suy thoái phổ quát về tình trạng dã man, đang hướng về phương Nam trên những cái móng chẻ đôi của Kỵ sĩ Thứ năm trong ngày tận thế [xii] ấy là gã da đen.

    Có một bài học sâu sắc cho thế giới về khả năng biết tha thứ của chủng tộc da đen, điều mà tôi thường nghĩ có liên hệ mật thiết với những giáo huấn về đạo lý nảy sinh từ thế giới quan và các tôn giáo đích thực của họ, trong số đó không một tôn giáo nào bị bứng rễ hoàn toàn bởi sự lấn sân của các tín ngưỡng ngoại bang và cái chủ nghĩa vị chủng ngấm ngầm trong đó. Bởi, không thỏa mãn với việc chỉ là kẻ phỉ báng chủng tộc, kẻ đã không ngần ngại bôi nhọ, với những lời lẽ hư vô không khoan nhượng, những nguồn mạch xa xưa của chủng tộc da đen - một tín ngưỡng mà chính ông ta cũng đã theo -, Frobenius còn là một kẻ cướp khét tiếng, một mắt xích trong một đường dây dài dằng dặc những kẻ cướp người châu Âu chuyên săn lùng đồ cổ.

    Các viện bảo tàng ở châu Âu đã bảo chứng cho cái thói tham lam vô độ này của châu Âu; những thất bại của Bộ Văn hóa các nước thứ ba và các tổ chức như UNESCO tiếp tục là sự minh chứng cho sự ngoan cố này, thậm chí cho bản chất tội phạm của quý vị, những kẻ đã nhiễm thói quen nhận đồ ăn cướp. ấy thế mà, chẳng đáng ngạc nhiên sao nếu cho đến ngày nay Frobenius vẫn còn được những viện, những trường của người da đen, các lãnh tụ và học giả da đen ngưỡng mộ? Chẳng phải kỳ lạ sao nếu những buổi lễ kỷ niệm ông ta chính là một cớ có sẵn cho những hội nghị và tiểu luận chuyên đề về lục địa đen, sự chiếu cố phân biệt chủng tộc của ông ta, người ta không được phép công kích kẻo làm lu mờ phần cống hiến của ông ta cho hiểu biết của họ về Châu Phi, hoặc vai trò của ông ta trong việc hiểu biết về hiện tượng văn hóa và xã hội của nhân loại, thậm chí không đếm xỉa gì tới cái kiến thức chắp vá và lỗ mỗ của ông ta?

    Cũng chính sự lớn lao về tinh thần đó là nền tảng cho quan hệ ngày nay giữa các nước thuộc địa xưa, vài nước trong số đó đã phải hứng chịu những hình thức định cư và di dân thuộc địa tàn ác nhất, nơi mà sự tước đoạt phẩm giá con người đi đôi với sự tham lam và bóc lột đã đạt tới tầm vóc méo mó đến độ những đôi tai, bàn tay và cái mũi con người phải chịu tội cho những thất bại trong chỉ tiêu sản xuất. Các dân tộc đã nếm trải nỗi thống khổ của cuộc chiến tranh giải phóng, nơi mà đất đai còn tươi rói xác các nạn nhân vô tội và những đấng tuẫn nạn không kẻ ngợi ca, nay lại đang sống chen vai thích cánh bên những kẻ mà mới đây thôi hãy còn nô dịch họ, thậm chí chia sẻ quyền điều khiển vận mệnh của họ với những kẻ mà chỉ bốn hoặc năm năm trước còn buộc họ phải chứng kiến những vụ thảm sát bè bạn họ hàng của họ.

    Vì lòng nhân từ của Chúa, họ bằng lòng xây dựng lại và chia sẻ. Tinh thần hợp tác này dễ dàng bỏ sót những thủ đoạn xảo trá của cái nòi đặc chủng gồm những vị lãnh đạo sẵn sàng thỏa hiệp để bảo vệ cái di sản bóng loáng của kẻ tiên phong áp bức trước kia [xiii] vì lợi ích của chính mình. Trong nhiều trường hợp, chúng ta phải thừa nhận sự thật này. Nhưng chúng ta cũng có nhiều tấm gương điển hình về những chế độ biết gắn liền với nguyện vọng của quảng đại quần chúng trên lục địa đen, những chế độ đã áp dụng cùng một triết lý chính trị này. Và, trong mọi trường hợp, người có quyền phán xử cuối cùng chính là nhân dân, bởi chỉ trong quan hệ với nhân dân, những phán định như vậy mới có giá trị. Chúng ta hãy tự bằng lòng với nhận xét rằng đây là một hiện tượng đáng ghi nhận.

    Sau cùng, có một số nước Châu Âu ngày nay mà ký ức về thời kỳ bị những chủng tộc khác thống trị vẫn còn sống động mặc dù đã hơn hai thế kỷ trôi qua kể từ khi họ được giải phóng, thậm chí đến cả lúc này họ vẫn khăng khăng đòi một sự trả thù khủng khiếp về văn hoá, xã hội và chính trị đối với hậu duệ những kẻ xâm lược xưa kia.

