Chương 2: Làn sóng công nghiệp Đông Á đầu thế kỷ XX

Thứ sáu, 20 Tháng mười 2006, 08:18 GMT+7
  • Chuong 2 Lan song cong nghiep Dong A dau the ky XX
    Có thể nói ít nhất trong 15 hoặc 20 năm tới, công nghiệp hoá là trọng điểm của chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam. Vậy công nghiệp hoá ở Việt Nam sẽ tiến hành trong một bối cảnh quốc tế như thế nào?

    Thương trường của Việt Nam đang mở rộng ra khắp thế giới. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khuynh hướng này sẽ càng mạnh hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước mắt, thách thức trực tiếp và cũng là cơ hội đối với công nghiệp Việt Nam là ở khu vực Đông Á. Tại đây, hai trào lưu đang nổi cộm và sẽ tác động đến sự phát triển của công nghiệp Việt Nam, đó là sự biến động trong làn sóng công nghiệp Đông Á và khuynh hướng tự do thương mại trong khu vực.

    Hiểu đúng tính chất và tác động của hai trào lưu này để định được phương hướng chiến lược cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tới là vấn đề tối quan trọng của kinh tế Việt Nam hiện nay. Chương này tập trung phân tích trào lưu thứ nhất, về sự biến động của làn sóng công nghiệp Đông Á, đặc biệt tìm hiểu xem sự phân công lao động giữa các nước đã thay đổi ra sao và vị trí của Việt Nam là ở đâu trong bản đồ công nghiệp hiện nay.

    2.1. Việt Nam trong làn sóng công nghiệp Đông Á: Mô hình đàn sếu bay xưa và nay

    Mô hình đàn sếu bay trước thử thách mới

    Trong mấy thập kỷ qua, phát triển công nghiệp lan tỏa nhanh tại khu vực Đông Á, bắt đầu từ Nhật Bản sang Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Xingapo (gọi chung là nhóm NIEs) sau đó đến bốn nước ASEAN phát triển trước (Malaixia, Thái Lan, Philíppin và Inđônêxia, dưới đây gọi chung là ASEAN-4) rồi Trung Quốc, v.v.. Hiện tượng này được diễn tả bằng mô hình đàn sếu bay (flying-geese development pattern) với các nội dung có thể được tóm tắt như sau11. Tư liệu, sách báo về mô hình này khá nhiều, ở đây chỉ giới thiệu hai nguồn mà nguời viết bài này đã phát biểu hoặc tham gia phát biểu: Trần Văn Thọ (1997, Ch. 1) và Kosai and Tran (1994). Những nguồn khác có phân tích tình hình gần đây nhất sẽ được đề cập trong phần sau. : Do vùng Đông Á gồm nhiều nhóm nước có các giai đoạn phát triển khác nhau, nên một ngành công nghiệp (tạm gọi là ngành A) thường được bắt đầu phát triển tại Nhật Bản, sau đó chuyển sang NIEs rồi ASEAN-4, sau nữa là đến Trung Quốc và tiếp theo có thể là Việt Nam và các nước khác; các nước đi trước sau khi mất lợi thế so sánh trong ngành A đã nỗ lực chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang những ngành có giá trị gia tăng cao với trình độ công nghệ cao hơn (ngành B rồi C, D, v.v.. khi B, C… cũng như A chuyển dần sang các nước khác). Đây là hiện tượng đuổi bắt (catch-up) nhiều tầng trong quá trình công nghiệp hoá ở Đông Á, tạo nên tính năng động của khu vực này. Yếu tố đưa đến hiện tượng này là nỗ lực tích luỹ tư bản, công nghệ tại các nước đi sau và quá trình đó được thúc đẩy bằng đầu tư trực tiếp và các hình thái chuyển giao công nghệ khác từ các nước đi trước.

