Sáng kiến chung Nhật Bản - Việt Nam

Thứ sáu, 24 Tháng mười hai 2004, 03:39 GMT+7
  • Ngày 7/4/2003, Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi đã thống nhất và quyết định thực hiện Sáng kiến chung Nhật Bản - Việt Nam nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng cường sức cạnh tranh của Việt Nam.

    Sáng kiến này có mục đích tăng cường sức cạnh tranh về kinh tế của Việt Nam thông qua xúc tiến đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Mục tiêu cụ thể của Sáng kiến này là chia sẻ, áp dụng các chính sách, biện pháp đặc biệt và ưu tiên, với phương châm phát huy triệt để sự tham gia và cam kết một cách tích cực của chính phủ hai nước.

    - Hiện trạng môi trường đầu tư vào Việt Nam

    Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới vào cuối năm 1986, Việt Nam đã tích cực chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch sang cơ chế kinh tế định hướng thị trường, (“nền kinh tế chuyển đổi sang định hướng thị trường”). Chính phủ Việt Nam tăng cường chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài và phát triển khu vực kinh tế tế tư nhân với định hướng thay đổi cơ cấu nền kinh tế tức đây chủ yếu là loại hình doanh nghiệp nhà nước. Kết quả của chính sách này là Việt Nam đã thành công trong việc duy trì nhịp độ phát triển kinh tế cao kể từ năm 1992, đặc biệt là so với các nước láng giềng trong khối ASEAN, nhờ sự tăng trưởng của đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân. Sau khi lập kỷ lục với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 10% vào giữa thập niên 90, kinh tế Việt Nam có giảm sút một thời gian ngắn do chịu ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á vào năm 1998 và 1999. Tuy nhiên, việc ban hành luật Doanh nghiệp tạo đà cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân cũng như sự phục hồi trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã giúp cho kinh tế Việt Nam phục hồi với tốc độ tăng trưởng năm 2000 là 6,7%, năm 2001 là 6,8% và năm 2002 là 7,0%.

    Đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam là rất nhỏ nếu so sánh với đầu tư vào các nước khác thuộc khối ASEAN. Ngoài ra, đầu tư từ Nhật Bản không chỉ giảm sút về vốn đăng ký mà còn giảm sút về mặt tỷ lệ trong tổng FDI vào Việt Nam khi so sánh với các nước khác trong khối ASEAN. Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, nhiều nước Đông Á đã ban hành các chính sách ưu đãi mới để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đặc biệt là thu hút đầu tư từ nước đầu tư chủ yếu của châu Á là Nhật Bản. Việt Nam đang mất dần lợi thế cạnh tranh so với các nước láng giềng trong thu hút đầu tư từ Nhật Bản. Với mục đích nâng cao sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong tương lai, Việt Nam cần coi trọng các biện pháp chính sách rất quan trọng sau đây nhằm phát huy tối đa các lợi thế của Việt Nam, đảm bảo được vai trò của Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn của các công ty công nghiệp trong khối ASEAN trong khuôn khổ hội nhập kinh tế nhanh chóng giữa các thành viên ASEAN và các mối quan hệ kinh tế phụ thuộc lẫn nhau (ví dụ như dây chuyền cung cấp trong ASEAN).

    - Tiếp tục xúc tiến đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực được coi là nguồn động lực cạnh tranh của Việt Nam thông qua việc cải thiện một cách rõ nét môi trường đầu tư.

    - Thực hiện các chính sách tập trung nhằm hỗ trợ khu vực tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ về các mặt kinh doanh, công nghệ và vốn.

    - Xây dựng các chính sách phát triển ngành mang tính chiến lược để thúc đây có hiệu quả đầu tư nước ngoài, sự phát triển của khu vực tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

    - Giải quyết các vấn đề về quản lý nhà nước, cả các vấn đề quan liêu, tham nhũng...

    Trong bối cảnh này, có thể nói việc có những thay đổi về chính sách và hành động của Chính phủ Việt Nam một cách nhanh chóng và đầy đủ nhằm cải thiện rõ nét môi trường đầu tư là chìa khóa bảo đảm phục hồi nguồn đầu tư nước ngoài, yếu tố cơ bản của công cuộc phát triển kinh tế đất nước.

    Các vấn đề cơ bản đối với xúc tiến đầu tư vào Việt Nam

    Chiến lược tăng trưởng FDI vào Việt Nam chủ yếu bao gồm hai yếu tố sau:

    1. Chiến lược xúc tiến đầu tư tạo những điều kiện thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tiềm năng và thu hút sự chú ý đầy thiện cảm đối với Việt Nam

    2. Cải thiện môi trường đầu tư nhằm xóa bỏ các trở ngại đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư.

    Trong chiến lược xúc tiến đầu tư, điều quan trọng nhất là xây dựng chế độ ưu đãi cho nhà đầu tư không thua kém so với Trung Quốc và các nước láng giềng trong khối ASEAN. Đối với nội dung cải thiện môi trường đầu tư, cần đặt ra các vấn đề sau:

    - Rà soát lại các quy chế liên quan đến đầu tư vốn vẫn là rào cản của các doanh nghiệp

    - Cải thiện các dịch vụ công cộng cơ bản liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp

    - Hoàn thiện các chính sách phát triển các ngành công nghiệp.

    Từ các ý tưởng trên, các vấn đề đối với Việt Nam được nhóm lại như sau:

    1. Rà soát lại các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư

    2. Nâng cao năng lực của các cơ quan thực thi (hải quan, thuế vụ, tòa án, cơ quan quản lý quyền sở hữu trí tuệ, cơ quan thống kê...)

    3. Hoàn thiện thể chế liên quan đến đầu tư (hệ thống luật pháp, tư pháp, chuyên gia pháp luật, hệ thống tiêu chuẩn công nghiệp và đo lường)

    4. Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế (vấn đề giao thông và chức năng đô thị, tăng cường hiệu quả hoạt động vận tải và lưu thông, điện lực, cải thiện hạ tầng viễn thông quốc tế, vấn đề xử lý nước thải và chất thải công nghiệp, sử dung tích cực nguồn tài chính quốc tế của JBIC).

    Ngoài ra, nhằm mục đích xúc tiến đầu tư vào Việt Nam, cần giải quyết đúng mực và hiệu quả các vấn đền mà các nhà đầu tư đã đầu tư đã vào Việt Nam đang gặp phải vì các nhà đầu tư tiềm năng luôn quan tâm đến kết quả kinh doanh của các nhà đầu tư đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam.

    Các biện pháp cụ thể nhằm xúc tiến đầu tư vào Việt Nam

    “Thế kỷ 21 có thể được coi là thế kỷ của châu Á”- câu nói này đã nổi tiếng một thời. Sự đa dạng trên các mặt chính trị, lịch sử và văn hóa vốn được nhiều người coi là rào cản đối với quá trình hội nhập kinh tế hoàn toàn của các nước ASEAN. Tuy nhiên, các nước châu Á ngày nay hội nhập kinh tế và tái cơ cấu xuyên biên giới một cách nhanh chóng. Khu vực thương mại tự do Đông á phát triển rất nhanh trong khuôn khổ AFTA là một ví dụ điển hình.

    Việt Nam với vị trí địa lý nằm ở trung tâm khu vực năng động hiện đang trong quá trình tận dụng sự năng động kinh tế này để thúc đẩy phát triển kinh tế của nước mình. Từ lâu Việt Nam đã được coi là một con rồng đang lên trong khối ASEAN và đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập của khối, nhưng Việt Nam chưa điều chỉnh đầy đủ môi trường kinh doanh nội tại để tận dụng sự năng động này. Cần nói rằng tương lai phát triển của Việt Nam, có thể duy trì được mức độ phát triển nhanh và đuổi kịp các nước láng giềng phát triển hơn hay không phụ thuộc phần lớn vào việc tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài, bởi lẽ FDI là yếu tố quan trọng duy nhất đối với đối với phát triển kinh tế ở châu Á.