    Tôi từng đến các quốc gia như vậy, nơi lịch sử tàn khốc dưới ách thống trị của ngoại bang vẫn còn được lưu giữ làm biểu tượng buộc người ta phải ý thức hàng ngày, biểu tượng trên các đài tưởng niệm, công viên, trong viện bảo tàng, nhà thờ, trong tư liệu, chạm khắc trên gỗ, trong ảnh bản kẽm trình bày dưới lớp kính chống đạn, nói chung là trong sự quy giản đám hậu duệ tàn dư của lũ người xâm lược xuống địa vị thấp hèn, những kẻ xa lạ mà họ bất đắc dĩ phải dung dưỡng, những kẻ mà quyền công dân, đặc quyền và vị trí xã hội bị hạn chế, một thái độ khoan dung kẻ cả tỏ lòng lân mẫn thống thiết bằng những bộ mặt âu sầu, những tấm lưng oằn xuống, và những cuộc chạm trán nhuốm mùi hối lỗi trong những lúc hiếm hoi khi họ không thể nào tránh giao thiệp với cái giống dân này.

    Phải, tất cả những điều này tôi đã thấy, nhiều điều trong số đó đã được viết và được thảo luận trong những hội nghị quốc tế. Và ngay cả khi thừa nhận cái công lý đầy chất thơ trong cái trừu tượng, người ta không thể không tự hỏi phải chăng một ki lô thịt sống, bị đánh thuế từ khi mới chào đời, có phải là một hành động tử tế hơn là vì tội lỗi của người cha mà trừng phạt suốt đời bầy con cháu tận thế hệ thứ mười hay thế hệ mười hai.

    Đối mặt với những truyền thống kiểu đó nhằm giảm bớt niềm tự hào về chủng tộc và văn hoá của các dân tộc nhỏ bé, “ngoài lề” hay thiểu số này, tâm thức ta quay lại xã hội của chính chúng ta nơi mà những lịch sử nhân quả đó vẫn còn mới mẻ trong ký ức, nơi mà sự sụp đổ của những cộng đồng phồn vinh trước đây vẫn còn lên tiếng buộc tội hùng hồn và khói vẫn tiếp tục bốc lên từ chiến lược tiêu thổ (đốt sạch) của huyền thoại thuộc địa và chủng tộc.

    Thế nhưng các đường phố vẫn mang tên những kẻ thống trị trước kia, tượng của bọn họ và những biểu tượng nô dịch khác vẫn trang hoàng các quảng trường, ý thức về một dân tộc hoàn toàn tự tin đã giáng cấp chúng xuống chỉ còn là vật trang trí và nơi trú ngụ cho con dơi và bồ câu. Các thư viện vẫn chưa được thanh lọc, vì vậy các thế hệ mới tha hồ lựa chọn các tác phẩm của Frobenius, của Hume, Hegel, hoặc Montesquieu và các tác giả khác mà không phải thấy dòng chữ còn chưa ráo mực trên bìa sách: HÃY COI CHỪNG! Tác phẩm này nguy hiểm cho lòng tự trọng chủng tộc của bạn.

    Tuy nhiên, những bằng chứng về sự thích nghi, dù trên phạm vi cực lớn hay cực nhỏ, trên phạm vi tập thể, tổ chức hay cá nhân, không thể được coi là bằng chứng về khả năng nhẫn nại vô bờ bến và không phê phán của người da đen. Trong bản chất, họ là một vật thể thí nghiệm, chồng chất những nợ nần, một lời mời gọi ẩn ngầm chỉ xứng với những đền đáp cụ thể (an implicit offer that must be matched by concrete returns).

    Họ là những tảng đá trên một chiếc cầu treo mà một đầu bắc lên vực thẳm, chiếc cầu mà, dù những người xây dựng có muốn hay không, phải tuân theo quy luật vật chất và sẽ phải gãy gập tại một điểm nhất định, để rồi đổ hẳn vào cái vực thẳm đang há hoác của hoài nghi, thất vọng và hận thù chồng chất. Trên mảnh đất thí nghiệm đó, mà đối với chúng tôi chính là Nam Phi, cái trại thời trung cổ với những nỗi kinh hoàng chỉ có trong Kinh thánh, sự hoài nghi ban sơ, tất cả những người yêu hòa bình phải lựa chọn: hoặc đưa nó vào thế giới hiện đại, vào trạng thái sinh tồn hợp lý trong tinh thần cộng tác của loài người, một khả năng mà mỗi dân tộc da đen tự do trên lục địa chúng tôi đã và đang thể hiện hùng hồn, hoặc buộc nó phải quỳ gối bằng cách khai trừ nó khỏi sự thừa nhận của loài người trên mọi phương diện, sao cho nó chịu khuất phục từ bên trong, thông qua những chiến lược của đa số chiếm ưu thế.

