Bàn tròn: Sửa mình để cất cánh

Thứ hai, 25 Tháng mười hai 2006, 18:40 GMT+7
  • Bên cạnh những tính cách, những ưu điểm đặc trưng, rất cần phải hun đúc lòng tự trọng, tự hào dân tộc để thế giới tôn trọng chúng ta và chúng ta cũng biết tôn trọng văn hóa của các dân tộc khác..

    Ban tron Sua minh de cat canh
    Biểu tượng Bay lên Việt Nam - Bản quyền TS

    TS đã có cuộc bàn tròn trực tuyến: “Đặc trưng văn hoá dân tộc và hội nhập” với PGS.TS Nguyễn Văn Huy - Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, bà Tôn Nữ Thị Ninh - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội và nhà báo Nguyễn Anh Tuấn.

    Bước vào sân chơi lớn WTO, hành trang văn hóa đa dạng và giàu có của chúng ta liệu có trở thành động lực thúc đẩy quá trình hội nhập tốt nhất như kỳ vọng? Theo cách nhìn thực tiễn, chúng ta có 54 dân tộc anh em cư trú khắp ba miền Bắc - Trung - Nam; mỗi địa bàn lớn như vậy lại có cả vùng biển, vùng đồng bằng, vùng núi cao v.v....

    Mỗi vùng, miền đều có những nét đặc thù, nên nếu định ra một kế hoạch phát triển văn hóa chung cho cả nước thì chính những nét đặc thù vô cùng quý giá sẽ cản trở, níu kéo làm chậm quá trình phát triển.

    Tạm lấy hình ảnh dễ hiểu như một cỗ xe tám ngựa mà sức mỗi con rất khác nhau, làm thế nào để tận dụng, phát huy được hết sức mạnh của mỗi con để cỗ xe tám ngựa ấy chạy nhanh nhất tới đích đang là bài toán cần có cách giải tối ưu.

    Tính cách, phong tục, tập quán... mỗi vùng miền mỗi khác nhưng đều bắt rễ bền chắc và biểu hiện qua mọi ứng xử trong cuộc sống hôm nay. Đặc điểm nào sẽ giúp chúng ta phát triển nhanh hơn, vững chắc hơn trong cuộc chơi hội nhập? Đặc điểm nào níu kéo, cản trở chúng ta cần phải loại bỏ dần trên con đường hội nhập?

    Đã lâu rồi chúng ta không còn thấy những người hàn nồi rong, cắt tóc dạo, hàn dép nhựa v.v...nữa. Điều này có nghĩa chất lượng cuộc sống đã được nâng cao, tính cần cù, chịu khó, tiết kiệm đã thay đổi về chất và nó phù hợp với cách hội nhập quốc tế. Cũng đã lâu lắm rồi, chúng ta tự hào về tính trọng tín, nghĩa nhưng rất hiếm khi chúng ta đúng giờ, đúng hẹn. Nhỏ là không đúng giờ, đúng hẹn; lớn là không giữ đúng và thực hiện đúng cam kết. Thói quen này có cản trở chúng ta trong cuộc chơi theo luật quốc tế?

    Năng lực chọn lựa để có những quyết định đúng luôn xuất phát từ những câu chuyện tưởng chừng nhỏ nhặt nhất.

    Dưới đây là nội dung cuộc bàn tròn:

    Ban tron Sua minh de cat canh

    Các vị khách tham gia bàn tròn trực tuyến.

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:- Thưa các bạn, với ước vọng dân tộc ta vươn lên sánh vai với bè bạn thế giới, hôm nay TS tiếp tục cuộc vận động Bay lên Việt Nam cùng hai vị khách mời: Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Quốc hội; PGS – TS Nguyễn Văn Huy, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Chủ tịch Hội Dân tộc học Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí Dân tộc và Thời đại.

    Nụ cười rất Việt Nam

    Trước hết, chúng ta hãy nói về bản sắc văn hóa Việt Nam, bản sắc con người Việt Nam. Thưa nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huy, giữa cộng đồng quốc tế, điểm gì tạo ra sự khác biệt để nhìn vào là biết ngay người Việt Nam chứ không phải người Trung Quốc, Hàn Quốc?

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Giữa một cộng đồng quốc tế, để nhận ra ai thuộc đất nước nào thì phải căn cứ vào ngôn ngữ, tiếng nói...

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:- Nhưng khi giao dịch với thế giới, ta sẽ phải dùng tiếng Anh, Pháp, Trung Quốc… Vậy ngoài tiếng nói, còn có đặc điểm gì để họ nhận ra người Việt Nam?

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Theo tôi, rất khó để người nước ngoài nhận ra người Việt Nam. Người phương Tây và Bắc Mỹ rất khó phân biệt người phương Đông thuộc quốc gia nào, đặc biệt là người ở Đông Nam Á, Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan...). Đương nhiên khi nghiên cứu về nhân chủng học thì lại là câu chuyện khác, nhưng khi tiếp cận với thế giới thì khó có sự phân biệt về ngoại hình. Không biết chị Ninh có nghĩ thế không?