    Các doanh nghiệp Nhật Bản đã đưa ra nhiều phương án giải quyết cụ thể và hợp lý cho các vấn đề này. Việc thực hiện các biện pháp này không phải lúc nào cũng dễ dàng. Có những biện pháp mà việc thực hiện sẽ gây ra những xáo trộn nhất định trong nước và đòi hỏi ở Chính phủ Việt Nam sự cam kết mạnh mẽ để thực hiện những biện pháp này.

    Nhận thức rõ các vấn đề nêu trên, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản bày tỏ mong muốn và quyết tâm cao độ trong việc thực hiện Kế hoạch hành động sau:

    I. Xây dựng và thực hiện chiến lược xúc tiến đầu tư nước ngoài

    1. Phát triển, thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài vào công nghiệp phụ trợ

    Phát triển công nghiệp phụ trợ

    Chính phủ Việt Nam nhanh chóng thực hiện các biện pháp sau nhằm phát triển công nghiệp phụ trợ: [MPI]

    (1) Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp phụ trợ

    (2) Xây dựng các trung tâm đào tạo kinh doanh và công nghệ cũng như các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

    (3) Xây dựng cơ sở dữ liệu của các doanh nghiệp Việt Nam trong ngành công nghiệp phụ trợ trong nước

    (4) Xây dựng các khu công nghiệp dành riêng cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ

    (5) Thực hiện các biện pháp ưu đãi cho công nghiệp phụ trợ (hỗ trợ huy động vốn, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực, cung cấp thông tin công nghệ, tham gia triển lãm sản phẩm)

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét việc hợp tác trong tương lai nhằm giúp phía Việt Nam thực hiện các biện pháp sau:

    (1) Hỗ trợ xây dựng chính sách phát triển ngành công nghiệp phụ trợ (xây dựng quy hoạch tổng thể cho công nghiệp phụ trợ v.v…)

    (2) Hỗ trợ kỹ thuật (xây dựng các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phái sang các chuyên gia kỹ thuật để hỗ trợ kiểm tra công nghệ)

    (3) Đào tạo về quản lý

    (4) Tổ chức trao đổi giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ (hội chợ thương mại, các chuyến công tác gặp gỡ nói chuyện, trao đổi giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản và các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam)

    (5) Cung cấp thông tin kỹ thuật (lên danh sách các doanh nghiệp trong nước, tổ chức các cuộc hội thảo đối với từng ngành, tổ chức kết nối doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước, thông qua hội thảo để cung cấp cho các nhà lắp ráp nước ngoài đang tìm kiếm nhà cung cấp phụ tùng và nguyên liệu trong nước những doanh nghiệp trong nước đáp ứng yêu cầu)

    Chính phủ Nhật Bản cũng sẽ xem xét việc hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ đầu tư vào các khu công nghiệp dành cho công nghiệp phụ trợ do Chính phủ Việt Nam chỉ định.

    Thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp phụ trợ

    Nhằm tăng cường các ưu đãi thuế cho đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, Chính phủ Việt Nam sẽ tăng cường các ưu đãi thuế cho một số ngành công nghiệp phụ trợ thông qua việc ban hành nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Chính phủ Việt Nam sẽ ban hành nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian sớm nhất có thể. [MPI, MOF: WT7]

    Sử dụng công nghiệp phụ trợ có vốn đầu tư nước ngoài

    (1) Đưa phần linh kiện và phụ tùng do các doanh nghiệp trong khu chế xuất và các doanh nghiệp chế xuất sản xuất vào công thức tính tỷ lệ nội địa hóa

    Chính phủ Việt Nam cho phép các doanh nghiệp lắp ráp khi mua phụ tùng và nguyên liệu từ các doanh nghiệp nằm trong khu chế xuất và các doanh nghiệp chế xuất được tính phần phụ tùng và nguyên liệu đó vào công thức tính tỷ lệ nội địa hóa. Chính phủ Việt Nam sẽ ban hành hướng dẫn cách tính tỷ lệ nội địa hóa trong trường hợp này trong năm 2004. [MPI, MOF: WT9]

    (2) Đơn giản hóa khâu cho phép các doanh nghiệp trong khu chế xuất và các doanh nghiệp chế xuất bán hàng vào thị trường nội địa

    Chính phủ Việt Nam sẽ áp dụng các thủ tục đơn giản cho trường hợp các doanh nghiệp trong khu chế xuất và các doanh nghiệp chế xuất bán hàng vào thị trường nội địa (tương tự như thủ tục đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực đó tại các nước khác, trong đó có Nhật Bản). [MPI, MOF: WT9]

    (3) Thuế nhập khẩu áp dụng cho các doanh nghiệp trong khu chế xuất và các doanh nghiệp chế xuất khẩu khi bán hàng vào thị trường nội địa

    Chính phủ Việt Nam sẽ có quy định về việc áp dụng thuế suất CEPT/AFTA đối với doanh nghiệp trong khu chế xuất và các doanh nghiệp chế xuất trong trường hợp bán sản phẩm vào thị trường nội địa khi các sản phẩm đó đáp ứng các điều kiện để được áp dụng CEPT. (MOF; WT9)

    2. Làm rõ các biện pháp ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    1. Duy trì mức thuế suất ưu đãi như trong Luật Đầu tư nước ngoài.

    Chính phủ Việt Nam xác nhận việc sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp không làm ảnh hưởng bất lợi đến các ưu đãi thuế đã được quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài, cụ thể các thuế suất ưu đãi là 10%, 15% và 20% (thực hiện ngay). Ngoài ra nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp mới sẽ đề cập rõ vấn đề này (thực hiện sớm trong năm 2003). [MOF: WT7]

    2. Duy trì các chế độ ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư đã đầu tư vào Việt Nam

    Chính phủ Việt Nam xác nhận việc sửa đổi luật thuế thu nhập doanh nghiệp không làm ảnh hưởng bất lợi đến các ưu đãi mà các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào Việt Nam đang hưởng (thực hiện ngay). Ngoài ra nghị định hướng dẫn thi hành ban hành sau này sẽ cần đề cập rõ vấn đề này (thực hiện sớm trong năm 2003). [MOF: WT7]

    3. Cải thiện chế độ thuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài

    Trên cơ sở coi trọng vai trò của thuế thu nhập các nhân, Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện các nội dung sau song song với việc tăng mức thuế suất thấp nhất và mở rộng đối tượng thu thuế:

    1. Giảm mức thuế suất cao nhất: Chính phủ Việt Nam sẽ trình Quốc hội về việc sửa đổi Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập cao trong năm 2004. Trong đó đưa ra đề xuất hạ thấp mức thuế suất cao nhất nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh của Việt Nam với các nước khác trong khu vực (tại lần sửa đổi Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân vào khoảng năm 2004). [MOF: WT7]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ trình Quốc hội bản dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân mới vào năm 2006, trong đó đề xuất áp dụng chế độ khấu trừ thu nhập cá nhân phù hợp với Việt Nam. (Khi xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân vào khoảng năm 2006). [MOF: WT7]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét việc hợp tác hỗ trợ Việt Nam thực hiện các hoạt động trên.

    4. Mở rộng hoạt động xúc tiến đầu tư nước ngoài (dịch vụ một cửa cho ĐTNN)

    Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện các nội dung sau nhằm nâng cao năng lực của các cơ quan liên quan tới đầu tư trực tiếp nước ngoài:

    1. Chính phủ Việt Nam cần đảm bảo một nguồn ngân sách thích hợp cho hoạt động xúc tiến đầu tư từ các nguồn ngân sách hàng năm cho các Bộ và Ủy ban nhân dân liên quan [MPI: WT1]. Bộ Tài chính sẽ chịu trách nhiệm hướng dẫn cụ thể việc thi hành các quy định trong Nghị quyết số 09/2001/NQ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2001.

