Nhà văn công dân

Chủ nhật, 26 Tháng chín 2004, 08:15 GMT+7
  • Nha van cong dan
    Nguyên Ngọc - nhà văn hóa Tây nguyên

    TTCN - Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh hứa với giới văn nghệ sĩ và trí thức tỉnh nhà sẽ lấy tên ông đặt cho một con đường mới ở Đà Nẵng.

    Nghe vậy, chủ tịch thị xã Hội An Nguyễn Sự bảo: thành phố to, thủ tục thì lâu lắc, quê ông lại ở Hội An, Hội An lấy tên ông đặt tên đường mới là cái sự đương nhiên. Ông nghe những chuyện như vậy thì chỉ cười: “mấy cậu đó dễ thương nhưng cứ hay đùa những chuyện nghiêm túc”.

    Với ông, đó là chuyện nghiêm túc, không phải chỉ là chuyện “bia đá đề danh”, chuyện để lại một cái tên cho hậu thế. Ông muốn tất cả những gì mà mình làm, với tư cách một trí thức, một công dân, đều hữu ích và thiết thực cho dân mình, nước mình. Bởi vậy, ông đã kiên quyết từ chối giải thưởng Nhà nước dành cho sự nghiệp văn học của mình với lý do: tất cả những gì tôi viết là do sự nghiệp của nhân dân hối thúc, đòi hỏi, và chỉ có nhân dân mới có quyền trao tặng vinh dự cho những tác phẩm chính họ lựa chọn.

    Trong ký ức của Nguyên Ngọc, gần 70 năm đã trôi qua nhưng vẫn còn nguyên vẹn hình ảnh mẹ ông bưng rổ bánh vạc đi từng nhà “kỉnh” (biếu) bà con hàng phố để cảm ơn vì hôm qua nhà có việc, cả phố chạy sang giúp. Ở Hội An, tiếng là phố thị nhưng tất cả mọi người đều biết nhau, đều là xóm giềng. Cái tình người nơi phố cổ đó là điều mà ông tự hào nhất khi nói về mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình.

    Ông đi kháng chiến, mấy chục năm không về phố Hội nhưng mỗi ngôi nhà, cánh cổng, mỗi nhà thờ họ, bến sông ông vẫn nhớ. Lý giải vì sao ở Hội An giữ được gần như nguyên vẹn nếp sống cũ của mình, ông nhìn nhận rất “chủ quan”: vì người dân Hội An không bị chơi “trò diễn văn hóa”. Họ làm vậy vì cuộc sống họ như vậy, chứ không phải để mấy ông truyền hình về quay phim hay mấy chú Tây balô chụp ảnh lưu niệm. Lần nào về quê ông cũng ráo riết với lãnh đạo địa phương: “Cái khó của mấy anh bây giờ không phải là xây dựng, mở mang thêm cái gì mà làm sao để cho các nhà đầu tư đừng xây thêm gì nữa. Hội An chật chội quá rồi”.

    Người con của hai vùng văn hóa

    Nha van cong dan
    Lê hội đâm trâu của đồng bào dân tộc ở Tây nguyên
    Nhưng “làm trai chí ở mười phương”, ngày rời phố Hội, chính ông cũng không ngờ phần lớn cuộc đời còn lại của mình lại gắn chặt với một vùng đất lạ, mênh mang kỳ vĩ là Tây nguyên. Mười bảy tuổi, ông theo đoàn quân kháng chiến lên Tây nguyên lần đầu. Từ Ba Na đầu tiên mà ông được học là “Tôi đói, cho tôi ăn” và “Tôi khát, cho tôi uống”. Không biết tiếng đồng bào dân tộc thì chắc chắn là đói, khát và... chết. Cho nên phải học, phải hiểu, phải cùng sống, cùng làm rẫy, cùng chiến đấu với đồng bào. Chỉ thiếu mỗi chuyện cà răng căng tai, còn thì không có việc gì đồng bào làm được mà ông và đồng đội không làm được.