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:- Tôi xin phép có ý nghĩ hơi khác một chút. Tôi nghĩ sự nhận biết của thế giới với con người Việt Nam là hệ quả của cả quá trình lịch sử. Những năm 1950, 1960, các nước phát triển châu Âu cũng như Mỹ thường nhầm ta là người Trung Quốc, thậm chí người Việt mở cửa hàng ăn cũng phải dùng bảng hiệu quán ăn Trung Quốc. Nhưng với quá trình đi lên, ta đã dần xác lập được vị trí trên bản đồ thế giới, nhận thức chung về Việt Nam cũng rõ nét hơn.

    Theo tôi, việc nhận ra người Việt Nam cũng tùy thuộc vào ai nhìn mình. Cũng như người chụp ảnh, nếu chưa điều chỉnh lăng kính thì có thể chỉ biết chung chung đây là người của vùng Đông Á hay Đông Nam Á. Còn xác định được người Việt thì cần phải có con mắt của người am hiểu hơn. Tôi đã nhiều lần hỏi các GS Mỹ có dịp sang Trung Quốc trước khi vào Việt Nam, rằng có gì khác giữa người Trung Quốc và người Việt Nam, đâu là điểm khác biệt nổi trội nhất? Câu đầu tiên họ bảo là "nụ cười"!

    Theo họ, có nhiều nét tương đồng về văn hóa, tác phong giữa hai nước, nhưng riêng nụ cười "hồn nhiên" của cả xã hội Việt Nam, từ người già đến trẻ con (không phải nụ cười xã giao, chuyên nghiệp trong công việc...) khiến họ rất ấn tượng. Hỏi sâu hơn thì ý họ muốn nói người Việt Nam cởi mở hơn, thân thiện hơn.

    Tôi đã nghe bình luận rằng ở khu vực Đông Nam Á, nước dễ tiếp thu tinh hoa của phương Tây nhất là Việt Nam. Có lẽ do sự có mặt của văn hóa Pháp suốt gần một thế kỷ liên tục.

    Còn một điểm thứ ba nữa. Những người bạn Mỹ của tôi miêu tả xã hội Mỹ là nơi thu nạp nhiều dòng người từ khắp nơi trên thế giới, vì thế hun đúc nên một tính cách, bản lĩnh riêng của người Mỹ. Tôi thấy Việt Nam cũng có nét riêng giống như thế, là nơi gặp nhau của các trào lưu văn hóa Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ (có người hỏi tôi tại sao Pháp lại gọi ta là Indochine?).

    Nói cách khác, với những người nghiên cứu một chút, chịu khó nhìn kỹ một chút, thì sẽ thấy Việt Nam khác các dân tộc xung quanh, khác cả Trung Quốc, dù ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc ở ta rất lớn.

    Năng lực tiếp nhận và cảm hóa

    Ban tron Sua minh de cat canh
    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:- Tôi đồng cảm với chị Ninh là nụ cười cởi mở, thân thiện của người Việt Nam đã để lại ấn tượng tốt với người nước ngoài. Tôi có người bạn học người Mỹ. Những năm đầu 1990 khi Việt Nam mới đổi mới, người bạn đó có dịp theo một số tổ chức từ thiện sang Việt Nam và rất ấn tượng về đất nước ta thân thiện, người dân có nụ cười tươi. Cuối 2005, sang lại Việt Nam người bạn đó rất mừng vì sau 15 năm đổi mới, xã hội sôi động và phát triển hơn, nhưng vẫn cái chất Việt Nam thân thiện, vẫn nụ cười đó, không thay đổi. Người bạn đó “để trái tim ở lại Việt Nam”.

    Có lẽ chính nụ cười cởi mở thân thiện của chúng ta đã chinh phục cả trái tim Tổng thống Mỹ George Bush. Ông nói ông rất xúc động khi đến Việt Nam, có ấn tượng rất tốt, cảm thấy có sự gần gũi lạ lùng.

    Đó là những biểu hiện bề ngoài, còn tính cách bên trong thì sao? Theo góc nhìn dân tộc học, Anh Huy nghĩ gì về vấn đề này? Anh nghĩ người Việt Nam có những đặc điểm nào không lẫn vào đâu được?

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Việt Nam là nơi giao lưu quốc tế từ xưa đến nay, vì ta ở ngã ba đường: Trung Quốc, Ấn Độ, Phương Tây và giờ là Bắc Mỹ. Với sự giao lưu như thế thì sức sống của người Việt Nam chính là sự hội nhập. Chính sự hội nhập giúp ta tiếp thu các nền văn minh, biến những thành tố bên ngoài mà ta cho là hợp lý thành thành tố của ta, thành động lực giúp ta đứng vững trong cuộc sống, cuộc đấu tranh. Đó chính là nhân tố, là sức mạnh tiềm tàng. Nên khi đổi mới, hội nhập thì ta phát triển rất nhanh.

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:Tôi rất hay nghĩ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong công tác đối ngoại, tôi thường xuyên đề cập đến cuộc đời Bác Hồ. Trong thế hệ cách mạng thời ấy, ai là người độc đáo đến mức đi tìm con đường giải phóng dân tộc bằng cách sang tìm hiểu chính mẫu quốc?