    2. Trong trường hợp có vấn đề liên quan đến việc giấy phép đầu tư hoặc vướng mắc cần giải quyết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ là đầu mối phối hợp với các Bộ ngành có liên quan để đảm bảo việc các biện pháp áp dụng pháp luật tuân thủ Luật Đầu tư nước ngoài và các hiệp định quốc tế. [MPI: WT1]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác để tăng cường hỗ trợ các hoạt động xúc tiến đầu tư nước ngoài của Việt Nam

    1. Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức các đoàn xúc tiến đầu tư định kỳ

    2. Hỗ trợ Việt Nam tổ chức các hội thảo xúc tiến đầu tư tại Nhật Bản cho từng ngành (đặc biệt là công nghiệp phụ trợ)

    3. Tăng cường năng lực cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hoạt động xúc tiến đầu tư, củng cố chức năng một cửa (hỗ trợ Cục Đầu tư nước ngoài và ba trung tâm xúc tiến đầu tư ở ba miền Bắc, Trung và Nam)

    4. Hỗ trợ Việt Nam xây dựng các chế độ luật pháp có liên quan đến đầu tư nước ngoài trên cơ sở các cam kết quốc tế của Việt Nam (ví dụ: Hiệp định Bảo hộ đầu tư với Nhật Bản)

    5. Hỗ trợ Việt Nam thiết lập văn phòng xúc tiến đầu tư tại Nhật Bản thông qua chương trình của JETRO.

    5. Xây dựng chiến lược và quy hoạch cho các ngành công nghiệp cơ bản

    1. Trong quá trình xây dựng các chiến lược phát triển của các ngành cũng như các quy hoạch tổng thể, Chính phủ Việt Nam cam kết tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nước ngoài nêu lên ý kiến của mình (thực hiện ngay).

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ xây dựng các chiến lược phát triển và quy hoạch tổng thể cho các ngành công nghiệp mũi nhọn phù hợp với các chính sách xuất nhập khẩu và thuế. Chính phủ Nhật Bản xem xét việc hỗ trợ chính phủ Việt Nam thực hiện các hoạt động này. [MPI: WT1]

    6. Áp dụng miễn thị thực nhập cảnh đối với lưu trú ngắn hạn

    Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện chính sách miễn thị thực nhập cảnh cho công dân Nhật Bản lưu trú ngắn hạn tại Việt Nam, trong đó có thể bao gồm lưu trú với mục đích kinh doanh trong thời gian sớm nhất có thể năm 2004. [MOFA]

    II. Các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm cải thiện một cách rõ nét môi trường đầu tư

    1) Các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư

    7. Lộ trình cho phép thành lập hiện diện thương mại và Công ty Thương mại nước ngoài

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ tuân thủ lộ trình của Hiệp định bảo hộ đầu tư Nhật - Việt trong việc cho phép thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất, thương mại và phân phối (bao gồm việc nhập khẩu và phân phối các sản phẩm của các doanh nghiệp chế tạo), tín dụng, bảo hiểm, viễn thông và quảng cáo. Chính phủ Việt Nam sẽ nhanh chóng trong thời gian sớm nhất có thể ban hành văn bản hướng dẫn về việc mở cửa thị trường nhập khẩu và phân phối sau khi Hiệp định đầu tư có hiệu lực. [MPI: WT1]

    (Ghi chú của phía Nhật Bản: cần có sự chú ý đặc biệt để các ưu đãi về thuế cho lĩnh vực tài chính và dịch vụ không có hại đối với luật lệ của OECD)

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ nới lỏng việc hạn chế các chức năng của các chi nhánh công ty thương mại. Chính phủ Việt Nam sẽ đề xuất với Quốc hội về việc sửa đổi Luật Thương mại theo hướng mở rộng chủng loại mặt hàng xuất nhập khẩu và giảm bớt các hạn chế liên quan đến kim ngạch xuất nhập khẩu theo lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam (sớm đề xuất thực hiện với Quốc hội trong năm 2005). [MPI, MOT: WT1]

    8. Xóa bỏ các quy định về hạn chế đầu tư

    Sau khi Hiệp định đầu tư Nhật - Việt có hiệu lực, Chính phủ Việt Nam sẽ xóa bỏ các quy định về nghĩa vụ xuất khẩu 80% (loại trừ một số mặt hàng) và nguyên tắc nhất trí. Chính phủ Việt Nam sẽ loại bỏ các quy chế về tỷ lệ nội địa hóa và chế độ hai giá dựa trên lộ trình đã được quy định trong Hiệp định đầu tư. [MPI: WT1]

    9. Làm rõ các lĩnh vực cho phép đầu tư 100% vốn nước ngoài

    Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện các nội dung sau: [MPI: WT1]

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ đề xuất với Quốc hội quy định chỉ rõ việc cho phép đầu tư 100% vốn nước ngoài vào các dự án không nằm trong danh sách hạn chế trong lần sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài tiếp theo.

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ ban hành một "Danh sách hạn chế" cụ thể hơn thông qua việc xem xét Nghị định 27 tại lần sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài tới đây.

    10. Luật Lao động

    1. Từ năm 2004, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục công khai các thông tin về các vụ tố tụng trong lĩnh vực lao động, tổ chức các hội thảo về các vấn đề liên quan tới lao động ở cấp trung ương với nhà đầu tư để tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa những người sử dụng lao động và người lao động. [MOLISA: WT6]

    (2) Chính phủ Việt Nam sẽ xem xét khả năng xóa bỏ quy định về hợp đồng không thời hạn trong lần sửa đổi Luật Lao động tới, căn cứ vào chi phí nhân công, ý kiến của các doanh nghiệp và các quy định của các nước khác. [MOLISA: WT6]

    - Lương ngoài giờ trong thời gian nghỉ có lương hàng năm

    Chính phủ Việt Nam sẽ xem xét báo cáo với Quốc hội về sự cần thiết và tính hợp lý của việc áp dụng mức lương ngoài giờ trong thời gian nghỉ có lương trong lần sửa đổi Luật Lao động tới. [MOLISA: WT6]

    - Chế độ người lao động ký kết nhiều hợp đồng lao động

    Tham khảo mục hợp đồng lao động không thời hạn

    11. Luật Đất đai

    Chính phủ Việt Nam trình Quốc hội thông qua Luật Đất đai sửa đổi và thực hiện những nội dung sau cuối năm 2003: [MONRE: WT4]

    1. Cho phép các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có quyền sử dụng đất dưới hình thức trả phí một lần.

    2. Cho phép việc chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn và thế chấp với các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam đối với quyền sử dụng đất và các tài sản ở trên đất trong trường hợp hình thức trả phí một lần.

    3. Cho phép cho thuê và thế chấp đối với các tài sản ở trên đất trong trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm.

    4. Cho phép việc gia hạn thời hạn thuê đất thêm 50 năm (70 năm) trong các trường hợp thuê đất với thời hạn 50 năm (70 năm).

    12. Xóa bỏ chế độ xin phép nhập khẩu theo kế hoạch đối với phụ tùng linh kiện và nguyên vật liệu thô

    Chính phủ Việt Nam xóa bỏ chế độ xin phép nhập khẩu theo kế hoạch nhập khẩu đối với phụ tùng linh kiện và nguyên vật liệu (thực hiện trong vòng hai năm). [MOT: WT9]

    13. Xúc tiến chuyển giao công nghệ

    1. Dựa trên việc sửa đổi Nghị định 45 về chuyển giao công nghệ hiện đang được xem xét sửa đổi, Chính phủ Việt Nam sẽ xóa bỏ giới hạn về phí chuyển giao công nghệ đối với các công ty tư nhân (thực hiện trong vòng 1 năm) và nới lỏng để tiến tới xóa bỏ giới hạn trần về phí chuyển giao công nghệ đối với các công ty có sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước. [MOST: WT5]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ trình với Quốc hội sửa đổi Luật Dân sự nhằm nới lỏng tiến tới loại bỏ giới hạn thời hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ vào lần sửa Luật Dân sự tới. [MOST: WT5]

    3. Chính phủ Việt Nam thực hiện các hoạt động tuyên truyền về giá trị và đền bù cho sở hữu trí tuệ, công nghệ, kỹ thuật. [MOST: WT5]

    Hai bên Nhật Bản và Việt Nam sẽ phối hợp tổ chức các Hội thảo về chuyển giao công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ tại các thành phố lớn của Việt Nam vào khoảng tháng 6 năm 2004 với sự tham gia của các viên chức nhà nước và các doanh nghiệp có liên quan của Việt Nam.