    Cho đến đầu thập niên 1990, hầu hết các nhà nghiên cứu kinh tế đều cho rằng việc áp dụng mô hình đàn sếu bay để giải thích sự lan toả của công nghiệp tại vùng Đông Á là có cơ sở. Nhìn toàn cục, ta thấy có sự tiến triển nhanh trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước theo hướng công nghiệp hoá, các nước đi sau đuổi theo các nước đi trước, rút ngắn khoảng cách phát triển công nghiệp. Chẳng hạn, Biểu đồ 2.1 cho thấy hiện tượng đuổi bắt ấy trong lĩnh vực xuất khẩu. Hiện nay, tại hầu hết các nước Đông Á, 80% kim ngạch xuất khẩu là hàng công nghiệp (NIEs, không vẽ trong hình, đã đạt mức gần 100% từ thập niên 1980). Ngay cả tại Inđônêxia, một nước trước đây chuyên xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt, tỷ trọng của công nghiệp trong tổng xuất khẩu cũng đã đạt mức 60%.

    Khảo sát sự phát triển của từng ngành công nghiệp ta cũng thấy có hiện tượng đuổi bắt tương tự. Chẳng hạn, trường hợp ngành dệt may, lợi thế so sánh chuyển từ Nhật Bản sang NIEs vào đầu thập niên 1970, sang ASEAN-4 từ thập niên 1980 và từ cuối thập niên đó chuyển sang Trung Quốc. Một thí dụ khác: cho đến thập niên 1970 mới chỉ có Nhật Bản sản xuất tivi màu, nhưng ngành này bắt đầu phát triển tại Hàn Quốc và Đài Loan từ cuối thập niên 1970, rồi tại Malaixia và Thái Lan từ cuối thập niên 1980, và Trung Quốc trở thành nước sản xuất tivi màu nhiều nhất thế giới từ nửa sau thập niên 1990. Do quá trình đuổi bắt này, lượng sản xuất tại Nhật Bản giảm nhanh và phải nhập khẩu nhiều từ các nước Đông AÙ (Nhật sản xuất 15 triệu chiếc tivi màu năm 1990 nhưng chỉ còn độ 3 triệu chiếc vào năm 2000, trong thời gian đó nhập khẩu tăng từ 1 đến 9 triệu chiếc).

    Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1990, với sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, sự phát triển của công nghệ thông tin, sự rút ngắn nhanh chóng khoảng cách công nghệ giữa các nước, nhiều người đã đặt nghi vấn về tính thuyết phục của mô hình đàn sếu bay11. Bản báo cáo về kinh tế châu Á của Tổng cục kinh tế kế hoạch Nhật Bản (Keizaikikakuchou 2000) cho rằng nhờ công nghệ thông tin nên các nước đi sau ở Đông Á có thể đồng loạt sản xuất ngay trong các ngành công nghiệp có công nghệ cao, tiến lên ngang hàng với các nước đi trước. Sách Trắng về thương mại quốc tế của Bộ Công thương Nhật (Keizaisangyoushou 2003) xem sự lớn mạnh của Trung Quốc là yếu tố có thể chấm dứt mô hình đàn sếu bay. Tôi có dịp phản luận các ý kiến phủ nhận mô hình này trong cuốn sách viết chung mấy năm trước (Trần Văn Thọ và những người khác (2001). . Từ các nghi vấn này, có thể nêu vài điểm quan trọng nhìn từ góc độ Việt Nam: thứ nhất, với quy mô và tốc độ phát triển của Trung Quốc, với vùng tây nam rộng lớn và chưa phát triển của nước này, làn sóng công nghiệp có thể sẽ không lan toả tiếp xuống các nước có trình độ phát triển thấp hơn như Việt Nam mà lan rộng trong nội bộ Trung Quốc. Thứ hai, Trung Quốc xuất khẩu hầu như tất cả các loại hàng công nghiệp, từ các ngành có hàm lượng lao động cao đến các sản phẩm sử dụng nhiều tư bản và công nghệ cao, gây ra sự bất ổn trong trật tự phân công lao động ở Đông Á; các nước đi sau như Việt Nam khó chen chân vào cơ cấu phân công mới này, các nước ASEAN, NIEs và cả Nhật Bản cũng đứng trước một thách thức lớn. Dưới đây sẽ kiểm chứng các luận điểm này.

