Điều gì đã xảy ra với tàu ngầm nguyên tử “Kurxcơ” ?

Thứ sáu, 04 Tháng tám 2006, 19:19 GMT+7
  • Ngày 12 tháng 8 năm 2000, khi V. Putin vừa bước vào cương vị tổng thống Liên bang Nga, con tàu ngầm “Kurxcơ” bị “chìm” ( như lời ông nói với một phóng viên người Mỹ). Tuy nhiên, câu chuyện chiếc tàu ngầm nguyên tử lớn nhất của Nga, bị đắm với 118 người, không phải ai cũng rõ tình tiết. Cả chính quyền, cả các chuyên viên, cả việc điều tra đều không đưa ra được lời giải thích nào về thảm hoạ.

    Vào trước ngày kỷ niêm lần thứ sáu thảm hoạ làm chấn động thế giới này ( 12 tháng 8 năm 2000 – 12 tháng 8 năm 2006 ), phóng viên báo “ Tuyệt mật” đã gặp một trong số những chuyên gia lớn nhất trong lĩnh vực an ninh tàu ngầm, trung tướng hải quân dự bị Tengis Borisop, người có giả thiết riêng của mình về tai nạn này. Ông nói:

    Theo quan điểm của tôi, tai nạn với tàu ngầm “Kurxcơ” bị gây ra bởi yếu tố con người. Tôi tin rằng, ở đó xảy ra cả đống sai sót của thuỷ thủ, của những người chỉ huy con tàu và của những người tổ chức cứu hộ từ bên trong.

    Dieu gi da xay ra voi tau ngam nguyen tu �SKurxco� ?
    Trung tướng hải quân Tengis Borisop.

    Nhưng, trước khi phân tích sự diệt vong của “Kurxcơ”, tôi muốn nói thêm một chút.
    Tôi nhớ, tháng 5 năm 2000 tôi đã giả định khả năng tai nạn tương tự , như đã xảy ra với “Kurxcơ” trong tháng 8 năm đó. Trong bài trả lời phỏng vấn của báo, tôi đã nhắc đến tai nạn của tàu ngầm “Côm xô mô les” năm 1989 và đã nói rằng, khi xảy ra điều gì đó tương tự trong thời gian gần nhất sắp tới, các lực lượng cứu hộ, Bộ các trường hợp khẩn cấp và các cơ cấu khác sẽ tỏ ra bất lực.

    Bởi tất cả những gì được làm ra cho “Cô xô mô les” đều bị vùi xuống cát. Mà chiến dịch với “Cô xô mô les” lại là duy nhất. Tàu bị chìm ở độ sâu 1685 m, bởi vậy cho đến nay vẫn không có sự dò rỉ phóng xạ, dù từ thời điểm nó bị tai nạn đến nay đã 17 năm .

    Ông đã tham gia trực tiếp vào những công việc về “Cô xô mô les”, đúng thế không, thưa ông?

    Vấn đề không phải ở tôi. Đối với những công việc này, ý muốn nói đến tầm quan trọng đặc biệt của nó, một tổ chức nhà nước mới thực tế đã được thành lập đặc biệt

    Uỷ ban nghiên cứu hoạt động ngầm chức năng đặc biệt ( KOPRON ) thuộc chính phủ, như người ta gọi nó thế. Tất nhiên việc đó không phải ngày một ngày hai. Để thành lập KOPRON đã phải mất vài năm.

    Tai nạn với “Cô xô mô les” xảy ra ngày 7 tháng 4 năm 1989. Năm ngày sau tôi đến báo cáo chuẩn đô đốc Uxtiansep, khi đó lãnh đạo uỷ ban tiếp nhận kỹ thuật mới của hải quân, và nói rằng: tàu ngầm sẽ bị rò rỉ sau hai hoặc tối đa là hai năm rưỡi nữa. Đáp lại, ông đặt lên bàn trước mặt tôi tập báo cáo của một viện đứng đầu trong các viện nghiên cứu khoa học đáng nể của chúng ta. Trong đó người ta đảm bảo rằng, trong vòng 70 năm gần nhất sẽ không có gì xảy ra.

    Ông muốn nói đến sự rò rỉ phóng xạ?


    Tất nhiên rồi. Tôi cho rằng lò phản ứng sẽ bị rò rỉ. Còn về đầu đạn, nói chung tôi không biết chúng ở trong tình trạng như thế nào. Bởi vậy tôi đã nói rằng, cần phải khẩn trương nghiên cứu con tàu.