    Dù là chọn lựa nào, sự sỉ nhục loài người này không được phép đeo đẳng ý thức chúng ta từ thế kỷ 20 này bước vào thế kỷ 21, cái thời đại mới mang ý nghĩa biểu tượng mà các dân tộc của mọi nền văn hóa đang chuẩn bị kỷ niệm bằng những nghi thức chuyển giao thời đại. Cái mốc lịch đại này không mang nghĩa phổ quát, nhưng thời gian thì phổ quát, và cũng phổ quát là những mệnh lệnh của thời đại. Và trong những mệnh lệnh đó, những mệnh lệnh đặt ra với bản thể chúng ta, sự hiện tồn của chúng ta và định nghĩa về con người vào lúc này, không mệnh lệnh nào rộng khắp hơn là mệnh lệnh chấm dứt chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, diệt trừ tận gốc sự bất bình đẳng giữa người với người và hủy bỏ mọi cấu trúc của chúng. Giải thưởng này là sự đăng quang tất yếu cho việc hoàn thành mệnh lệnh đó: quyền bầu cử phổ thông và hòa bình.

    • Trần Tiễn Cao Đăng Tân Đôn dịch

    © Culture Globe

    Chú thích:


    [i] nguyên văn: một cảnh tượng siêu thực. - ND.

    [ii] Samora Machel (1933-1986): nhà ái quốc Mozambique, người đã giành độc lập cho tổ quốc mình từ tay thực dân Bồ Đào Nha năm 1975 và trở thành vị là tổng thống đầu tiên của nước Mozambique độc lập. Machel mất đột ngột ngày 20 tháng 10 năm 1986 trong một tai nạn máy bay bí ẩn mà nguyên nhân đến nay vẫn còn gây tranh cãi. Một số người cho rằng do thời tiết xấu, nhưng nhiều người khác nghi ngờ đó là một vụ ám sát mà thủ phạm không ai khác hơn là chính quyền phân biệt chủng tộc Nam Phi lúc đó. - ND.

    [iii] Olof Palme (1927-1986): chính khách Thụy Điển nổi tiếng theo đường lối cấp tiến, làm Thủ tướng Thụy Điển nhiều nhiệm kỳ. Bị ám sát năm 1986; đến nay người ta vẫn chưa tìm được tung tích thủ phạm. - ND.

    [iv] Hiệp định Nkomati (1984): hiệp định cam kết không xâm lược lẫn nhau giữa Mozambique (dưới thời lãnh đạo của Samora Machel) và Nam Phi. - ND.

    [v] Giấy thông hành của người da đen ở Nam Phi dưới chế độ phân biệt chủng tộc (apartheid) trước kia. Không có giấy này, người da đen không được phép đi lại. - ND.

    [vi] Native Pass Law: Bộ luật do chính quyền thực dân Anh ban hành năm 1809 buộc người da đen đi đâu cũng phải mang theo giấy thông hành dành riêng cho người da đen - ND.

    [vii] Nguyên văn: mind’s racial tabula rasa, ý nói não trạng phân biệt chủng tộc có sẵn từ khi mới sinh, khi cá nhân chưa hề có một khái niệm và kinh nghiệm nào về thế giới. - ND.

    [viii] "Chúng tôi" ở đây hàm ý người da đen. - ND.

    [ix] Ý nói tiền lệ đầu tiên trong lịch sử giải Nobel văn chương, khi người được tôn vinh là một người da đen châu Phi. - ND.

    [x] Nguyên văn: ahistorical, ý nói [chính quyền da trắng Nam Phi] không quan tâm đến lịch sử, không đếm xỉa gì đến (những bài học) lịch sử hay sự phát triển của lịch sử. - ND.

    [xi] Nguyên văn: ... to fresh in your laager memory. Laager là tên gọi những trang trại có tính phòng thủ cao, với một hàng rào gồm những chiếc xe bò vây quanh, vào thời Boer (người định cư da trắng gốc Hà Lan) tại Nam Phi, để chống lại những cuộc tấn công của người Zulu. Chúng tôi chọn cách dịch thoát ý. - ND.

    [xii] Trong Sách Khải huyền, có bốn nhân vật cưỡi ngựa biểu tượng cho những sự ác sẽ xảy ra vào ngày Tận thế. Người cưỡi ngựa trắng là Thần Chết, cưỡi ngựa đen là cái Đói, cưỡi ngựa đỏ là Chiến tranh, cưỡi ngựa xám là Dịch bệnh. Thường được gọi là Bốn Kỵ sĩ của ngày Tận thế. Có thể hiểu rộng là ”bốn thành tố của sự hủy diệt”. Kỵ sĩ thứ năm là Hades, tức Quỷ Địa ngục hay Diêm vương. - ND.

    [xiii] ý nói noi gương thực dân châu Âu – ND.

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Wole Soyinka

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Wole Soyinka bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Wole Soyinka ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Wole Soyinka ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Văn Hóa của chuyên mục Văn Hóa.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - VĂN HÓA - TIN VĂN HÓA