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét khả năng hỗ trợ Việt Nam thực hiện các hoạt động trên.

    4. Khấu trừ thuế chi phí hoạt động chuyển giao công nghệ

    Chính phủ Việt Nam sẽ xem xét áp dụng chế độ khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp với một tỷ lệ nhất định đối với chi phí chuyển giao công nghệ trong một khoảng thời gian nhất định tại lần sửa đổi nghị định 45 tới đây. [MOF, MOST: WT5, WT7]

    14. Xóa bỏ giới hạn chi phí quảng cáo và tiếp thị

    1. Chính phủ Việt Nam xem xét xóa bỏ giới hạn chi phí tuyên truyền quảng cáo trong lần sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp tới đây để đảm bảo phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế và hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. [MOF: WT7]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ xem xét 14 hạng mục được coi là chi phí quảng cáo trong nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm 2004. [MOF: WT7]

    15. Xóa bỏ nghĩa vụ đấu thầu khi mua sắm thiết bị, nhà xưởng...của các liên doanh mà phía Việt Nam góp vốn từ 30% trở lên bằng quyền sử dụng đất

    Chính phủ Việt Nam sẽ giao các Bộ có liên quan sửa Pháp lệnh về đấu thầu để trình lên Ủy ban thường vụ Quốc hội để xóa bỏ nghĩa vụ đấu thầu trong việc mua sắm thiết bị, nhà xưởng trong các doanh nghiệp liên doanh mà phía Việt Nam góp vốn hơn 30% bằng quyền sử dụng đất trong thời gian sớm nhất có thể. [MPI: WT1

    16. Quy định về các quỹ hoạt dộng ở nước ngoài của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và công ty bảo hiểm

    Chính phủ Việt Nam nhanh chóng xóa bỏ các hạn chế về việc sử dụng vốn và tài sản của các ngân hàng nước ngoài và các công ty bảo hiểm theo các cam kết quốc tế. [SBV: WT8]

    17. Xóa bỏ yêu cầu về vốn đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài

    1. Với mục đích đảm bảo sự mềm dẻo của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, Chính phủ Việt Nam sẽ đề xuất với Quốc hội sửa Luật Đầu tư nước ngoài để cho phép các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được giảm vốn đầu tư trong những điều kiện nhất định tại lần sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài tới đây. [MPI: WT1] (Ghi chú: hiện nay việc giảm vốn đầu tư không được cho phép)

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ đề xuất với Quốc hội xóa bỏ hạn chế giới hạn sàn về vốn pháp định trong tổng vốn đầu tư (hiện nay quy định ít nhất bằng 30% vốn đầu tư) tại lần sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài tới đây. [MPI: WT1]

    18. Vấn đề về định nghĩa tổng vốn đầu tư liên quan đến nhập khẩu tài sản cố định

    Chính phủ Việt Nam sẽ ban hành văn bản để làm rõ việc cần phải tính đến giá trị khấu hao lũy kế trong tính toán nhập khẩu tài sản cố định (thực hiện trong vòng nửa năm). [MOT: WT9]

    Nâng cao năng lực của các cơ quan thực thi

    19. Đảm bảo tính minh bạch, độ tin cậy, tính đồng bộ, tốc độ và đơn giản hóa nghiệp vụ hải quan

    Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện các biện pháp dưới đây:

    1. Nhanh chóng xúc tiến phê chuẩn Công ước Kyoto sửa đổi

    2. Thực hiện một cách nhanh chóng các quy trình nghiệp vụ hải quan mới

    3. Triệt để thực hiện quá trình hợp lý hóa công tác thông quan

    4. Xây dựng chế độ, chế tài và phương pháp kiểm tra liên quan đến gian lận thương mại

    5. Xúc tiến xây dựng cơ cấu phối hợp giữa các cơ quan hành chính

    6. Nâng cao năng lực của các cán bộ hải quan

    7. Công khai hóa các thông tin liên quan đến thủ tục hải quan

    8. Từng bước xây dựng các định nghĩa định giá thuế xuất nhập khẩu dựa trên GATT và WTO; từng bước giảm các mặt hàng áp dụng giá tối thiểu

    9. Nghiên cứu và ban hành các quy định về thủ tục hải quan liên quan tới việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới.

    10. Thực hiện quy tắc áp mã hàng trước khi hàng đến

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét việc hợp tác hỗ trợ Việt Nam thực hiện các hoạt động trên

    20. Hợp lý hóa công tác thuế vụ

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực hợp lý hóa các công tác về thuế vụ (tăng cường và hợp lý hóa hệ thống thu thuế nhằm tạo một sân chơi bình đẳng về mặt thuế cho các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Chính phủ Việt Nam sẽ phối hợp với các chuyên gia ODA của Nhật Bản tháo gỡ các vướng mắc phát sinh giữa cơ quan thuế và nhà đầu tư. [MOF: WT7]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ thiết lập các "điểm tư vấn công cộng" tại các Bộ có liên quan nhằm giải quyết các vấn đề như lĩnh vực ODA, hoàn thuế VAT và các mức thuế áp dụng. [MOF: WT7]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét khả năng hỗ trợ công tác hiện đại hóa nghiệp vụ thuế (như việc tăng cường năng lực cho các cán bộ thuế vụ, các hoạt động tư vấn thuế, điều tra thuế).

    21. Cải thiện hoạt động quản lý về quyền sở hữu trí tuệ

    1. Chính phủ Việt Nam tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Chính phủ Việt Nam xây dựng một hệ thống có thể cho phép tìm kiếm và cung cấp các thông tin có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trên Internet (trong vòng 2 năm). Chính phủ Việt Nam sẽ tăng cường chức năng và năng lực của Cục Sở hữu trí tuệ, với tư cách là cơ quan đầu mối sẽ đáp ứng một cách nhanh chóng những thắc mắc của các nhà đầu tư đã hoặc sẽ đầu tư vào Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ (thực hiện trong vòng nửa năm tới). [MOST, MPI: WT5]. Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét việc hợp tác hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu về quyền sở hữu trí tuệ.

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ sửa đổi Nghị định 54/2003/NĐ-CP để thẩm quyền quản lý Nhà nước về nhãn hiệu hàng hóa thuộc về Cục sở hữu trí tuệ. [MOST: WT5].

    3. Chính phủ Việt Nam sẽ tham gia Nghị định thư Madrid trên cơ sở cân nhắc mức độ ưu tiên của các cam kết mang tính quốc tế trong đó có WTO (hiệp định TRIPS). [MOST: WT5]. Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ Việt Nam tham gia nghị định thư Madrid.

    22. Thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ tăng cường việc điều tra và phát hiện hàng giả tại cả 3 bước: nhập khẩu, sản xuất và phân phối hàng hóa. Chính phủ Việt Nam sẽ có những biện pháp cụ thể bao gồm việc tăng cường Ủy ban chỉ đạo 127 để chỉ đạo và quản lý các hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ và cung cấp kết quả các cuộc điều tra hàng giả (bao gồm cả những trường hợp nghi ngờ) theo yêu cầu của các nhà đầu tư. (GO; WT5)

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ Việt Nam tăng cường điều tra phát hiện hàng giả, bao gồm cả các hoạt động vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.


    2. Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện năm chống sản xuất hàng nhái, hàng giả trên quy mô quốc gia vào năm 2004. Trong thời gian sớm nhất có thể, Chính phủ Việt Nam sẽ sửa Nghị định 12/1999/NĐ-CP ban hành ngày 06/3/1999 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, nhằm đảm bảo về mặt nguyên tắc mức độ xử phạt trong lĩnh vực xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ lớn hơn lợi nhuận thu được.

