“Ông tiên thuốc Nam”

Chủ nhật, 31 Tháng mười hai 2006, 09:40 GMT+7
  • TPCN - Thuốc Nam lúc đầu phát không, sau bán rất rẻ nhưng chữa được khá nhiều bệnh, Nguyễn Trọng Tấn lại được người dân trong vùng gọi một cách kính cẩn và trìu mến: “Ông tiên thuốc Nam”.

    Ong tien thuoc Nam
    Bút tích của GS Hoàng Xuân Hãn viết về phép “Đái tung khai phương” của cụ Nguyễn Trọng Tấn
    Tôi không được cái may mắn có họ hàng với cụ, cũng không được cùng quê với cụ. Trước Cách mạng tháng Tám, quê tôi thuộc huyện Can Lộc, quê cụ thuộc huyện Đức Thọ, nhưng tôi được biết tiếng cụ từ lâu. Không những vì cụ là thân phụ của nhà cách mạng Nguyễn Tạo, mà còn vì cụ là một nhà trí thức uyên bác, một bậc lão thành đáng kính.

    Về nhà cách mạng Nguyễn Tạo, chắc nhiều người đã biết vì đã được nói nhiều trên sách báo. Ông là một trong những người đầu tiên được Đảng giao nhiệm vụ xây dựng ngành công an, trực tiếp lãnh đạo Nha điệp báo. Ông là người chủ chốt trong việc khám phá “Vụ Ôn Như Hầu” ở Hà Nội…

    Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Nguyễn Tạo được chuyển sang mặt trận kinh tế, phụ trách ngành Lâm nghiệp. Ngành lâm nghiệp Việt Nam coi ông là biểu tượng, là cây đại thụ của ngành.

    Nguyễn Tạo là con trai thứ của cụ Nguyễn Trọng Tấn.

    Cụ Nguyễn Trọng Tấn (1869-1955) xuất thân từ một gia đình quan lại yêu nước. Thân phụ của cụ từng là tri huyện Võ Nhai thuộc tỉnh Thái Nguyên. Thân mẫu người họ Đào, quê ở xã Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, Hà Tây.

    Khi thân phụ đang tại chức Tri huyện, nhận được Chiếu Cần Vương của Vua Hàm Nghi, đã bỏ chức về quê hương Hà Tĩnh tham gia phong trào Cần Vương. Bị giặc Pháp bắt giam một thời gian rồi giao về quản chế ở làng.

    Nguyễn Trọng Tấn bẩm thụ được tinh hoa, khí tiết của bố mẹ, thông minh, hiếu học, Khoa thi Hương năm Giáp Ngọ đậu tú tài hán học. Cả xã Thái Yên thời kỳ này chỉ có một mình cụ đỗ tú tài nên thường được gọi là cụ tú Thái Yên.

    Gia đình muốn cụ tiếp tục theo con đường cử nghiệp, nhưng chán cảnh trường ốc, thi cử, chán việc học để làm quan, cụ chuyển sang nghiên cứu y học cổ truyền, nghề của các cụ tổ để lại.

    Nhờ kiên trì học tập, nghiên cứu, nghề thuốc của cụ ngày càng giỏi, được bà con xa gần tín nhiệm. Đặc biệt là môn thuốc nhãn khoa (chữa đau mắt) hết sức linh nghiệm. Rất nhiều, rất nhiều người đau mắt nặng tưởng sắp bị mù (trong đó có cả người viết bài này) đã nhờ bài thuốc của cụ mà lành bệnh.

    Sau những năm làm nghề y ở quê, cụ chuyển ra thành phố Vinh mở hiệu thuốc lấy tên là Tam An đường, cái tên mà đến nay nhiều người vùng Nghệ An – Hà Tĩnh vẫn thường nhắc. Cụ từng là sáng lập viên Hội Y học Trung Kỳ, giữ chức Phó hội trưởng phụ trách phần chuyên môn. Bác sĩ Lemoine, người Pháp, Giám đốc bệnh viện Vinh, từng mời cụ công tác chữa bệnh cho một số người Pháp và ngoại kiều…

    Về sau, Lemoine đổi vào Huế, lại giới thiệu cụ vào chữa bệnh cho bà và mẹ vua Bảo Đại. Cảm phục tài năng và đức độ của cụ, Bảo Đại đã mời cụ ở lại làm quan Ngự y trong triều, nhưng chốn quan trường đâu phải là nơi thích hợp, cụ đã kiên quyết từ chối, trở về thành phố Vinh theo nghề cũ.

    Việc từ chối công danh của cụ khiến người ta nhớ lại chuyện xưa đời Lê – Trịnh: Lê Hữu Trác, một bậc thần y, một lần được vời ra kinh chữa bệnh cho Chúa Trịnh, Chúa giữ lại làm quan, cũng đã từ chối và xin trở về sống với vùng Bàu Thượng thôn dã của huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh.

    Lê Hữu Trác tự nhận mình là Lãn Ông (Ông già lười). Học tập bậc tổ sư của mình, Nguyễn Trọng Tấn thời làm thuốc ở Vinh, lấy biệt hiệu là “Tiểu man tử” tức là “Anh Mường con”. ở bức bình phong trong cửa hiệu thuốc của cụ có chạm khắc 3 chữ: “Tiểu Man Oa”, nghĩa là “Hang anh mường con”.