    Trong các hội nghị gần đây, nhiều người hỏi tôi sao Việt Nam với Mỹ hòa giải nhanh thế trong khi Việt Nam bị tổn thương nặng nề bởi cuộc chiến tranh do chính quyền Mỹ gây ra? Tôi trả lời là chúng tôi may mắn có người cha của dân tộc, người cha của Nhà nước Việt Nam hiện đại là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác đã dạy chúng tôi là "không lẫn lộn dân và chính quyền". Vì thế chúng tôi chưa bao giờ "bài ngoại", không bài bác văn hóa của nước áp đặt ách thực dân hay đưa quân sang đánh chúng tôi.

    Bác đã dạy chúng ta là văn hóa Pháp có những điểm tinh hoa mà ta phải trân trọng, phải học. Chính nhờ cách tiếp cận rất đặc biệt của Bác, không đóng cửa mà mở cửa tìm con đường giải phóng dân tộc. Nét đặc biệt đó trong Cách mạng Việt Nam do Bác Hồ lãnh đạo là rất đặc thù, hay phải chăng hội nhập là truyền thống của chúng ta?

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Tôi muốn bổ sung ý của chị Ninh bằng một trải nghiệm của chính tôi. Năm 2003 tôi đưa cuộc trưng bày "Việt Nam, những cuộc hành trình của con người, tinh thần và linh hồn" sang New York, Mỹ. Khách đến xem rất đông, trong đó có một nhóm người Mỹ gốc Hàn Quốc. Họ ôm lấy chúng tôi, bảo rằng cuộc chiến giữa họ (Hàn Quốc) và Nhật Bản đã kết thúc từ nhiều năm nhưng đến giờ họ vẫn chưa thể tổ chức một cuộc trưng bày. Họ khâm phục vì chúng ta đã giải quyết được nhanh như thế. Theo tôi, đó chính là sự khoan dung của người Việt Nam.

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:- Tôi rất tâm đắc với câu chuyện của anh Huy. Khi đến nói chuyện ở Đại học Stanford (Mỹ), tôi có gặp một GS Mỹ gốc Hàn Quốc. Ông ta bảo người Nhật - Trung Quốc - Hàn Quốc gặp nhau thì không khí rất căng thẳng nặng nề. Ông trầm trồ vì người Việt Nam và Mỹ có thể khép lại quá khứ, hướng tới tương lai để ngồi chung thân thiện như thế.

    Người Nhật quan sát: Dân tộc ta giống như những "cây sậy"

    Bay lên Việt Nam

    Tăng tốc đầu tư nhờ APEC
    Nguyên PTT Vũ Khoan: Hội nhập, hình ảnh thứ ba của VN
    Bàn tròn trực tuyến: Bay lên Việt Nam
    Ngân hàng thứ hai thế giới nhìn về Việt Nam thế nào?
    Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ: Vị thế VN đang lên nhanh

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:- Còn nét gì hay nữa trong tính cách người Việt Nam tạo ra dấu ấn riêng, là lợi thế cạnh tranh để đi ra thế giới?

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Có một nét tính cách quan trọng, giúp dân tộc ta tồn tại vững vàng, đó là sự học. Người Việt Nam rất ham học hỏi, rất nhạy bén để tiếp thu và tiếp cận, thích ứng với cái mới. Chỉ riêng về ngôn ngữ thì dân ta đã học chữ Hán, chữ Nôm rồi chuyển sang chữ La tinh. Đã có thời gần như cả nước đều học tiếng Nga, giờ lại là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc... Giới trẻ hôm nay vào cuộc hội nhập rất nhanh, rất nhạy. Họ nhanh chóng vươn lên, có lĩnh vực đã lên ngang tầm thế giới. Chính điều này giúp đất nước chúng ta cất cánh.

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:- Nhìn tổng thể thì dân tộc Việt Nam có khả năng thích nghi trong mọi tình huống, đặc biệt là khủng hoảng (như Tổ quốc lâm nguy, như thiên tai dịch bệnh...). Ở những tình huống như vậy, không cần bảo nhau ta vẫn ứng biến và xử lý rất nhanh, giải quyết có hiệu quả.

    Tôi thích dùng hình ảnh cây tre biểu trưng cho người Việt Nam. Từng con người có thể không tạo cảm giác mạnh mẽ, nhưng cộng đồng Việt Nam thì không bao giờ khuất phục. Vị Đại sứ Nhật Bản hoàn toàn hiểu ý tôi, ông dùng hình ảnh những "cây sậy" mảnh khảnh nhưng dẻo dai, trước phong ba có thể nghiêng ngả đôi chút nhưng không gục ngã, để tả người Việt Nam. Sự dẻo dai cũng thể hiện qua những giai đoạn đổi mới, có những lúc như năm 1997 nhiều người nghi ngờ ta qua giai đoạn đổi mới lần 1 thì liệu có tiếp tục được không? Nhưng rồi thực tế đã chứng minh...