    Do vỏ tàu ngầm được làm từ ti tan, quá trình ăn mòn điện hoá học sẽ diễn ra rất mạnh. Bản thân vỏ tàu không bị ăn mòn, nhưng vì cái vỏ này, mọi kim loại khác sẽ nhanh chóng bị ăn mòn trong nước biển. APL là loại ắc qui được nạp khô. Khi chất điện phân ở dạng nước biển tràn vào đó, phản ứng sẽ bắt đầu xảy ra.

    Mỗi con tàu bị chìm là một qủa mìn nổ chậm. Khi biết độ dày của thành những đường ống có thể bị ăn mòn trước tiên, có thể tính tương đối chính xác rằng, trong thời gian bao lâu nó sẽ bị mất độ kín và có những hậu quả gì. Những ước tính cơ bản nhất của tôi đã chỉ ra rằng, trong giới hạn 2,5 năm các chất phóng xạ từ lò phản ứng sẽ hoà tan trong nước biển.

    Tất nhiên, cần nói một cách chân thành rằng: nếu như “Cô xô mô les” bị chìm bên ngoài giới hạn vùng quyền lợi kinh tế của Na uy, chắc chẳng có ai bắt tay vào làm gì với nó.

    Nhưng, nó lại nằm chính trong vùng này và nếu như xảy ra trường hợp nó phun phóng xạ từng loạt, chúng ta đã lầm bẩn vùng biển của Na uy khoảng 600- 700 năm. Và chúng ta sẽ buộc phải thoả mãn những đòi hỏi, mà Na uy đưa ra cho phía Nga nhân việc nghề cá của họ bị tổn thất.

    Khi cố vấn của Elsin Petr Malay tới gặp tôi vào cuối tháng 2 năm 1992, tôi đã nhắc rằng, ở đất nước ta từ năm 1923 đã thành lập EPRON - đoàn khảo sát các hoạt động ngầm chức năng đặc biệt. Tổ chức này tồn tại tới những năm 50 và đã thực hiện một số lượng khổng lồ các công việc phức tạp dưới nước: trục vớt tàu sau cuộc nội chiến, trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, sau đó là gỡ mìn, đặt các ống luồn, các đường ống…

    Đó là một tổ chức huyền thoại!

    Đúng thế. Có lẽ trên thế giới không có tổ chức nào tương tự như nó. Họ đã nghiên cứu thiết bị cho thợ lặn, chế tạo kỹ thuật đặc biệt để chìm xuống nước. Anh có biết vì sao nó được thành lập không? Nước Nga thời Xô viết rất cần vàng. Người ta nhớ rằng, chiến hạm “Hoàng tử đen”, chở vàng cho đội quân viễn chinh Pháp trong thời gian chiến tranh Crưm, đã bị chìm ở vịnh Balaclap, ý muốn thu thập số vàng này đã xuất hiện. Vì vậy, EPRON đã được thành lập. Người ta nhanh chóng tìm ra chiến hạm này và chỉ phát hiện ở đó có hai đồng tiền vàng, ngoài ra không có gì hơn.

    Một thời gian sau, 9 chuyên gia của EPRON đã được tặng thưởng các huân chương cao quí nhất. Sau chiến tranh, khi chính phủ được tổ chức lại theo thường kỳ, EPRON được tách thành các bộ phận. Thế là uổng phí cả một ý tưởng tốt đẹp. Tôi đã giải thích cho Malay điều đó và nói rằng cần phục hồi lại hệ thống EPRON. “Thế ai sẽ lãnh đạo nó?” - ông ta hỏi. Tôi trả lời: “Nếu không chê tôi là kẻ vô liêm sỉ, thì tôi sẵn sàng.” Ông ta nói quan điểm của chúng tôi trùng nhau, rồi ra về…

    Chúng tôi đã kịp làm được nhiều việc, nhưng người ta không để cho chúng tôi tiến hành công việc đến cùng. Một năm rưỡi sau, KOPRON bị xoá sổ. Mọi việc đã kết thúc.
    Ngày 6 tháng 1 năm 1994 sắc lệnh tổ chức lại chính phủ đã được ký. Trong danh sách bộ máy không có KOPRON: người ta chuyển chức năng của nó cho Bộ tình trạng khẩn cấp mới được tổ chức lại.