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ Việt Nam trong việc thực hiện chiến dịch điều tra và phát hiện hàng giả và sửa nghị định.

    23. Đấu tranh chống tham nhũng

    Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp sau nhằm đấu tranh chống nạn tham nhũng:

    1. Tiếp tục xây dựng kế hoạch hành động và các biện pháp đấu tranh chống tham nhũng cụ thể. [GO]

    2. Củng cố chức năng đường dây nóng giữa chính phủ và doanh nghiệp. [GO]

    3. Tiếp tục các nỗ lực nhằm đảm bảo tính công bằng, trung lập, minh bạch trong công tác thuế vụ, hải quan và các công tác hành chính khác đồng thời đơn giản hóa các thủ tục hành chính. [GO]

    24. Hạn chế gian lận trong nhập khẩu

    Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp hiệu quả và tăng cường chức năng phối hợp của cơ quan đầu mối trong việc chống gian lận nhập khẩu của tất cả các mặt hàng (bao gồm cả kính tấm) (trong vòng 1 năm).

    Xây dựng cơ sở hạ tầng phần mềm liên quan đến đầu tư

    25. Cải thiện quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

    1. Chính phủ Việt Nam, trong thời gian sớm nhất có thể, sẽ ban hành hướng dẫn về Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi. Chính phủ Việt Nam sẽ tham khảo ý kiến các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. [MOJ: WT2]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ tăng cường chức năng và tổ chức của các vụ chuyên trách công tác kiểm tra các văn bản pháp luật nằm trong Bộ Tư pháp mới được thành lập (Cục kiểm tra văn bản pháp luật và Vụ pháp luật quốc tế) (thực hiện trong vòng 1 năm tới). [MOJ: WT2]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ tăng cường năng lực của các Vụ trên.

    26. Cải thiện công tác thi hành án

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ có các biện pháp thích hợp nhằm bảo đảm việc thi hành không chậm trễ, đầy đủ và hiệu quả các phán quyết của tòa án (MOJ: WT2)

    2. Chính phủ Việt Nam khẳng định rằng có thể đề cử người nước ngoài làm trọng tài trong các vụ tranh chấp liên quan đến các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong lãnh thổ Việt Nam. Chính phủ Việt Nam khẳng định với bất kỳ luật pháp nước ngoài nào được lựa chọn cho các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, phán quyết sẽ tuân thủ các quy định cơ bản của Luật pháp Việt Nam trên cơ sở các thông lệ quốc tế (MOJ: WT2).

    3. Chính phủ Việt Nam thiết lập chức năng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trong các Bộ ngành, UBND chính quyền địa phương, cơ quan chính phủ nhằm đáp ứng một cách nhanh chóng và chu đáo thắc mắc của doanh nghiệp về các quy định của pháp luật. (thực hiện trong vòng 1 năm tới). [MOJ, MPI: WT2]

    4.. Chính phủ Việt Nam sẽ thiết lập quy tắc chung và chỉ đạo các cơ quan hành chính hữu quan tiến hành các việc sau:

    ã Thẩm định một cách nhanh chóng, xây dựng và công bố các tiêu chuẩn thẩm định, thời gian xử lý tối đa

    ã Cung cấp các thông tin có liên quan đến quá trình thẩm định

    ã Nhanh chóng xử lý đối với hồ sơ của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

    4. Trong khuôn khổ dự án hỗ trợ xây dựng hệ thống pháp luật của Nhật Bản (giai đoạn 2), cơ sở dữ liệu quốc gia về các quy định pháp luật (National Legal Database) đã được xây dựng kết nối đầu mối trung tâm là Bộ Tư pháp với 23 tỉnh thành trong một mạng lưới thông tin về quy định pháp luật. Chính phủ Việt Nam sẽ mở rộng mạng lưới thông tin này đến tất cả các tỉnh thành và bộ phận chức năng nói trên cũng như đến các UBND địa phương nhằm tạo điều kiện cho các địa phương có thể tiếp cận với các thông tin mới nhất về các quy định pháp luật. [MOJ: WT2]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ Việt Nam thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp quy.

    27. Đào tạo chuyên gia về pháp luật

    Chính phủ Việt Nam sẽ nhanh chóng xây dựng “Chiến lược xây dựng hệ thống luật pháp” và căn cứ vào chiến lược này và kế hoạch hành động trong “Đánh giá nhu cầu pháp chế” thực hiện công tác nâng cao năng lực của các tòa án và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực pháp luật.

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ đào tạo chuyên gia về pháp luật khi có yêu cầu từ phía Chính phủ Việt Nam.

    28. Xây dựng luật cạnh tranh

    Chính phủ Việt Nam cần củng cố các cơ quan liên quan để thực hiện việc xây dựng Luật Cạnh tranh (trong năm 2004). [MOT: WT2]

    Chính phủ Nhật Bản xem xét khả năng hỗ trợ các hoạt động trên.

    29. Công bố chuẩn mực kế toán quốc tế

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ ban hành tất cả các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán trước năm 2005, nhằm tiến hành thống nhất với các tiêu chuẩn kiểm toán và kế toán quốc tế. [MOF: WT7]

    2. Chính phủ Việt Nam thực hiện phổ biến hệ thống kế toán doanh nghiệp dựa trên Luật Kế toán từ năm 2004. [MOF: WT7]

    30. Xây dựng chế độ thanh toán bằng séc/hối phiếu

    Dựa trên việc sửa đổi nghị định 30, Chính phủ Việt Nam sẽ thành lập nhóm làm việc nghiên cứu về hệ thống lưu thông séc/hối phiếu và hệ thống thanh toán thay thế thanh toán bằng tiền mặt (trong vòng 1 năm). [SBV: WT8]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ Việt Nam, phổ biến các kinh nghiệm của Nhật Bản trong lĩnh vực này.

    31. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn công nghiệp và đo lường

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ nỗ lực xây dựng hệ thống tiêu chuẩn công nghiệp và đo lường dựa trên quy hoạch tổng thể nhằm mục đích hiện đại hóa các tiêu chuẩn và thống nhất hệ thống tiêu chuẩn với các tiêu chuẩn ISO. [MOST: WT5]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ đề ra các biện pháp cụ thể nhằm cải thiện các dịch vụ cho các doanh nghiệp tư nhân bao gồm chế độ thẩm định, cung cấp thiết bị thử nghiệm và kiểm tra (trong vòng 1 năm).

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ các hoạt động xây dựng hệ thống tiêu chuẩn công nghiệp và đo lường mà trọng tâm là hiện đại hóa các tiêu chuẩn và đảm bảo sự phù hợp với các tiêu chuẩn ISO.

    32. Đào tạo nhân lực (nguồn nhân lực cho ngành công nghệ thông tin, đào tạo nghề)

    Chính phủ Việt Nam sẽ nâng cao việc thực hiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin. [MPI]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ Việt Nam trong việc thực hiện biện pháp trên.

    33. Hoàn thiện hệ thống thống kê kinh tế: Tăng cường năng lực cho các cơ quan thống kê

    Chính phủ Việt Nam sẽ củng cố năng lực của Tổng cục Thống kê dựa trên việc ban hành Luật Thống kê mới, đặc biệt cải thiện các dịch vụ hướng tới người sử dụng dịch vụ thống kê. Tổng cục Thống kê sẽ phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng một cơ chế cung cấp một cách nhanh chóng các thông tin thống kê cần thiết cho các nhà đầu tư. [GDS]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ Việt Nam thực hiện các biện pháp trên.

    Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế

    34. Giao thông và chức năng đô thị

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ xây dựng hệ thống giao thông đô thị phù hợp với quy hoạch tổng thể tại Hà Nội và TP HCM và sẽ cải thiện hệ quản lý giao thông đô thị (đặc biệt là quản lý giao thông và cơ sở hạ tầng cho việc đỗ xe tại các đô thị lớn). [MOTC]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện phân tán các chức năng đô thị trong các kế hoạch trung và dài hạn, và sẽ làm rõ cơ quan quản lý hành chính phát triển đô thị. [GO]

    3. Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp cụ thể bao gồm triệt để tuân thủ các quy tắc giao thông, giáo dục về ý thức giao thông, tăng cường kiểm soát và xử phạt các hành vi vi phạm giao thông. [MOTC]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét khả năng hỗ trợ Việt Nam thực hiện các biện pháp trên.