    Còn một nét rất đặc biệt nữa từ quá khứ, mà nếu ta biết phát huy thì cũng tạo thế mạnh để đi đến tương lai. Đó là sự dí dỏm hài hước, lạc quan yêu đời. Biết đùa trong khó khăn để vượt qua khó khăn. Nghe thì không lớn lao gì, nhưng đây là một nhân sinh quan tốt. Một vị đại diện của quỹ Nhi đồng Mỹ đã từng ở Việt Nam và ở Bangladesh, ông so sánh rằng ở cả hai nước đều có những làng quê rất nghèo về vật chất, nhưng kể cả những làng nghèo nhất của ta cũng không khiến ông cảm thấy thương hại, trong khi ở Bangladesh thì có. Ông nhận thấy, kể cả những người dân nghèo nhất của ta, họ chưa tự lo được cho mình nhưng vẫn có quyết tâm xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, không an phận, không tuyệt vọng.

    Những cá thể thông minh phải kết lại mới thành sự nghiệp

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:- Người Việt Nam có ý chí, nghị lực, luôn vươn lên, lạc quan yêu đời dù trong hoàn cảnh nào. Nhìn lại hai cuộc kháng chiến thì điều này càng được khẳng định. Chúng ta đã nói về những “ưu điểm” trong tính cách của người Việt Nam để tạo ra dấu ấn riêng. Nhưng cái gì cũng có hai mặt của nó, vậy đâu là những đặc điểm yếu kém mà ta cần phải thay đổi trong quá trình hội nhập?

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Suy nghĩ về những đặc điểm yếu kém của một dân tộc là vô cùng khó. Nên chăng ta có một cách tiếp cận khác phù hợp hơn. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập thì ta cần phải làm gì để có thể hội nhập tốt, tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh tốt?

    Tôi xin đưa một ví dụ. Một trong những điểm yếu của chúng ta là chưa biết kinh doanh. Ta phải học kinh doanh, dù nền kinh tế hàng hóa đã có từ ngàn đời nay, nhưng kinh doanh trên cơ sở nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa thì rất khác. Chúng ta nói rất nhiều về chuyện du lịch chẳng hạn. Quả thật, các công ty du lịch đã đưa khách du lịch đến tận làng bản của các dân tộc và họ đã thu được tiền nhưng những người dân sống ở đó được gì? Phải trang bị kiến thức để giúp cho mỗi người, mỗi gia đình dù ở vị trí nào, làng bản nào họ cũng có thể góp sức trong việc kinh doanh du lịch. Điều này thì ta còn rất thiếu và rất yếu, và trong thời kỳ hội nhập thì phải học, phải thay đổi thì mới tiếp cận được.

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:- Ta cần phải học kinh doanh. Phải chăng vì ta mới có nền kinh tế thị trường nên chưa thích ứng được, và chính nền kinh tế thị trường sẽ tác động để buộc ta phải khá lên? 15 năm trước, nghĩ đến chuyện mở công ty trách nhiệm hữu hạn là rất mới mẻ. Bây giờ đã có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn chỉn chu hơn, có đẳng cấp hơn. Nhưng ở đây có một điểm khiến tôi băn khoăn. Các vị đã đề cập đến tính cách cởi mở, thân thiện, vị tha của người Việt Nam nhưng hình như ta mới cởi mở thân thiện, vị tha với "cựu kẻ thù", còn giữa chúng ta với nhau thì vẫn có khoảng cách. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một ví dụ, vẫn còn một bộ phận chưa thể quên quá khứ được?

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:- Dường như người Việt Nam sẽ kết lại thành sức mạnh tổng lực, có tính cộng đồng cao khi Tổ quốc lâm nguy, khi thiên tai dịch bệnh, còn trong thời bình thì tính cách đó lại bị lu mờ. Tôi đang băn khoăn chuyện sắp tới đây ta hội nhập như thế nào? Từng doanh nghiệp đơn lẻ thì có những doanh nghiệp vươn lên rất tốt, nhưng thách thức của hậu WTO là phải hoạt động theo hiệp hội, theo ngành nghề thì mới ứng phó được với những thách thức, như chuyện kiện bán phá giá thì không doanh nghiệp đơn lẻ nào có thể ứng phó được.


    Phải ý thức rằng không thể cứ đến lúc lâm nguy thì mới kết nối. Bản tính của người Việt dường như trong thời bình là khá ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa. Phương Tây nhìn ta bằng con mắt ý thức hệ thì cứ tưởng ta là rất có tổ chức, cái gì cũng tập thể, cũng răm rắp làm theo. Nhưng thực tế cứ nhìn ngoài đường thì thấy ý thức cộng đồng, kỷ luật tập thể rất yếu, chỉ thấy những cá thể cực đoan.

    Lúc tôi còn là đại sứ ở Bruxell, một GS Bỉ nói với tôi, ông có đọc đâu đó kết quả điều tra khảo sát, rằng thông minh nhất thế giới là người Việt Nam. Nhưng sau đó ông bổ sung thêm, những con người thông minh phải kết lại với nhau mới thành một sự nghiệp. Cũng có người từng nhận xét: 1 người Việt thì hơn 1 người Nhật, nhưng 10 người Nhật thì hơn 10 người Việt. Chúng ta nên suy ngẫm về những bình luận đó. Phải chăng, các nhà văn hóa, các nhà giáo dục sẽ phải ra tay để thay đổi thói quen này của dân ta, đừng chờ khi khủng hoảng thì mới phát huy tinh thần cộng đồng.