    Nhưng dưới màu cờ của Bộ tình trạng khẩn cấp, các chuyên gia của KOPRON đã hoàn tất công việc về “Cô xô mô les”. Sau đó Cục chuyên về các công việc ngầm dưới nước thuộc Bộ tình trạng khẩn cấp bị tinh giảm, trở thành cấp phòng.
    Chính vì thế, trong bài trả lời phỏng vấn trước thảm hoạ “Kurxcơ” hai tháng, tôi đã nói rằng , trong nước không còn lực lượng và phương tiện thực tế để giải quyết các nhiệm vụ nghiêm trọng trong trường hợp xảy ra các thảm hoạ ngầm lớn.

    Ông muốn nói gì: nếu vào thời điểm “Kurxcơ” bị nạn, KOPRON vẫn còn tồn tại thì có thể tránh được tổn thất về người không?

    - Tôi cho rằng được. Từ nắp cửa sập đến mặt nước là 95 m, tổng chiều sâu là 107 m. Có thể cứu được mọi người, ít nhất là một phần trong số họ. Hơn nữa, nếu như ban lãnh đạo hạm đội sử dụng các lực lượng đã có một cách thành thạo và bắt tay vào việc cứu hộ đúng lúc , thì các cơ hội thành công trong những ngày đầu là rất tốt.
    Điều chủ yếu nhất, tai nạn của “Kurxcơ” đã thể hiện xu hướng nguy hại , điển hình đối với chính quyền của chúng ta: không muốn nói ra sự thật. Xung quanh tai nạn của “Kurxcơ” đã chồng chất sự dối trá. Các bài học tai nạn đã chìm vào sự dối trá và không thể sử dụng kinh nghiệm đáng buồn đã thu nhận được để nâng cao an ninh tàu ngầm. Chính chúng đã dẫn đến việc các kết luận của uỷ ban chính thức, hoá ra, không đúng sự thật.

    Ông muốn ám chỉ cái gì?

    - Tôi nhớ lại kết luận chính thức. Đã xảy ra vụ nổ ngư lôi trong thiết bị phóng lôi, khi tàu ngầm đang ở độ sâu kính tiềm vọng. Khi ngư lôi nổ, các mảnh của nó đập vào các đầu đạn của những quả đạn nằm trên giá. Khi ấy xảy ra vụ nổ thứ hai, chính vụ nổ này đã đánh chìm tàu. Nhưng giữa hai vụ nổ này là khoảng thời gian 135 giây. Khoảng cách từ nắp sau của thiết bị phóng lôi đến đầu những quả đạn nằm trên giá khoảng từ 2- 2,5 m. Hoá ra, các mảnh ngư lôi này bay qua 2- 3 m đó trong thời gian 2 phút 15 giây sao?

    Trên thực tế mọi việc có thể khác.ở khoang thứ nhất xảy ra vụ nổ hydro, trong đó toàn bộ nhân viên khoang này hy sinh trong nháy mắt. Khi nổ sẽ xảy ra cháy, sau 2 phút 15 giây nó làm tăng nhiệt độ trong khoang. Nhiệt độ này lớn đến nỗi làm nổ dự trữ đạn và đánh chìm tàu.

    Ngoài ra, lại là giả thiết chính thức- nếu như ngư lôi nổ trong thiết bị phóng lôi và qua lỗ thủng không thể tránh khỏi, nước biển sẽ tràn vào bên trong, tàu sẽ bị chúi mũi xuống ngay.

    Trong tình huống như vậy, bất kỳ người chỉ huy tàu ngầm nào, dù không có kinh nghiệm nhất, cũng thử trồi lên, thổi vật dằn phòng tai nạn , bởi lúc đó tàu bơi ở độ sâu kính tiềm vọng. Nó có thể nhảy lên như một cái nút chai.

    Nhưng có thể chẳng có ai để mà ra mệnh lệnh, tất cả đã hy sinh trong khoang chỉ huy thì sao?


    Không, khoang chỉ huy bị tai nạn trong thời gian vụ nổ thứ hai. Vụ nổ thứ nhất chỉ đánh chìm khoang đầu. Khoang chỉ huy không biết cái gì xảy ra ở khoang đầu. Liên lạc bị cắt đứt. Tàu có thể hoàn toàn bình yên, nếu có thể sử dụng thành ngữ đó trong tình huống này, và tiếp tục hành trình của mình.

    Tức là, sau vụ nổ đầu tiên tàu không bị chúi mũi xuống?