    35. Nâng cao hiệu quả vận tải và lưu thông

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ xem xét cho phép các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài hơn 50%) được tham gia vào lĩnh vực vận tải. [MOTC, MPI]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện việc tăng cường chức năng các cảng biển phía Nam và phía Bắc, hệ thống đường giao thông nối liền các cảng biển và đô thị [MOTC].

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét khả năng hỗ trợ Việt Nam thực hiện các hoạt động trên.

    36. Điện lực

    1. Chính phủ Việt Nam xác nhận sẽ không áp dụng hạn chế vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực điện lực (20%) và không quy định vấn đề này trong Luật Điện lực (thực hiện ngay). [MOI]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện chính sách giá điện theo phương châm giảm bù chéo đối với giá điện sản xuất và các nhóm khách hàng khác nhằm có giá điện cho sản xuất cạnh tranh với các nước trong khu vực. [MOI]

    3. Chính phủ Việt Nam sẽ xóa bỏ cơ chế hai giá trong giá điện trong năm 2004. [MOI: WT3]

    4. Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực thực hiện cung cấp điện có chất lượng và ổn định cho người sử dụng điện trong đó có các nhà sử dụng điện năng lớn. [MOI]

    5. Chính phủ Việt Nam sẽ căn cứ theo quy hoạch tổng thể phát triển điện lực tiến hành xây dựng các nhà máy điện theo đúng lộ trình đã đề ra. [MOI]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét khả năng tiếp tục hỗ trợ việc xây dựng các nhà máy điện nằm trong danh sách Long List thông qua tín dụng vốn vay đồng yên và tín dụng quốc tế.

    37. Cải thiện hạ tầng viễn thông

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục giữ mức giá cước viễn thông trung bình trong khu vực. Chính phủ Việt Nam sẽ có thể tiếp tục giảm giá cước viễn thông quốc tế (bao gồm phí điện thoại quốc tế, phí dịch vụ thuê đường truyền quốc tế) bằng cách đầy mạnh hiệu quả sản xuất, giảm giá dịch vụ cho các doanh nghiệp tham gia vào thị trường. [MPT: WT3]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ hỗ trợ các nhà cung cấp Internet nâng cao năng lực để đảm bảo an ninh, độ tin cậy và hiệu quả của mạng.

    Với các mục đích trên, Chính phủ Việt Nam có thể đẩy nhanh tiến độ đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghệ thông tin.

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét khả năng hỗ trợ Việt Nam thực hiện các biện pháp trên.

    38. Xử lý nước thải và chất thải công nghiệp

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện khảo sát về thực trạng chất thải công nghiệp và bắt đầu tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể cho việc tái sinh và xử lý chất thải phù hợp (trong vòng 1 năm). Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ cải thiện cơ sở vật chất của các công ty môi trường công cộng làm nhiệm vụ xử lý chất thải công nghiệp. [MONRE]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ đảm bảo việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường và việc kiểm tra, xử phạt một cách công bằng đối với tất cả các doanh nghiệp vi phạm xử lý chất thải. [MONRE]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét khả năng hỗ trợ Việt Nam xây dựng quy hoạch tổng thể nhằm cải thiện cơ chế xử lý chất thải.

    39. Tích cực sử dụng nguồn vốn ODA của JBIC vào phát triển hạ tầng kinh tế

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ hợp tác với các cơ quan liên quan của Nhật Bản tiến hành các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao hiểu biết việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng quốc tế. Chính phủ Việt Nam sẽ tiến hành nghiên cứu thực trạng sử dụng nguồn vốn tín dụng quốc tế tại các nước ASEAN, nghiên cứu về lợi thế cũng như phương pháp sử dụng các nguồn vốn này để áp dụng vào trong các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và nhà máy trong thực tế. [MPI]

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét hợp tác hỗ trợ Việt Nam trong việc tổ chức các hội thảo cho hoạt động tuyên truyền.

    2. Chính phủ Việt Nam thực hiện việc bảo lãnh chính phủ một các mềm dẻo đối với các dự án phát triển cơ sở hạ tầng và nhà máy lớn. [MOF]

    5) Các biện pháp hỗ trợ các nhà đầu tư đã đầu tư vào Việt Nam

    40. Phát triển công nghiệp ôtô

    Chính sách phát triển công nghiệp ôtô và hệ thống thuế (tập trung vào ôtô khách)

    1. Trong việc xây dựng kế hoạch phát triển của ngành công nghiệp ôtô và phụ tùng linh kiện, Chính phủ Việt Nam sẽ lắng nghe ý kiến của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét khả năng hỗ trợ việc xây dựng quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp ôtô thông qua các chương trình hỗ trợ (ví dụ: cử sang các chuyên gia kỹ thuật). [MOI]

    2. ( Phía Nhật Bản đề nghị ghi nhận rằng: Chính phủ Việt Nam sẽ trình Quốc hội xem xét về Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt trong trường hợp việc áp dụng Luật thuế này có ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường xe gắn máy. Nhóm làm việc bao gồm các nhà sản xuất xe gắn máy và các Bộ có liên quan của Chính phủ Việt Nam sẽ đánh giá ảnh hưởng này vào tháng 4/2004 và thường xuyên sau đó. Chính phủ Việt Nam sẽ duy trì thuế nhập khẩu CKD hiện nay tới năm 2007. Chính phủ Việt Nam sẽ tạm thời hoãn việc bỏ danh mục CKD1 vào tháng 1/2004 (CKD 1 cần thiết cho việc thử nghiệm)

    Hai bên quyết định: sẽ tiếp tục thảo luận về các vấn đề này thông qua Ủy ban Đánh giá và Xúc tiến, và sẽ báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ hai nước về kết quả thảo luận. )

    3. Công thức tính tỷ lệ nội địa hóa và các khoản mục khấu trừ sẽ được áp dụng như quy định trong Phụ lục của Hiệp định đầu tư Nhật Việt. Về thời gian áp dụng nghĩa vụ nội địa hóa, thời gian áp dụng sẽ kéo dài đến khi Việt Nam gia nhập WTO hoặc cuối năm 2006 tùy theo thời điểm nào đến trước. Tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc sẽ có mức trần 5%. [MOI, MPI]

    Xe tải đã qua sử dụng

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ xây dựng lộ trình (trong vòng 1 năm) nhằm ban hành quy định cấm nhập khẩu xe tải cỡ vừa (hơn 5 tấn) đã qua sử dụng trên 5 năm tương tự như quy định cấm nhập khẩu xe tải cỡ nhỏ (dưới 5 tấn). [MOT]

    2. (Phía Nhật Bản đề nghị ghi nhận rằng: Chính phủ Việt Nam sẽ giữ mức thuế chênh lệch giữa một số loại xe tải đã qua sử dụng và xe tải mới ít nhất ở mức hiện tại là 50% từ năm 2004 trở đi. Chính phủ Việt Nam sẽ duy trì mức thuế nhập khẩu CKD hiện nay tới năm 2007.