    Mặt trái của sự năng động

    Ban tron Sua minh de cat canh
    Bà Tôn Nữ Thị Ninh

    Một thách thức sắp tới nữa cũng có liên quan một phần đến tính cách, mà chúng ta cần suy ngẫm. Có nhiều bài bình luận của phương Tây trước sự trỗi dậy trở lại của kinh tế châu Á, trong đó có ý cho rằng ở châu Á chưa nghiên cứu khoa học, chưa có những nhà nghiên cứu thật nổi tiếng, chưa có những phát minh sáng chế thật ngoạn mục, người châu Á chủ yếu chỉ giỏi vận dụng.

    Vấn đề đặt ra - trung và dài hạn - là ngoài việc học nhanh, thích nghi nhanh, vận dụng khá thì phải có hoài bão sáng tạo trong khoa học nghệ thuật, cố gắng vươn lên đạt được những đỉnh cao hơn. Chỉ khi đó văn minh phương Tây mới công nhận đầy đủ, tôn trọng văn minh phương Đông trọn vẹn. Với tầm nhìn xa, chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc chuyện này, kể cả trong câu chuyện đang nóng bỏng là giáo dục đại học.

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Về giáo dục, ta cần làm nhiều hơn và tốt hơn. Đối với thanh niên, phải thúc đẩy, xây dựng tư duy độc lập, một đầu óc biết phê phán. Quan trọng nhất là phải học tư duy khoa học, biết phân tích - đánh giá - nhận định ở tất cả các khía cạnh, chứ không phải là cảm tính. Nền giáo dục của chúng ta trong nhiều năm không rèn giũa cái đó. Chỉ nhìn các trường quốc tế ở ngay Việt Nam thôi cũng thấy cách dạy của họ khác hẳn cách dạy “nhồi sọ” của ta. Họ để học sinh tự nghiên cứu, phân tích đánh giá và trình bày tất cả những gì học sinh tự thu hoạch được, chứ không ắp đặt. Điều này rất quan trọng trong xã hội phát triển.

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:- Trở lại vấn đề cá tính đáng ngại là sự ích kỷ, thiếu tôn trọng cộng đồng. Có thể thấy rõ hậu quả của nó qua câu chuyện đau lòng về tai nạn giao thông mới xảy ra với hai giáo sư hàng đầu (một người Mỹ, một người Việt Nam). Ngoài việc giáo dục ở nhà trường, có giải pháp nào để cả dân tộc thay đổi nếp nghĩ, thay đổi cách sống để khi ra đường biết nhường nhịn lẫn nhau, không tranh chấp, không vượt ẩu?

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Tôi nghĩ câu chuyện giao thông không phải do tính cách, ta quy về tính cách như thế là chưa chính xác về mặt khoa học, Đây là vấn đề dân trí, vấn đề thực thi pháp luật nhiều hơn. Nếu các cơ quan chức năng làm nghiêm chỉnh thì chắc chắn giải quyết được. Đừng nói là do đường hẹp, cũng không phải do tính cách người Việt Nam, mà do tư duy quản lý sai, pháp luật chưa được tôn trọng. Khi những người làm giao thông, an ninh… tác nghiệp thật sự nghiêm túc thì đâu sẽ vào đấy. Như trong thời gian APEC, đường phố rất ngăn nắp, nhưng sau đó buông lỏng ra thì tình trạng tồi tệ lại như cũ.

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh: Từ giác độ của một nhà khoa học, tôi hiểu ý anh Huy là khi trình độ của xã hội được công nghiệp hóa, lúc đó sẽ có tác phong xã hội tôn trọng nhau hơn. Cái này có phần đúng, nhưng nếu nói như thế thì phải hiểu rằng nông thôn phải là nơi lộn xộn nhất vì công nghiệp chưa về đến đó. Nhưng thực tế thì chính những nơi công nghiệp nhất (TPHCM, Hà Nội, Hải Phòng) lại là nơi lộn xộn nhất, hàng ngày chứng kiến mà tôi không chịu nổi! Cùng một mức thu nhập đầu người như ta, các nước khác họ có lái xe ẩu như thế không? Nếu nhìn các dân tộc khác có cùng mức GDP như TPHCM, Hà Nội thì họ có kỷ luận hơn hẳn.

    Đúng là nếu cơ quan chức năng làm nghiêm hơn thì sẽ đỡ, nhưng lẽ nào ta an lòng với việc phải để cảnh sát có dùi cui đứng đầy đường thì mới ngăn nắp? Ở các nước phát triển, 12h đêm không hề có cảnh sát thì người ta vẫn tôn trọng đèn xanh đèn đỏ, vì ý thức này là tự giác, thành bản năng, thành tập quán của họ. Tôi muốn tranh luận rằng, hình như ta có một chút nét tính cách như hơi vô kỷ luật, hơi bon chen. Phải chăng đó là mặt trái của sự năng động, đầy sức sống?