    Khuynh hướng mới của làn sóng công nghiệp Đông Á

    Khảo sát những khuynh hướng, đặc tính của sự phân công lao động hiện nay tại vùng Đông Á có thể thấy bức tranh công nghiệp khu vực có những đặc tính sau:

    Thứ nhất, khu vực này đang ngày càng trở thành nhà máy sản xuất hàng công nghiệp của thế giới, đặc biệt là các loại máy móc từ đồ điện gia dụng, xe hơi, xe máy, máy chụp hình... đến các loại phần cứng của công nghệ thông tin như máy tính cá nhân, điện thoại di động. Có thể nhiều người sẽ ngạc nhiên khi xem thị phần của các nước này trong tổng lượng sản xuất của thế giới. Hiện nay, Đông Á sản xuất khoảng 95% máy nghe nhạc DVD, 85% máy tính xách tay, gần 100% ổ đĩa cứng máy tính, 70% máy cát xét (cassette), gần 80% máy phim đèn chiếu (VTR), 80% máy điều hoà không khí, 60% tivi màu và 30% xe hơi của thế giới. Công nghiệp hoá tiến nhanh và cơ cấu ngày càng hướng vào những ngành có giá trị gia tăng cao.

    Thứ hai, do tiền lương và phí tổn sản xuất giữa các nước không đồng đều, trong khi đó chu kỳ công nghệ của các ngành ngày càng rút ngắn nên cơ sở sản xuất chuyển dịch nhanh từ nước này sang nước khác. Khi công nghệ vừa được khám phá và triển khai thì cơ sở sản xuất được đặt tại nước có công nghệ hoặc những nơi có nguồn nhân lực có trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật cao. Nhưng khi công nghệ đã được tiêu chuẩn hoá thì cơ sở sản xuất di chuyển đến những nơi mà nhân công lao động thấp, tài nguyên, vật liệu trung gian huy động dễ dàng. Tại Đông Á, ta đã thấy các nhà máy trong nhiều ngành công nghiệp đã di chuyển từ Nhật Bản sang các nền kinh tế công nghiệp hoá mới như Hàn Quốc, Đài Loan, rồi sau đó chuyển sang ASEAN và Trung Quốc. Nhiều nước giữ vị trí áp đảo trong một số ngành nào đó, nhưng chỉ sau vài năm thị phần giảm nhanh vì các công ty đa quốc gia di chuyển hoặc lập thêm các cơ sở sản xuất tại các nước khác trong vùng. Chẳng hạn, năm 2000 Nhật Bản chiếm 73% thị phần thế giới về máy chụp hình kỹ thuật số (digital camera) nhưng đến năm 2003 thị phần giảm còn 55%. Năm 2000, Đài Loan sản xuất 55% máy tính cá nhân loại nhỏ nhưng sang năm 2003, Trung Quốc trở thành nước sản xuất hàng đầu với thị phần là 35%. Trong thời gian đó, trong ngành VTR, Trung Quốc phải nhường vị trí hàng đầu thế giới cho Inđônêxia. Điểm này cho thấy mô hình đàn sếu bay vẫn có thể áp dụng để khảo sát làn sóng công nghiệp Đông Á, mặc dù quá trình được rút ngắn hơn so với trước đây.