    Phía Việt Nam đề nghị ghi nhận rằng: Chính phủ Việt Nam sẽ nâng thuế suất nhập khẩu đối với một số loại xe tải đã qua sử dụng cao hơn so với thuế nhập khẩu xe tải mới vào năm 2004. [MOF]

    Hai bên quyết định: sẽ tiếp tục thảo luận về các vấn đề này thông qua Ủy ban Đánh giá và xúc tiến, và sẽ báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ hai nước về kết quả thảo luận. )

    3. Cục Đăng kiểm Việt Nam không cấp giấy chứng nhận đăng kiểm đối với những xe tải đã sử dụng quá 25 năm (thực hiện trong vòng nửa năm tới). [MOTC]

    41. Phát triển công nghiệp xe máy

    1. Hai bên thảo luận về bản chất của Luận chứng kinh tế kỹ thuật (F/S) mà các nhà đầu tư nước ngoài thường được yêu cầu nộp cho Chính phủ Việt Nam khi đăng ký xin giấy phép đầu tư. Phía Nhật Bản trình bày cách hiểu về F/S: F/S chỉ là dự báo khả năng của doanh nghiệp tại thời điểm đăng ký xin giấy phép đầu tư, nó không có ý nghĩa giới hạn hoạt động của doanh nghiệp. Phía Nhật Bản coi việc giới hạn mức sản xuất của doanh nghiệp thông qua F/S là không tuân thủ hiệp định đầu tư song phương và có ảnh hưởng xấu tới đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam. Chính phủ Việt Nam khẳng định rằng về nguyên tắc F/S không phải là căn cứ hạn chế mức sản xuất của doanh nghiệp. Chính phủ Việt Nam ghi nhận rằng có thể khống chế, thông qua việc có báo trước và có trao đổi với các bên liên quan, mức sản xuất của doanh nghiệp tùy theo điều kiện kinh tế xã hội, quy mô thị trường nội địa và năng lực thực tế của doanh nghiệp. [MOI, MPI: WT1]

    Hai bên quyết định sẽ tiếp tục thảo luận các vấn đề trên thông qua Ủy ban Đánh giá và xúc tiến. Với hướng đó cũng sẽ khuyến khích các cuộc gặp tao đổi giữa Chính phủ Việt Nam và các ngành công nghiệp có liên quan như Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Nhật Bản (JAMA).

    2. Hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp xe máy và linh kiện [MOI]

    Bộ Công nghiệp thành lập tổ công tác gồm các thành viên bên ngoài có khả năng phân tích và phán đoán tình hình một cách khách quan (do các nhà học giả hay JICA lựa chọn) tiến hành nghiên cứu một cách chi tiết các điều kiện và khả năng phát triển ngành công nghiệp xe máy trên cơ sở khảo sát các kế hoạch sản xuất của các doanh nghiệp. Căn cứ trên kết quả này (có thể có nhiều kịch bản khác nhau) Chính phủ chỉ định Bộ Công nghiệp là đầu mối phối hợp với các bộ, ngành có liên quan, căn cứ trên ý kiến của các nhà sản xuất xe máy (bao gồm cả các nhà sản xuất trong nước và đầu tư nước ngoài), tiến hành hoạch định chiến lược phát triển đồng bộ cho ngành xe máy (thực hiện trong vòng 01 năm tới). (Việt Nam cần thực hiện ngay các biện pháp sau để giúp Việt Nam trở thành một Trung tâm sản xuất và xuất khẩu xe máy toàn cầu:

    i) Điều tra khảo sát thực tế tình hình sản xuất các phụ tùng linh kiện chủ yếu

    ii) Các biện pháp phát triển sản xuất, kế hoạch tập trung sản xuất các phụ tùng linh kiện nhập khẩu với số lượng lớn và chuyển giao công nghệ nhằm xúc tiến việc nội địa hóa các phụ tùng linh kiện này

    iii) Đáp ứng các yêu cầu của ngành công nghiệp để có thêm tính cạnh tranh trong xuất khẩu

    iv) có các chiến lược hợp tác và cạnh tranh với Nhật Bản, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc và các nước khác

    v) có các biện pháp để mọi người tuân thủ quy định giao thông và giảm tai nạn giao thông. )

    Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét khả năng hỗ trợ Việt Nam xây dựng quy hoạch tổng thể cho ngành công nghiệp xe máy.

    Điều chỉnh phân loại thuế suất nhập khẩu đối với các phụ tùng linh kiện xe máy và thực hiện các biện pháp ưu đãi cho xuất khẩu

    1. Sửa đổi thuế suất nhập khẩu cho phụ tùng linh kiện xe máy

    Chính phủ Việt Nam sẽ xem xét lại việc phân nhóm phụ tùng linh kiện và thuế suất nhập khẩu trên danh mục thuế xuất nhập khẩu hiện hành. Thuế suất nhập khẩu sẽ được thiết lập căn cứ trên tiêu chí phụ tùng linh kiện bị áp thuế có thể sản xuất hay mua ở trong nước bởi các doanh nghiệp phụ tùng linh kiện trong nước và đầu tư nước ngoài hay không. Mức thuế suất cao sẽ được áp dụng đối với những phụ tùng linh kiện có thể sản xuất được trong nước, còn đối với phụ tùng linh kiện đòi hỏi công nghệ cao không sản xuất và mua được ở trong nước thì sẽ áp dụng mức thuế suất thấp. Trong quá trình xây dựng danh mục phân nhóm các phụ tùng linh kiện, ý kiến các nhà sản xuất xe máy và phụ tùng linh kiện sẽ được xem xét và phản ánh vào danh mục. Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện các biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp sản xuất phụ tùng linh kiện xe máy. [MOF]

    2. Thực hiện các biện pháp ưu đãi cho xuất khẩu

    Nhằm xúc tiến xuất khẩu trong công nghiệp sản xuất xe máy, Chính phủ Việt Nam sẽ nghiên cứu và thực hiện các các biện pháp ưu đãi cho xuất khẩu thông qua việc lắng nghe ý kiến của các nhà sản xuất. [MOF]

    Tiêu chuẩn quản lý chất lượng xe máy và phụ tùng

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ trao đổi ý kiến của với các nhà sản xuất xe máy có vốn đầu tư nước ngoài trước khi ban hành các tiêu chuẩn chất lượng và các biện pháp kiểm tra nhằm đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả. (MOST, MOTC)

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ đơn giản hóa thủ tục về tiêu chuẩn chất lượng bằng việc phối hợp và phân chia nhiệm vụ của các tổ chức có liên quan. (MOST, MOTC)

    42. Phát triển công nghiệp điện và điện tử

    1. Chính phủ Việt Nam sẽ xem xét hệ thống thuế nhập khẩu mới cho cụm linh kiện trong đó khuyến khích các công ty lắp ráp điện và điện tử trong nước tiếp tục nỗ lực nâng cao tỷ lệ nội địa hóa đồng thời đảm bảo sự phù hợp với các quy định của WTO-TRIM. [MOF, MPT, MOI, MOT]

    2. Chính phủ Việt Nam sẽ nhanh chóng xây dựng và công bố một cơ chế thuế mới trong năm 2004 trong đó tiến tới xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với các chủng loại linh kiện mà các nhà sản xuất linh kiện đầu tư nước ngoài vào trong nước không thể sản xuất được nhằm tăng cường sức cạnh tranh và tăng cường nội địa hóa các doanh nghiệp lắp ráp. [MOF, MPT, MOI, MOT]

    3. Chính phủ Việt Nam sẽ hoạch định quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện và điện tử trong vòng 01 năm làm kim chỉ nam cho các doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực này. [MPT, MPI] Chính phủ Nhật Bản sẽ xem xét khả năng hỗ trợ Việt Nam xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện và điện tử.

    4. Xây dựng tiêu chuẩn công nghiệp: nhằm hiện đại hóa các tiêu chuẩn công nghiệp và xúc tiến việc thống nhất với tiêu chuẩn ISO, củng cố các tiêu chuẩn có liên quan và củng cố chức năng của Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng nơi thẩm tra tiêu chuẩn sản phẩm. [MOST]

    43. Xóa bỏ hạn chế về tỷ lệ đầu tư tối thiểu (40%) khi tăng vốn đầu tư tại các doanh nghiệp liên doanh sản xuất xi măng

    Chính phủ Việt Nam sẽ xóa bỏ hạn chế về tỷ lệ vốn 40% (Quyết định của Thủ tướng số 164 tháng 11/2001 về quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp xi măng), đồng thời tuyên bố rõ bằng các văn bản pháp luật cho phép tỷ lệ góp vốn được quyết định bởi các bên tham gia liên doanh (thực hiện ngay). [MOC: WT1]

    44. Vấn đề về tín dụng dài hạn của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank - VCB)

    Chính phủ Việt Nam sẽ yêu cầu Ngân hàng ngoại thương giải quyết vấn đề nợ tồn đọng. Chính phủ sẽ hướng dẫn Ngân hàng ngoại thương tìm các giải pháp ngay lập tức và thực hiện những biện pháp cần thiết như tạo cơ hội cho các bên liên quan thảo luận với nhau. Công việc này sẽ được thực hiện vào tháng 3/2004.