    Chưa ai nói dân tộc Việt Nam đặt chữ tín cao?

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:Vâng, đó là câu chuyện của tính cộng đồng. Còn vấn đề trọng chữ tín thì sao? Trong kinh doanh, thế giới dễ tin người Nhật Bản, người Hàn Quốc, người Trung Quốc... nhưng nói đến Việt Nam thì họ không nghĩ đó là những người nói một là một, hai là hai. Theo anh/chị thì đó có phải tính cách của người Việt Nam không?

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Tôi vẫn bảo lưu ý kiến. Nếu chúng ta khái quát quá mức rằng người Việt Nam không giữ chữ tín, kể cả chỉ trong kinh doanh, thì không đúng. Chuyện đó có thể xảy ra với người này hay người khác, lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, phần cư dân này hay phần cư dân khác nhưng khái quát thành tính cách cả cộng đồng người Việt Nam thì tôi không tin.

    Tôi biết những gia đình kinh doanh đời này sang đời khác họ trọng chữ tín vô cùng. Vừa rồi chúng tôi có làm cuộc nghiên cứu về văn hóa phi vật thể ở phố cổ Hà Nội, thấy những gia đình kinh doanh nhiều đời họ đặt chữ tín lên hàng đầu, kể cả trong những giai đoạn khó khăn nhất của thời bao cấp thì họ vẫn kinh doanh tốt vì họ giữ chất lượng hàng rất tốt.

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:- Bản tính người Việt không phải không giữ chữ tín. Trong suốt chiều dài lịch sử, trong các hoạt động kinh tế - xã hội – văn hóa, người Việt vẫn có chữ tín. Chính sự mở cửa đổi mới, hội nhập đôi khi khiến đức tính đó, giá trị đó bị tấn công, thách thức. Vấn đề đặt ra là phải làm cho mọi người hiểu rằng giữ chữ tín không phải là bảo thủ, lạc hậu mà chính là một trong những yêu cầu cần phải có để kinh doanh thành công.

    Đường lối đối ngoại của nhà nước ta cũng khẳng định là "một đối tác tin cậy". Các nhà đầu tư nước ngoài cũng đòi hỏi ở nhà nước, ở các đối tác của ta phải có sự dự đoán được (predictability), nghĩa là phải nhất quán, hứa thì phải làm, nói theo kiểu Á Đông thì chính là chữ “tín”.

    Có lẽ một số người trẻ hiểu lầm rằng trong thời đại này cần nhanh, nên chữ tín không phải là quan trọng nhất. Sắp tới khi có làn sóng đầu tư mới thì các hiệp hội, phòng thương mại, các trường đại học… rất cần phải xây dựng chữ tín trong văn hóa doanh nghiệp. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề đạo đức học, mà chính là một trong những chìa khóa để giữ được các nhà đầu tư ở lâu trong thị trường.

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Tôi nghĩ chữ tín không tự nhiên có, mà phải xây dựng, giáo dục, rèn luyện với mỗi con người, với mỗi cộng đồng. Tôi có trao đổi kinh nghiệm với một doanh nghiệp kinh doanh thổ cẩm với dân tộc Lào rất thành công. Họ bảo khi họ phân phối nguyên liệu cho những người thợ thủ công ở các gia đình làm, họ đã giao kèo là chỉ nghiệm thu những sản phẩm chất lượng cao, chỉ loại 1 chứ không có loại 2, loại 3. Khi nghiệm thu, những sản phẩm loại 2, loại 3 bị họ đốt ngay. Vài lần như vậy thì những người thợ thủ công sẽ rút ra được bài học kinh nghiệm và sau đó tất cả chỉ là những sản phẩm loại 1, thương hiệu của họ được khẳng định.

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:- Nghe các vị tranh luận, tôi thấy băn khoăn. Không lẽ dân tộc ta suốt 4000 năm lịch sử mà vẫn chưa rèn được chữ tín? Chị Ninh nghĩ gì về vấn đề này?

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:- Câu chuyện này hơi khó, có lẽ cần phải suy ngẫm nhiều. Cũng có thể do lịch sử Việt Nam khá đặc biệt, khiến con người Việt Nam hơi có mặt mâu thuẫn.Có thể do suốt 4000 năm đó ta chỉ lo đấu tranh sinh tồn, nên chưa có tầm nhìn lâu dài? Hoàn cảnh đó đã tạo cho dân tộc ta có nhiều đức tính tốt đẹp, nhưng cũng chính hoàn cảnh đó khiến ta còn những nhược điểm chăng? Lịch sử Việt Nam vừa hun đúc chủ nghĩa anh hùng, nhưng cũng làm cho Việt Nam không phát huy được đức tín?

    Tôi không dám khẳng định chắc, tôi cũng đang suy nghĩ. Phải thừa nhận là người nước ngoài mến chúng ta, khâm phục ta nhiều điểm, khen ta thân thiện, cởi mở, bao dung, năng động, cần cù, yêu đời... nhưng đúng là chưa ai nói dân tộc Việt Nam đặt chữ tín cao. Nghĩa là, giữ chữ tín chưa phải là một ưu điểm đặc thù của dân tộc ta. Nếu đặc thù tính cách có thể xây dựng một cách có ý thức, thì "chữ tín" là cái đáng phải xây dựng. Hiện nay, nó không chỉ là phạm trù đạo đức, mà là một yêu cầu khách quan, nghiêm ngặt, chính vì lợi ích mưu sinh mà ta phải xây dựng chữ tín.