    Thứ ba, sau vài thập niên phát triển, khoảng cách công nghệ giữa các nước trong vùng Đông Á được rút ngắn. Điều này được phản ánh trong hiện tượng các nước ASEAN và Trung Quốc, những nước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá, ngày càng giành được sự phân công sản xuất hoặc thực thi những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong toàn bộ chuỗi giá trị (value chain) của từng ngành công nghiệp. Biểu đồ 2.2 biểu diễn chu trình sáng tạo giá trị gia tăng của một ngành công nghiệp. Đặc biệt, trong các ngành sản xuất máy móc như máy tính cá nhân, máy giặt, máy chụp hình, v.v., trước đây các nước ASEAN và Trung Quốc chủ yếu phụ trách công đoạn lắp ráp, công đoạn giá trị gia tăng thấp nhất nhưng bây giờ họ đã leo lên các tầng trên thượng nguồn của chuỗi giá trị, đặc biệt là giai đoạn sản xuất bộ phận, linh kiện.

    Thứ tư, do khuynh hướng công nghiệp hoá lan rộng và đi vào chiều sâu nói trên, thương mại tại Đông Á cũng có một số chuyển dịch quan trọng:

    Như đã đề cập và minh hoạ trong Biểu đồ 2.1, xuất khẩu của các nước hiện nay chủ yếu là hàng công nghiệp. Trong công nghiệp, các nước Đông Á ngày càng có lợi thế so sánh trong các ngành máy móc như đồ điện gia dụng và công nghệ thông tin. Các loại máy móc này đã chiếm trên 60% trong tổng xuất khẩu của Malaixia, 45% của Thái Lan, và 40% của Trung Quốc vào năm 2002. Con số tương ứng của Philíppin là 75%, một con số đáng ngạc nhiên. Như sẽ thấy dưới đây, thành quả xuất khẩu của Philíppin cũng đáng chú ý ở các mặt khác nữa.

    Do các nước đồng loạt tiến về thượng nguồn trên chuỗi giá trị (di chuyển từ D lên C và B trong Biểu đồ 2.2), sự phân công trong nội bộ các ngành sản xuất máy móc được tiến hành nhanh chóng. Các nước Đông Á vừa xuất và nhập các linh kiện, bộ phận liên quan đến các loại máy móc. Chẳng hạn, vào năm 2002, các bộ phận, linh kiện điện tử và chất bán dẫn có kim ngạch xuất khẩu hàng đầu tại Hàn Quốc, Xingapo, hàng thứ hai tại Nhật Bản và hàng thứ 10 tại Trung Quốc, nhưng tại tất cả các nước này, trên 70% kim ngạch xuất khẩu là hướng vào các nước Đông Á. Phụ tùng thiết bị cho các loại máy móc dùng ở văn phòng có kim ngạch xuất khẩu hàng thứ tư tại Nhật Bản, thứ sáu tại Hàn Quốc, thứ ba tại Trung Quốc và nhiều nước ASEAN cũng có tỷ lệ xuất khẩu sang Đông Á rất cao. So sánh Bảng 2.1 và Bảng 2.2 ta thấy nhiều mặt hàng Trung Quốc và ASEAN xuất khẩu nhiều nhất cũng là những mặt hàng họ nhập khẩu nhiều nhất, và những mặt hàng đó có khuynh hướng xuất và nhập trong nội bộ vùng Đông Á. Ngược lại, những mặt hàng mà các nước này chủ yếu xuất chứ không nhập khẩu (ví dụ như dụng cụ thể thao, đồ chơi, giày dép, các loại quần áo, thiết bị thu âm, đồ điện gia dụng, v.v.) thì tỷ lệ buôn bán trong vùng thấp (vì chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Âu - Mỹ).