    Các bước tiếp theo của Sáng kiến chung Nhật Bản - Việt Nam

    Mục đích của Sáng kiến chung Nhật Bản - Việt Nam là xác định và đưa ra các biện pháp ưu tiên mà Chính phủ Việt Nam cần thực hiện nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế của Việt Nam. Sáng kiến này dựa trên ý tưởng Chính phủ hai nước sẽ cam kết tích cực huy động khả năng của mình để thực hiện mục trên thông qua quá trình đối thoại ở cấp cao. Kết quả của Sáng kiến chung sẽ là Kế hoạch hành động. Điểm quan trọng đặc biệt là Kế hoạch hành động được thực hiện trong khuôn khổ thời gian đã được thống nhất. Do vậy, cần phải có một cơ chế thực hiện có hiệu quả. Các nội dung trong Kế hoạc hành động đều có mục đích cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam nên về nguyên tắc cần được phía Việt Nam thực hiện một cách chủ động. Mặt khác, có những nội dung mà sự hỗ trợ từ phía chính phủ Nhật Bản là thích hợp và có ý nghĩa. Về những nội dung này, các bước tiếp theo cũng cần xem xét đến sự hợp tác từ phía Nhật Bản, trong đó có việc sử dụng viện trợ ODA của Nhật Bản. Căn cứ vào tính chất của kế hoạch hành động, các bước tiếp theo của kế hoạch hành động sẽ được tiến hành theo phương thức sau:

    oàn thành (các mốc thời gian)

    Thời hạn thực hiện các nội dung trong kế hoạch hành động được chia thành hai loại, bao gồm: (1) những nội dung có thời hạn hành động rõ ràng (ví dụ “thực hiện ngay”, "thực hiện trong hai năm", “tại lần sửa đổi Luật tới đây", "cuối năm 2004”) và (2) những nội dung có thời hạn thể hiện mong muốn thực hiện trong thời gian tới (ví dụ: "càng sớm càng tốt"). Không có mốc thời gian nào dài hơn 2 năm.

    Mỗi nội dung trong kế hoạch hành động đều ghi rõ ở phần cuối tên Bộ hoặc cơ quan của Việt Nam chịu trách nhiệm thực hiện nội dung hành động nhằm làm rõ trách nhiệm thực hiện.

    (3) Các bước tiếp theo

    Phân công trách nhiệm trong các bước tiếp theo

    (i) Nhóm công tác Thương mại và Đầu tư Việt Nam - Nhật Bản

    Nhóm công tác Thương mại và Đầu tư Việt Nam - Nhật Bản là diễn đàn thường xuyên do Việt Nam và Nhật Bản đồng tổ chức có sự tham gia của các cơ quan nhà nước và các ngành. Hầu hết các nội dung thực hiện của phía Việt Nam quy định trong kế hoạch hành động, ngoại trừ (a) các hạng mục về xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế phần cứng, hay (b) các hạng mục liên quan đến từng doanh nghiệp cụ thể, về nguyên tắc các bước tiếp theo sẽ được tiến hành và xúc tiến trong khuôn khổ Nhóm công tác về đầu tư và thương mại Việt- Nhật. Đối với các nội dung do Nhóm công tác Thương mại và Đầu tư Việt Nam - Nhật Bản thực hiện, sau tên của cơ quan có trách nhiệm thực hiện có ghi thêm tên của đội công tác Working Team (ví dụ: WT1) thuộc Nhóm công tác này. Những nội dung liên quan riêng đến từng ngành (biện pháp hỗ trợ cho các nhà đầu tư đã đầu tư vào Việt Nam, như trong các ngành ôtô, xe máy, điện-điện tử,...), sẽ được tiếp tục trong khuôn khổ hình thức đối thoại về chính sách giữa Chính phủ Việt Nam và từng Hiệp hội ngành nghề Nhật Bản.

    (Ghi chú: các hạng mục liên quan đến cải thiện các quy định liên quan đến sử dung cơ sở hạ tầng kinh tế sẽ do Nhóm công tác về đầu tư và thương mại Nhậ t- Việt phụ trách)

    (ii) Về các vấn đề của riêng từng doanh nghiệp, hai bên sẽ thực hiện các bước tiếp theo trong trường hợp cần thiết.

    (iii) Đối với các nội dung hành động của phía Việt Nam quy định trong Kế hoạch hành động được xem xét nghiên cứu thực hiện với sự hỗ trợ ODA từ phía Nhật Bản (với trọng tâm là xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, nâng cao năng lực, cải thiện thể chế liên quan đến đầu tư) sẽ thực hiện các bước tiếp theo với sự tham gia của phía Nhật Bản bao gồm các Bộ ngành có liên quan, JICA, JETRO, JBIC theo hướng kết nối một cách có hiệu quả nhất với các chương trình viện trợ ODA từ năm 2003 trở đi trong phạm vi ngân sách hạn hẹp hiện nay do điều kiện khó khăn về ngân sách và xu hướng giảm ODA. Ngoài ra các nội dung này cũng sẽ tiếp tục được thảo luận trong khuôn khổ đối thoại chính sách ODA hàng năm nhằm xúc tiến thực hiện.

    Kế hoạch giám sát và đánh giá Sáng kiến chung Nhật Bản-Việt Nam

    (i) Sau khi Kế hoạch hành động được thông qua, ban thư ký của Sáng kiến chung Nhật Bản - Việt Nam sẽ trình báo cáo tình hình tiến độ thực hiện cho các thành viên của Nhóm công tác, về nguyên tắc 6 tháng 1 lần. Nhóm công tác sẽ được tổ chức lại thành “Ủy ban theo dõi” nhằm mục đích theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch hành động. Việc giám sát cần được thực hiện 6 tháng một lần trong 2 năm và “Ủy ban theo dõi” sẽ thúc đẩy việc thực hiện Kế hoạch hành động của Sáng kiến nếu việc thực hiện (các biện pháp và thời hạn) không đạt được như quy định trong Kế hoạch hành động.

    (ii) Sau 1 hoặc 2 năm kể từ khi Kế hoạch hành động được thông qua, sẽ thiết lập “Ủy ban đánh giá - xúc tiến” bao gồm các thành viên của Ủy ban hỗn hợp, nhằm tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện đồng thời thực hiện các biện pháp tăng cường (như báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Chính phủ) nhằm thúc đẩy hơn nữa việc thực hiện Kế hoạch hành động. Sau đó căn cứ trên kết quả thảo luận giữa hai phía Nhật Bản và Việt Nam, sẽ tiến hành các bước tiếp theo nếu cần thiết.

    (4) Liên hệ với chính sách ODA của Nhật Bản

    Căn cứ theo Chương trình viện trợ mới của Nhật Bản đối với Việt Nam, rất nhiều yếu tố trong “Môi trường thể chế chính sách” được đánh giá hàng năm, có xem xét đến mặt định tính của quy mô ODA cho Việt Nam. Kết quả đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch hành động sẽ là một yếu tố quan trọng đối với phía Nhật Bản trong việc đánh giá, xem xét “Môi trường thể chế chính sách” nêu trên của Việt Nam.

    (Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Sáng kiến chung Nhật Bản - Việt Nam

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Sáng kiến chung Nhật Bản - Việt Nam bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Sang kien chung Nhat Ban Viet Nam ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Sáng kiến chung Nhật Bản - Việt Nam ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Văn Hóa của chuyên mục Văn Hóa.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - VĂN HÓA - TIN VĂN HÓA