    Theo người nhà cho biết, mặc dù lấy giá thuốc rất rẻ, hàng năm cụ thu lợi từ nghề bốc thuốc đến bảy tám chục cây vàng. Nhưng đến tuổi 65, cụ đã giao cửa hiệu ở Vinh cho người con trưởng quản lý, trở về làng quê Thái Yên tập trung thời gian nghiên cứu thuốc Nam, viết sách và chăm lo việc xây dựng quê hương.


    Cụ chuyển sang nghiên cứu thuốc Nam, vì biết rằng thuốc bắc của mình tuy được đông đảo người bệnh mến mộ, nhưng phần nhiều phải dùng dược liệu Trung Quốc, giá hơi cao, không hợp với túi tiền dân nghèo. Mà muốn nghiên cứu thuốc Nam, tiếp tục sự nghiệp của các bậc danh y tiền bối “Nam dược trị nam nhân” thì không thể ở thành phố mà phải về nông thôn quê hương, tiện cho việc sưu tầm,gieo trồng các cây Nam dược.

    Thuốc Nam lúc đầu phát không, sau bán rất rẻ nhưng chữa được khá nhiều bệnh, cụ lại được người dân trong vùng gọi một cách kính cẩn và trìu mến: “Ông tiên thuốc Nam”.

    Về làm sách, theo lời tự thuật trong bản gia phổ do chính tay mình lập, cụ cho biết đã biên soạn được khoảng 70 cuốn sách thuốc gồm: Y học nhập môn; Cách chẩn đoán bệnh; Sách thuốc thông thường; Phụ khoa; Nhi khoa; Châm cứu; Thương hàn toản yếu; Dược liệu thuốc Nam; v.v..

    Về các loại sách khác, có các tập Hán Việt từ điển, Cổ văn lược, Tiền tam thiên tự, Hậu tam thiên tự, Trung nam ngạn ngữ, Thi phú tế văn quốc ngữ v.v...

    Là một nhà Hán học, điều lạ là cụ vẫn để tâm nghiên cứu về toán. Cũng trong bản tự thuật cụ viết: “Ngồi buôn ở phố thì bàn toán tiện hơn bút toán, mà ghép chia thì phép cửu qui tiện hơn, cho nên tôi không học toán Tây, mà học toán Tàu, đặt thành thơ ca, vẽ ra đồ bản, nghiên cứu đến 3 năm tròn mới thành bản sách toán chữ Hán…”

    Về khả năng toán học của cụ Tú Tấn, trong thư đề ngày 25 tháng 7 năm 1979 gửi từ Paris về cho các con cháu của cụ, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết: “Tôi không bao giờ quên những giờ tôi đã ngồi hầu chuyện cụ, chuyện nhân tình thế thái, chuyện cổ chuyện kim, cho đến chuyện cụ đam mê toán học. Tôi không nhớ cụ xem sách toán bằng Hán văn nào?

    Nay nhân câu chuyện, tôi nhắc cho hàng cháu chắt bài ca “Đái tung khai phương” của cụ đã đọc cho nghe hồi trước…”. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã ghi lại trong thư bài đó về phép tính chiều dài và chiều rộng của hình chữ nhật, khi biết diện tích và hiệu số giữa hai cạnh; nói cách khác là phép lập và giải phương trình bậc hai để tính x và y khi biết xy và y-x.

    Điều rất đáng tiếc là tất cả các công trình nghiên cứu biên soạn của cụ đã nêu trên chỉ còn danh mục trong gia phả, còn về văn bản cụ thể thì tất cả đã bị thất lạc, hủy hoại qua các biến động xã hội. Ngay cả quyển gia phả do cụ lập (trong đó có phần tự thuật của cụ) cũng bị người ta đem bán ở một cửa hàng giấy loại ở Vinh, may mà một người cháu ngoại tình cờ bắt gặp đã mua lại được.

    Đáng nói hơn cả về cuộc đời cụ Tú Tấn là đã đóng góp những người con cho cách mạng. Con trai thứ của cụ, em ruột của Nguyễn Tạo cũng đã tham gia cách mạng từ những năm 1930-1931.

    Biết các con cụ theo cách mạng, mật thám Pháp hồi đó đã có lần đòi cụ đến tra hỏi. Cụ khảng khái trả lời: “Các ông bảo tôi có tội ư? Nếu vậy thì tôi chỉ có tội là đã sinh ra chúng. Còn vì sao chúng làm cách mạng thì người Pháp các ông nên tự hỏi mình. Các ông đối xử với người Việt Nam như thế nào để đến nỗi con tôi và rất nhiều người khác chống lại các ông?”.

    Mật thám Pháp rất bực tức, nhưng biết cụ là một nhân sĩ, một lương y được đông đảo người dân trọng vọng, đụng đến không phải dễ, chúng đành thả cụ.

    Để kết luận bài viết này xin được nhắc lại câu nói của người xưa: “Hổ phụ sinh hổ tử”; “Cha nào con nấy”. Dĩ nhiên không phải trong mọi trường hợp câu nói đó đều đúng. Nhưng ở đây có thể nói câu nói đó là rất chính xác.

    Nguyễn Trọng Thụ

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin “Ông tiên thuốc Nam”

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết “Ông tiên thuốc Nam” bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Ong tien thuoc Nam ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc “Ông tiên thuốc Nam” ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Văn Hóa của chuyên mục Văn Hóa.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - VĂN HÓA - TIN VĂN HÓA