    Vị trí của Trung Quốc trên bản đồ ngoại thương Đông Á khiến nhiều nước lo ngại, nhưng phân tích kỹ ta thấy các nước khác vẫn có thể tìm ra lợi thế so sánh mới để duy trì, phát triển một sự phân công lao động với nền kinh tế lớn mạnh này. Trong một thời gian dài, kinh tế Trung Quốc phát triển với tốc độ cao (trung bình 10%/năm, gần đây 7-8%/năm), chủ yếu là phát triển công nghiệp và ngày càng hướng ngoại (tỷ lệ xuất khẩu trên GDP tăng từ 7% năm 1980 lên 15% năm 1990 và lên tới gần 30% những năm gần đây). Hiện nay, trên 90% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc là hàng công nghiệp (Biểu đồ 2.1). Từ năm 2002, Trung Quốc là nước có thị phần lớn nhất trong tổng nhập khẩu của Nhật Bản. Hiện nay Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn thứ ba trên thế giới. Những sự kiện này dễ gây ấn tượng rằng Trung Quốc đã áp đảo các nước khác, và sự thực Trung Quốc đã có gây khó khăn cho một số nước gần với Trung Quốc về trình độ phát triển, về cơ cấu kinh tế.

    Tuy nhiên, kinh tế Trung Quốc phát triển khiến nước này trở thành một thị trường rộng lớn, tạo cơ hội cho nhiều nước ở Đông Á đẩy mạnh xuất khẩu. Nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng từ 110 tỷ năm 1995 lên tới 561 tỷ USD năm 2004. Và như Bảng 2.1 và 2.2 đã cho thấy, Trung Quốc vừa xuất và vừa nhập nhiều loại linh kiện hay sản phẩm trung gian và những loại này chủ yếu xuất và nhập giữa Trung Quốc với các nước trong vùng Đông Á. Dĩ nhiên thị trường Trung Quốc không phải mang lại cơ hội đồng đều cho các nước ở trong vùng mà cơ hội đó tuỳ thuộc vào năng lực cạnh tranh của các nước. Ta có thể dùng ma trận mậu dịch (trade matrix) để khảo sát vấn đề này.

    Bảng 2.3 là ma trận mậu dịch hàng công nghiệp giữa các nước Đông AÙ (có thêm “Thế giới” để chỉ tổng xuất khẩu của các nước và thêm Mỹ là thị trường quan trọng của hầu hết các nước Đông Á). Nhìn hàng ngang từ bên trái sang ta biết được kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của từng nước Đông Á sang các nước Đông Á khác, sang Mỹ và thế giới. Hàng trên là kim ngạch xuất khẩu năm 1992, hàng dưới là năm 2002.

    Ma trận này giúp ta biết được nước nào đã xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc nhiều nhất và trong khoảng 10 năm qua nước nào đã thành công trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường lớn này. Bảng 2.3 cho thấy Nhật Bản là nước có thị phần lớn nhất (38 tỷ năm 2002), tiếp theo là Hàn Quốc, sau đó là Xingapo. Kết quả này không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng đáng ngạc nhiên là tốc độ thâm nhập của Hàn Quốc và nhiều nước ASEAN vào thị trường Trung Quốc từ năm 1992 đến 2002. Trong thời gian đó, Hàn Quốc xuất khẩu hàng công nghiệp sang thế giới tăng gấp đôi nhưng sang Trung Quốc thì tăng gần 10 lần (hiện nay Hàn Quốc chiếm gần 10%, ngang hàng với Mỹ, trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc. Các nước ASEAN cũng chiếm khoảng 10%, Nhật Bản gần 20%). Xuất khẩu của Philíppin tăng 15 lần, Thái Lan 24 lần, Malaixia 14 lần (Việt Nam cũng tăng nhiều nhưng xuất phát từ một con số ban đầu quá nhỏ).

    Như vậy, tuy một mặt đã trở thành nhà máy của thế giới và xuất khẩu nhiều loại hàng công nghiệp, nhưng mặt khác Trung Quốc cũng ngày càng trở thành thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp của các nước khác ở Đông Á. Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy tuy đã bắt đầu tiến lên thượng nguồn trên chuỗi giá trị, song Trung Quốc vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu nhiều bộ phận, linh kiện và các sản phẩm trung gian khác, nhất là những mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao11. Chẳng hạn, xem Kwan (2002), Lall and Albaladejo (2004), Gilboy (2004). .