    “Đã có lúc chúng ta hiểu đồng bào và đồng bào yêu quí chúng ta đến thế, hơn cả anh em ruột thịt, vì còn có chung nhau một tấm lòng yêu rừng, yêu làng, yêu buôn rẫy, cùng chung sức đuổi giặc Tây. Suốt thời chông Mỹ, cũng vẫn thế, chúng ta sống với Tây nguyên như với làng mình, nhà mình, anh em mình. Sao bây giờ lại xa dân đến thế?“. Câu hỏi ấy ông đặt ra với mình, với đồng đội, với các nhà văn viết về Tây nguyên, với các nhà khoa học, các nhà báo, các nhà lãnh đạo từ trung ương đến địa phương mà ông có dịp tiếp xúc. Ông bức xúc từ chuyện xây “nhà rông văn hóa” cột bêtông, tường quét sơn xanh đỏ đến việc nhìn thấy các em nhỏ người dân tộc đi ăn xin ở ngoại ô Đà Lạt. Là một người rất biết cách kiêm chế cảm xúc, vậy mà mỗi lần nói đến chuyện Tây nguyên, ông cũng làm cho người đối diện phải ứa nước mắt.

    Mối thâm tình với anh hùng Núp suốt nửa thế kỷ đã khiến ông có vai trò như một già làng ở Tây nguyên. Dân nghe lời ông trí thức Tây nguyên, nể trọng ông, còn ông thì lúc nào cũng như người mắc nợ: “Hà Nội xa Tây nguyên quá, mình lại già rồi, không phải năm nào cũng vào được. Giá mà ông Núp còn sống. Phải có người đủ uy tín để nói về những sai lầm với lãnh đạo, và đồng thời được dân tín nhiệm để có thể đứng ra khuyên giải khi họ bị kẻ xấu kích động”. Ông nói giọng buồn rười rượi, nhưng không thở dài, buông xuôi. Tôi biết, ông sẵn sàng nói đi nói lại đến 1.000 lần không mệt mỏi về Tây nguyên nếu có người chịu nghe. Ông là người lạc quan kinh khủng.

    Nhà trí thức của thời đại mình

    Đồng nghiệp thành đạt nhất của thế hệ ông - nhà văn Nguyễn Khải, người được giải thưởng Hồ Chí Minh và đến tuổi ngoài 70 vẫn còn viết đều viết khỏe, có bạn đọc rộng rãi - dành cho ông những lời lẽ khiêm cung nhất: “Tôi không quyết liệt được như anh, cũng không có kiến văn sâu như anh... Anh là nhà tư tưởng của thế hệ chúng tôi”.


    Có lẽ, đã và sẽ không có một nhà văn nào khi còn sống, mà lại không có chức tước gì, được đồng nghiệp đương thời đánh giá như vậy. Nhưng Nguyên Ngọc xứng đáng với điều đó, không chỉ bằng tác phẩm mà bằng cả cuộc đời mình.

    Là một người lính viết văn (ông rời quân ngũ với cấp bậc đại tá, sang Hội Nhà văn làm phó tổng thư ký kiêm tổng biên tập báo Văn Nghệ), nhưng ông không thuộc lớp các “nhà văn trung úy”, kiến thức của ông sâu rộng như một người nghiên cứu văn hóa ở nhiều lĩnh vực. Với vốn tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ, ông dịch các tác phẩm kinh điển ra tiếng mẹ đẻ bằng một thứ tiếng Việt khoa học, chuẩn xác nhưng duyên dáng đến mức tài hoa. Tiểu luận Kundera; Rừng, đàn bà, điên loạn; Chúng tôi ăn rừng... là những sách công cụ mà ông bỏ hàng năm trời để dịch và hiệu đính. “Những cuốn sách không thể thiếu được với những người viết văn, người nghiên cứu Tây nguyên. Mình mà không dịch thì không mấy ai bỏ công dịch”- ông phân trần khi bà vợ cằn nhằn vì ông làm việc quá sức, lên cơn huyết áp phải nhập viện.