    Sửa mình để cất cánh

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:- Câu hỏi từ bạn Vương Duy Long, Viện nghiên cứu xã hội: Một thế giới đang bị làm phẳng, người nào làm chủ công nghệ thông tin và biết trước được thông tin là người đó thắng. Tiếc thay, chỉ có một số ít người Việt Nam như ông Nguyễn Văn Huy và bà Tôn Nữ Thị Ninh có đầu óc mở dám đón nhận thách thức mới. Câu hỏi cho cả hai vị là: Việt Nam có truyền thống "vượt biển" khám phá cái mới như một số quốc gia khác hay không? Dưới góc độ văn hóa ta đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc chơi khi hội nhập chưa. Hay cái "tốt lỏi" chỉ tập trung vào nhận thức của một số người như các vị.

    Ban tron Sua minh de cat canh
    PGS-TS Nguyễn Văn Huy

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Rõ ràng đất nước ta đương vượt lên, có những cái ta vượt khá tốt, như Công nghệ Thông tin chẳng hạn, ta đã vươn lên xa lắm. Cũng còn rất nhiều biển rộng, sông dài, núi cao mà ta phải vươn lên chinh phục, thách thức còn rất lớn.

    Về góc độ văn hóa liên quan đến hội nhập thì đúng là còn nhiều ngỡ ngàng. Thực tế việc vào WTO là sự chuẩn bị của nhà nước, nhưng toàn bộ xã hội, phần lớn người dân còn hiểu rất lơ mơ. Vì thế chúng ta phải học rất nhiều để cập nhật được với sự thay đổi, kể cả về văn hóa cũng phải học để hội nhập tốt mà giữ được những nét văn hóa riêng.

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:- Tôi nghĩ việc giao lưu quốc tế với ta không hẳn là quá mới mẻ. Đi ra ngoài để tìm đường cứu nước thì Bác Hồ đã làm. Cũng có rất nhiều người đi học rồi về giúp đất nước trong một giai đoạn, sau đó do hoàn cảnh chiến tranh thì không có điều kiện nữa.

    Bây giờ ta đã "vươn ra" với 3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài. Ta cũng đã khẳng định bà con Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận của người Việt Nam. Ta chưa được như Trung Quốc, họ có những giáo sư hàng đầu người Trung Quốc định cư ở nước ngoài đã trở về. Ta mới ở ngưỡng cửa, với nghị quyết 36, với sự gia nhập WTO... trong giới tri thức Việt ở nước ngoài cũng bắt đầu xem có thể làm gì tại Việt Nam, đang manh nha một xu thế trở về tổ quốc. Cả xã hội cần chủ động đón nhận và khuyến khích, vì Chính phủ có nhất quán mà chính người Việt trong nước ở các vị trí khác nhau nhiều khi còn chần chừ, hoài nghi, đố kị... không muốn hợp tác. Đây là yêu cầu của giai đoạn mới mà ta cần quan tâm.

    Về văn hóa thời hội nhập thì ta cần phải "tấn công để phòng ngự". Tôi muốn lấy ví dụ về fast food (thức ăn nhanh). Tôi thấy may vì chưa có sự xuất hiện của người khổng lồ McDonald"s, và cầu mong họ quên Việt Nam. Ta không cần phải có McDonald"s ở đây. Ta có đầy đủ nguyên vật liệu để làm nhưng chưa làm được là do đâu, cái chúng ta thiếu là gì? Phở 24, Phở Vuông... là điểm đến của giới thanh niên thời thượng, bởi không thể lúc nào cũng ngồi vỉa hè, họ cần chỗ để rủ bạn bè, kể cả người nước ngoài, ghé vào ăn bát phở.

    Tôi mong sẽ có nhiều doanh nghiệp trẻ mở ra những chuỗi nhà hàng ăn nhanh phục vụ sáng, trưa với món ăn đa dạng hơn, đảm bảo vệ sinh, khung cảnh đẹp và tạo cảm giác dễ chịu. Đó là cách tôn vinh ẩm thực Việt Nam. Nếu McDonald"s hay KFC vào đây như một món ăn ngoại quốc, làm phong phú cho sự thưởng ngoạn của người Việt như món Nhật, món Ý, món Mexico... thì tôi không phản đối, còn nếu họ hiện diện ở mỗi góc đường của Hà Nội hay TPHCM thì tôi sẽ rất buồn.

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn:- Câu hỏi của độc giả Đỗ Huyền có 3 ý chính xoay quanh vấn đề Luật pháp: 1. Thay đổi thể chế chính thống (luật pháp, tổ chức) có thể thực hiện trong ngày một, ngày hai. Thay đổi thế chế phi chính thống (văn hóa, tập quán, thói quen) cần rất nhiều thời gian. Theo ông/bà, cần bao lâu và làm thế nào để thay đổi những tập quán "xấu" của người Việt theo quan điểm hội nhập? 2. Vai trò của cá nhân và xã hội trong quá trình thay đổi tập quán "xấu" như thế nào? 3. Làm thế nào để ngăn ngừa những tác động tiêu cực của hội nhập đối với văn hóa dân tộc? Riêng ý thứ 3 này thì chúng ta đã bàn tới rồi.