    2.2. Vị trí của Việt Nam trong bản đồ công nghiệp Đông Á

    Bảng 2.4 cho thấy hàng công nghiệp hiện nay chiếm khoảng 60% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam. Con số này tương đang với Thái Lan vào giữa thập niên 1980. Hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng công nghiệp nhẹ, tập trung vào các ngành may mặc và giày dép (riêng hai mặt hàng này chiếm gần 40% tổng xuất khẩu vào năm 2003). Nhưng phần lớn nguyên vật liệu và sản phẩm trung gian trong các hàng xuất khẩu này phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Ngoài ra, máy móc các loại chỉ chiếm khoảng 8% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam. Như đã đề cập, con số tương ứng vào năm 2001 của nhiều nước Đông Á là từ 40 đến 60% (riêng Philíppin trên 70%). Ngay cả Inđônêxia từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997) được xem là nước bị bỏ rơi trong quá trình phát triển mạnh mẽ ở Đông Á thì tỷ lệ đó cũng đạt 16%, cao gấp đôi Việt Nam. Để thấy rõ hơn vị trí của Việt Nam trong làn sóng công nghiệp Đông Á, ta thử khảo sát chỉ số cạnh tranh của từng nước trong một số ngành công nghiệp tiêu biểu.

    Nếu gọi X là xuất khẩu và N là nhập khẩu, chỉ số cạnh tranh của một nước trong một ngành công nghiệp nào đó được tính theo công thức sau:

    (X-N)/(X+N)

    Nếu chủ yếu là nhập khẩu và hầu như không xuất khẩu, chỉ số cạnh tranh sẽ bằng -1 (trừ 1). Đây là trường hợp nước này hoàn toàn không (hoặc chưa có) lợi thế so sánh trong ngành đang phân tích nên nhu cầu trong nước hoàn toàn phụ thuộc nhập khẩu. Ngược lại, nếu hầu như chỉ xuất khẩu và không nhập khẩu thì chỉ số cạnh tranh là 1. Đây là trường hợp ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ, có sức cạnh tranh áp đảo hàng nhập. Một trường hợp đặc biệt nữa là chỉ số cạnh tranh bằng 0 khi xuất và nhập hầu như bằng nhau. Trường hợp này có hai khả năng: nếu kim ngạch xuất và nhập rất nhỏ, đó là hiện tượng ngành công nghiệp đã qua giai đoạn thay thế nhập khẩu và bắt đầu chuyển sang giai đoạn xuất khẩu. Nếu kim ngạch xuất và nhập khá lớn thì đó là hiện tượng của sự phân công trong nội bộ một ngành công nghiệp (intra-industry division of labor) như ta đã thấy ở Bảng 2.1 và Bảng 2.2.

    Trong mô hình đàn sếu bay, chỉ số cạnh tranh của một nước trong một ngành công nghiệp thường bắt đầu bằng trừ 1 tiến dần đến 0 (quá trình thay thế nhập khẩu) sau đó tiến về trị số 1 (từ thay thế nhập khẩu sang xuất khẩu)11. Ngược lại trong mô hình của lý thuyết về chu kỳ sản phẩm (product cycle theory) của Vernon (1966), chỉ số cạnh tranh bắt đầu bằng 1 sau đó tiến đến 0 rồi tiến về hướng -1. .

    Từ khảo sát sự thay đổi trong chỉ số cạnh tranh của một số ngành công nghiệp chủ yếu, vị trí của Việt Nam trong làn sóng công nghiệp Đông Á có thể được tóm tắt như sau:

