Nhà thơ của “Núi đôi” đã về cõi vĩnh hằng

Thứ hai, 03 Tháng mười hai 2007, 22:05 GMT+7
  • Nhà thơ Vũ Cao sau thời gian dài bị tai biến mạch máu não đã từ gia cõi đời vào lúc 1h50" phút sáng nay 3/12, tại Hà Nội.

    Nha tho cua Nui doi da ve coi vinh hang
    Nhà thơ Vũ Cao cùng vợ.

    Ông sinh năm 1922 tại Vụ Bản, Nam Định, nhập ngũ năm 1946 và là phóng viên của Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, viết cho các báo Vệ quốc quân, Quân đội nhân dân...

    Ngay sau ngày nhập ngũ, ông được điều vào ngay khu IV và vài tháng sau đã có mặt ở chiến Việt Bắc. Những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ và thiếu thốn là nơi thử thách ngọn lửa cách mạng nhiệt tình của tuổi trẻ và càng rèn giũa cho những người cầm bút trẻ như ông hồi đó bản lĩnh và ý chí cách mạng.

    “Ba cùng” với bộ đội và nhân dân, ông và các đồng nghiệp có mặt ở các hào quân sự và khắp các nẻo đường hành quân của chiến dịch Điện Biên Phủ, nghe biết bao câu chuyện cảm động về tinh thần chiến đấu dũng cảm và hy sinh quên mình của đồng bào và chiến sỹ ở mọi miền Tổ quốc…

    Hăng hái tham gia các chiến dịch, liên tục và kịp thời đưa tin, bài và sáng tác thơ cổ vũ, động viên quân và dân ta hăng say chiến đấu, ông cùng với hoạ sỹ Mai Văn Hiến, nhà thơ Từ Bích Hoàng gắn bó với nhau như hình với bóng và trở thành “bộ ba” xông xáo có mặt ở nhiều nơi.

    Chính những năm ở Việt Bắc, Vũ Cao đã gặp được người bạn đời của mình - một cán bộ của Cục Tuyên huấn và họ làm lễ cưới ngay tại chiến khu Việt Bắc. Lễ cưới vào buổi tối phải thắp đuốc, chỉ đơn sơ với mấy gói lạc rang và ấm nước chè xanh. Đồng chí Lê Quang Đạo, lúc đó là Cục trưởng Cục Tuyên huấn làm chủ hôn.

    Men say tình yêu cùng với cảm hứng từ thực tế chiến đấu thôi thúc ông sáng tác ở nhiều mảng đề tài, cả làm thơ và viết truyện ngắn. Sau này, khi hoà bình, trong một lần về xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn viết phóng sự, ông đóng quân cùng bộ đội, nghe nhân dân kể câu chuyện về người con gái anh hùng và mối tình cảm động, ông về cặm vụi viết bên ngọn đèn bấc leo lét và bài thơ Núi đôi ra đời ngay sau đêm ấy.

    Vũ Cao ngoài đời cũng giản dị và mộc mạc như những vần thơ của ông. Ông vẫn mặc những trang phục của dân nhà lính dù đã nghỉ hưu khá lâu rồi. Vài năm nay, Vũ Cao chỉ loanh quanh trong nhà vì chân đã yếu. Những đồng nghiệp của ông ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội còn nhắc, hồi mới nghỉ hưu, dịp Tết nào ông cũng đi bộ từ nhà ở đường Hoàng Hoa Thám đến trụ sở của Tạp chí ở Lý Nam Đế để chúc Tết anh em, đồng nghiệp. Khi đó, ông kể về những kỷ niệm đón Tết trong rừng cùng các chiến sỹ, với mấy chiếc bánh chưng nhưng vẫn luôn có một cái Tết ấm cúng và đượm sắc Xuân.

    Ba người con của ông bây giờ đều đã trưởng thành. Ông đã có nhiều cháu, chắt. Cô cháu nội Sơn Trà theo nghiệp báo của ông, giờ đang công tác tại báo Hà Nội mới.

    Vài ba năm nay Vũ Cao không còn làm thơ được nữa. Sau một trận tai biến mạch máu não, trong ông là một khoảng trống mênh mông… Và giờ ông trở về với cõi riêng của mình, nhưng Núi đôi của ông trở thành một biểu tượng hào hùng, đẹp đẽ và vĩnh hằng trong nền thơ ca cách mạng VN.


    Cùng đọc lại một trong những bài thơ quan trọng đã làm nên tên tuổi của Vũ Cao.

    NÚI ĐÔI

    Vũ Cao

    Bảy năm về trước em mười bảy
    Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng
    Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa
    Bữa thì em tới bữa anh sang.

    Lối ta đi giữa hai sườn núi
    Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
    Em vẫn đùa anh sao khéo thế
    Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.

    Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
    Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
    Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn
    Đâu ngờ từ đó mất tin nhau.

    Anh vào bộ đội lên Đông Bắc
    Chiến đấu quên mình năm lại năm
    Mỗi bận dân công về lại hỏi
    Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng.

    Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi
    Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
    Mỗi tin súng nổ vùng đai địch
    Sương trắng người đi lại nhớ người.

    Đồng đội có nhau thường nhắc nhở
    Trung du làng nước vẫn chờ trông
    Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm
    Em vẫn đi về những bến sông.

    Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
    Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi
    Hành quân qua tắt đường sang huyện
    Anh ghé thăm nhà thăm núi Đôi.

    Mới đến đầu ao tin sét đánh
    Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
    Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
    Em sống trung thành, chết thủy chung.

    Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
    Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
    Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
    Núi vẫn đôi mà anh mất em.

    Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo
    Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
    Mấy năm cô ấy làm du kích
    Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.

    Từ núi qua thôn đường nghẽn lối
    Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy
    Sân biến thành ao nhà đổ chái
    Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay,

    Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
    Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
    Nứa gianh nửa mái lều che tạm
    Sương nắng khuấy dần chuyện xót đau.

    Anh nghe có tiếng người qua chợ
    Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều
    Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
    Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.

    Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ
    Oán thù còn đó anh còn đây
    Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
    Đã chết vì dân giữa đất này?

    Ai viết tên em thành liệt sĩ
    Bên những hàng bia trắng giữa đồng
    Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí
    Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

    Anh đi bộ đội sao trên mũ
    Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
    Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
    Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

    Hoàng Yên

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Nhà thơ của “Núi đôi” đã về cõi vĩnh hằng

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Nhà thơ của “Núi đôi” đã về cõi vĩnh hằng bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Nha tho cua Nui doi da ve coi vinh hang ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Nhà thơ của “Núi đôi” đã về cõi vĩnh hằng ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Văn Học của chuyên mục Văn Hóa.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - VĂN HÓA - VĂN HỌC