    Hi sinh sự viết lách của cá nhân mình, ông chủ trương dành quĩ thời gian ít ỏi còn lại để dịch những tác phẩm mà ông cho là công cụ không thể thiếu của người làm văn hóa. Và dành thời gian để đi. Ông già 72 tuổi càng ngày càng thấy cần phải đi. Ông đề xuất với người lãnh đạo ở quê ông - bí thư Quảng Nam - cho phép thí điểm mô hình trả lại đất cho làng Tây nguyên. Ông cùng người bạn già - GS Đặng Nghiêm Vạn - đưa ra những thống kê xã hội học cùng những số liệu, sử liệu sách vở từ xưa đến nay, từ thời Tự Đức, qua Pháp thuộc đến nay để chứng minh rằng mô hình sở hữu đất đai hợp lý nhất ở Tây nguyên là sở hữu qua cộng đồng làng. Đất được trả cho làng, những cánh rừng mới mọc lại, những nhà rông, nhà gươl mới làng tự cất, những đêm rượu cần, kể khan được hồi sinh, ông vui như đứa trẻ: “Vào Quảng Nam đi, vui lắm, đồng bào cất nhà gươl mới rồi”.

    Nhưng ông không chỉ là người tự hào với những giá trị văn hóa truyền thống, ông biết nhìn xa hơn thế. Từ Tây nguyên về, ông lao ngay vào cuộc “chiến đấu” của các nhà khoa học đề nghị cải cách hệ thống giáo dục. Các bạn ông - do GS Hoàng Tụy đứng đầu - là những người tâm huyết với việc xây dựng một nền giáo dục dân chủ, lành mạnh và lấy con người làm trung tâm. Ông cùng họ nghiên cứu, vạch chiến lược, diễn thuyết, viết báo, vận động đồng nghiệp trong và ngoài nước... Nhưng không ai tưởng tượng nổi ông còn là một nhà “chạy tài trợ” đại tài.

    Cảm phục tư tưởng và tấm lòng của các nhà khoa học, một nhóm nhà doanh nghiệp đã quyết định đầu tư 10 triệu USD để xây dựng Đại học Quảng Nam - thí điểm của mô hình đại học tư thục kiểu mới mà các nhà khoa học đang kiến nghị và Chính phủ đã chấp thuận. “Cháu và vợ cháu nghĩ kỹ rồi. Đầu tư vào đây cũng như để đức cho con cháu, quyết không lấy một xu tiền lãi nào”- một chủ doanh nghiệp trẻ tuổi mới ngoài 30, đang xây dựng nhà máy ôtô tải lớn nhất VN ở Quảng Nam sôi nổi bày tỏ với nhà văn già.

    Ở tuổi 72, Nguyên Ngọc vẫn chưa có thời gian cho mình. Tác phẩm của ông không nhiều, nếu không nói là quá ít so với tài năng của ông. Còn được nhắc đến chỉ có: Đất nước đứng lên, Đất Quảng, Đường chúng ta đi... Lúc là lính thì lo chiến đấu, lúc làm cán bộ thì lo chỉ huy anh em ăn no đánh thắng, lúc làm tông biên tập báo Văn Nghệ thì lo tìm cho ra được những cây bút có tài và đăng tác phẩm của họ bằng mọi giá. Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh, hai cây bút lớn nhất của thời đổi mới, chắc chắn còn nhớ cảm xúc lần đầu được đăng truyện ngắn trên báo Văn Nghệ những năm 1987 - 1988. Để có được những truyện ngắn ấy và sau này là những tên tuổi ấy, cùng với số phát hành 10 vạn bản - kỷ lục chưa từng có của một tờ báo chuyên về văn học - là bao nhiêu trí lực của ông Nguyên Ngọc đã đổ ra. Ông đã chấp nhận cả sự trả giá. Tại Đại hội Nhà văn VN lần 5 ngay sau đó, ông biết thê nào là “giá của chữ nghĩa”. Không một lời ta thán, không kể công, cũng không ngậm ngùi, ông tiếp tục làm công việc của mình dù chẳng tổ chức nào phân công, cũng không ai buộc ông làm.

    Vẫn đi về giữa Hà Nội - Hội An - Tây nguyên, vẫn dịch sách và làm “cải cách giáo dục”, Nguyên Ngọc vẫn chưa cần biết đến cái lẽ “xuất xử” của các nhà nho. Với ông, chẳng có cái gọi là thời thế. Là trí thức thì phải lao động, và lao động vì dân mình, thế thôi.

    THU HÀ

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Nhà văn công dân

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Nhà văn công dân bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Nha van cong dan ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Nhà văn công dân ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Văn Học của chuyên mục Văn Hóa.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - VĂN HÓA - VĂN HỌC