    Biểu đồ 2.3 cho thấy trong ngành dệt (textiles) Việt Nam phải nhập khẩu nhiều, chỉ số cạnh tranh rất thấp (-0,7 vào năm 2002), trong khi đó, trừ Philíppin, hầu hết các nước ASEAN đều xuất siêu ở mức cao. Điều này khẳng định lại nhận xét liên quan đến Bảng 2.3 là tuy ngành dệt may là hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, song phần lớn sản phẩm trung gian phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Các công ty thương mại hoặc thời trang của các nước tiên tiến nhập vải chất lượng cao vào Việt Nam, vẽ mẫu và đặt may gia công, sau đó xuất khẩu thành phẩm là quần áo. Áp dụng vào sơ đồ về chuỗi giá trị ở Biểu đồ 2.2, vị trí của Việt Nam chủ yếu ở khâu gia công, lắp ráp, còn những giai đoạn có giá trị gia tăng cao (thượng nguồn và hạ nguồn) phụ thuộc vào nước ngoài.

    Chỉ số cạnh tranh trong ngành linh kiện, bộ phận máy tính (Biểu đồ 2.4) hoặc trong ngành máy móc thiết bị điện tử (Biểu đồ 2.5) cho thấy mấy năm gần đây Việt Nam có cải thiện được vị trí cạnh tranh nhưng vẫn nhập siêu nhiều (chỉ số còn rất thấp, -0,6), trong khi đó hầu hết các nước ASEAN khác và Trung Quốc thì ở vị trí xuất siêu cao. Ngành xe hơi, xe vận tải (Biểu đồ 2.6) và ngành linh kiện, bộ phận xe hơi (Biểu đồ 2.7) thì Việt Nam hầu như chỉ nhập khẩu (chỉ số cạnh tranh -1). Đa số các nước ASEAN khác hoặc Trung Quốc cũng còn nhập siêu nhưng kim ngạch nhập siêu giảm nhanh, chỉ số tiến gần đến 0 và sắp chuyển sang số dương.

    Về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước lân cận, Việt Nam nhập siêu nhiều với Trung Quốc và với hầu hết các nước ASEAN. Năm 2003, Việt Nam nhập siêu với toàn thế giới là 5 tỷ USD nhưng riêng với các nước Đông Á nhập siêu lên tới gần 8 tỷ USD trong đó với Trung Quốc 1,4 tỷ và ASEAN 3 tỷ. Như sẽ thấy dưới đây, về cơ cấu thương mại, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu hàng công nghiệp và xuất khẩu nguyên liệu và nông sản phẩm, một cơ cấu hàng dọc thường thấy giữa một nước có trình độ phát triển thấp với các nước tiên tiến.

    Phân tích ở trên cho thấy Việt Nam đi sau khá xa các nước chung quanh về phát triển công nghiệp, thể hiện trong sự cách biệt về tỷ lệ hàng công nghiệp, đặc biệt là tỷ lệ sản phẩm máy móc các loại trong tổng xuất khẩu, trong chỉ số cạnh tranh của những ngành công nghiệp chủ yếu, trong cơ cấu phân công hàng dọc giữa Việt Nam với các nước này, và Việt Nam phải nhập siêu nhiều với các nước đó. Không kể một số nước mới gia nhập ASEAN (Lào, Campuchia và Mianma), Việt Nam là nước đi sau cùng trong quá trình công nghiệp hoá ở vùng Đông Á. Nhưng chiến lược đuổi bắt của Việt Nam trong quá trình đó đang đối mặt với một thách thức lớn: phải sớm tiến hành tự do hoá thương mại với các nước ở Đông Á. Những chương tiếp theo đây sẽ phân tích các vấn đề này.

    TRẦN VĂN THỌ

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Chủ đề liên quan: Chương 2: Làn sóng công nghiệp Đông Á đầu thế kỷ XX

    Nhận xét tin Chương 2: Làn sóng công nghiệp Đông Á đầu thế kỷ XX

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Chương 2: Làn sóng công nghiệp Đông Á đầu thế kỷ XX bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Chuong 2 Lan song cong nghiep Dong A dau the ky XX ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Chương 2: Làn sóng công nghiệp Đông Á đầu thế kỷ XX ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tác Phẩm của chuyên mục Văn Hóa.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - VĂN HÓA - TÁC PHẨM