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:- Về thời gian cần thiết để thay đổi những tập quán xấu, tôi không thể trả lời được một câu hỏi quá tổng quát như thế. Tập quán xấu là hệ quả của cả quá trình xã hội, nên để thay đổi nó là bài toán của chính trị học, xã hội học, kinh tế học, văn hóa học... Tôi chỉ có một suy nghĩ muốn chia sẻ: Đúng là nhận thức xã hội luôn đi chậm hơn thay đổi kinh tế, nên ta phải chấp nhận, và ta có thể góp sức một cách có ý thức để rút ngắn khoảng cách giữa bước đi về kinh tế và chuyển động về văn hóa, xã hội theo hướng tích cực.

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Văn hóa dù ổn định nhưng có tính năng động, luôn luôn thay đổi. Trong quá trình hội nhập, những đặc tính thích ứng được với xã hội mới thì sẽ tồn tại và phát triển, còn những đặc tính bất cập thì dần dần sẽ được giảm bớt và dần bị loại bỏ ra khỏi đời sống. Đó là quy luật. Xã hội ta đang phát triển nhanh chóng, nên nó sẽ tự chấp nhận hoặc tự đào thải.

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Ngoài hành lang pháp lý, môi trường kinh doanh...thuộc về trách nhiệm Nhà nước thì những cá tính gì, tật xấu gì chúng ta buộc phải khắc phục, phải chỉnh sửa mình ngay để có thể hội nhập nhanh, cất cánh bay lên cùng thế giới?

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:- Thứ nhất, chủ nghĩa cá nhân theo nghĩa tiêu cực như ta đã bình luận lúc nãy thì phải loại bỏ và ngược lại, rất cần phát huy tính sáng tạo, tư duy độc lập, tinh thần tự chịu trách nhiệm. Phải đảm bảo hành động và ảnh hưởng cá nhân được hướng theo hướng tích cực, còn hạn chế tiêu cực của cá nhân thì phải loại bỏ bằng tổ chức pháp luật, giáo dục, văn hóa và lối sống. Mà văn hóa và lối sống là sản phẩm tổng hợp của cả xã hội, chứ không phải trách nhiệm của riêng ai hay riêng bộ ngành nào.

    Thứ hai là sức mạnh tổng hợp của việc kết nối cá nhân và cộng đồng. Sợi dây đó cần củng cố, vun đắp xây dựng lên cho mạnh mẽ hơn, bền chắc hơn. Hiện tại, sự kết nối này vẫn hơi lỏng lẻo.

    PGS - TS Nguyễn Văn Huy:- Tôi thì quan tâm đến việc con người Việt Nam cần tiếp tục rèn luyện sự tôn trọng đa dạng văn hóa, hiểu biết và tôn trọng các nền văn hóa của chính các dân tộc Việt Nam. Khi hội nhập tiếp cận với các nước xung quanh cũng như cả các nước ở xa thì càng cần hiểu biết và tôn trọng văn hóa của các dân tộc khác. Trong quá trình hợp tác, nếu không hiểu biết và tôn trọng thì sẽ gặp nhiều cản trở.

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh:- Cuối cùng thì chìa khóa, sợi chỉ đỏ, hay động lực để thực hiện những mong muốn của dân tộc ta chính là tự trọng và tự hào dân tộc. Nếu có được hai điều này thì sẽ đấu tranh được với xu hướng cá nhân chủ nghĩa trong mỗi con người, giúp ta có tầm nhìn vượt ra ngoài sự bó hẹp của cá nhân, gia đình...

    Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: .Câu nói của chị Tôn Nữ Thị Ninh có lẽ đã thay lời kết cho cuộc bàn tròn này. Để dân tộc ta ra được biển lớn hay cất cánh bay lên thì bên cạnh những tính cách, những ưu điểm đặc trưng, rất cần phải hun đúc lòng tự trọng, tự hào dân tộc để thế giới tôn trọng chúng ta và chúng ta cũng biết tôn trọng văn hóa của các dân tộc khác. Đây chỉ là buổi đầu nhằm xới lên một vấn đề quan trọng, phải tiến hành rất lâu dài của cả dân tộc. TS mong nhận được những ý kiến của bạn đọc cũng như của các chuyên gia văn hóa. Xin cảm ơn hai vị khách mời, cảm ơn độc giả TS.

    • TS

    Hãy gửi ý kiến tham gia cuộc vận động Bay lên Việt Nam theo cách sau:

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Bàn tròn: Sửa mình để cất cánh

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Bàn tròn: Sửa mình để cất cánh bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Ban tron Sua minh de cat canh ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Bàn tròn: Sửa mình để cất cánh ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Chuyên Đề của chuyên mục Văn Hóa.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - VĂN HÓA - CHUYÊN ĐỀ