    Nó không thể chúi mũi, bởi sau vụ nổ đầu tiên nước không tràn vào tàu. Nếu như tàu bắt đầu chìm, họ có thể thổi ngay vật dằn. Song họ đã không làm việc đó.


    Tàu bị chìm cùng các thiết bị kéo, nâng, kính tiềm vọng. Nếu như tàu bắt đầu chìm và người ta đã không thể giữ nó bằng cách thổi phòng sự cố, thiết bị tự động,không phụ thuộc vào mong muốn của vị trí trung tâm, đa thả các thiết bị kéo xuống.Và bởi chúng còn được nâng, có nghĩa con tàu đã bị phá huỷ bởi vụ nổ thứ hai ở độ sâu kính tiềm vọng.

    Rất nhiều chuyên gia đã tham gia điều tra. Ông có cho rằng họ đã có những kết luận sai sót không?

    Tôi cho rằng, những kết luận của họ đã bị các đồng chí ở cao hơn sửa đổi. Bởi các chuyên gia không thể không nhận thấy tất cả những chỗ không được ghép nối. Nhưng ở đó, ở “ trên cao”, người ta hiểu rằng, nếu bắt đầu nghiên cứu một cách thực sự, thì buộc phải thừa nhận việc nhân viên đoàn tàu đã không sẵn sàng cho tình huống như vậy.

    Theo điều lệnh, nhân viên có trách nhiệm phải sẵn sàng, trong trường hợp ngược lại, dứt khoát không thể cho phép họ ra khơi. Và những người cho phép đoàn thuỷ thủ ra khơi trong tình trạng không được chuẩn bị kỹ càng sẽ phải chịu trách nhiệm. Vậy là cần có sự “hiệu đính”.

    Vì sao hydro lại nổ?

    Trên tàu có bộ nguồn lớn, nó lại nằm đúng ở khoang thứ nhất. Trong quá trình vận hành bộ nguồn tạo ra hydro- hydro toả ra từ bộ nguồn ở chế độ tự động. Nhưng, có thể ở chế độ điều khiển bằng tay. Quá trình này được gọi là quá trình thông gió của bộ nguồn.

    Không phụ thuộc vào việc thiết bị tự động được đóng mạch hay không ( nó có thể không hoạt động được nữa), đã có người trực của khoang đầu: cứ 30 phút một lần anh ta có trách nhiệm kiểm tra hàm lượng hydro trong lỗ của bộ nguồn. Nếu hàm lượng này tiến gần đến dấu nguy hiểm, anh ta cần dùng tay bật hệ thống cho cháy hết hydro. Hydro sẽ tạo ra hỗn hợp nổ nguy hiểm khi nó có nồng độ từ 4- 78%. Nếu nồng độ này vượt quá 78 % thì không xảy ra nổ. Và nếu dưới 4 % cũng không.

    Để chọn 4 % - để thu được cái được gọi là khí nổ – cần trải qua 12 – 15 giờ vận hành bộ nguồn không có thông gió với cường độ lớn. Tức là ở đây, từ thời điểm tàu ra khơi không có ai theo dõi việc thông gió. Đó rõ ràng là lỗi của thuỷ thủ đoàn.

    Và ông đã gọi đó là yếu tố con người trong tai nạn của “Kurxcơ” trong phần đầu cuộc phỏng vấn này?

    Chính thế. Con tàu chắc chắn như thế, mà đội ngũ nhân viên chưa sẵn sàng làm việc với nó. Các kết luận của uỷ ban hoàn toàn không phù hợp với điều xảy ra từ các yếu tố.

    Ai cần sự giả dối này?

    Nếu thừa nhận vai trò của yếu tố con người trong vụ tai nạn, buộc phải nghiên cứu tại sao nó lại như vậy. Nguyên nhân thì không ít. Nguyên nhân căn bản nhất là việc chuẩn bị yếu kém của đội ngũ nhân viên. Họ đã lên đường với những con người gần như mới gặp nhau lần đầu trước khi ra khơi: nhiều người từ đội ngũ trước đó đã lui về dự bị, chuyên gia thì thay đổi hết.

    Trong suốt 2 phút 15 giây kéo dài từ vụ nổ thứ nhất đến vụ nổ thứ hai, trạm trung tâm bắt đầu thử nghiệm tình huống.

    Nhưng, thứ nhất, những gì họ có trách nhiệm phải làm thì đã trôi qua nhanh chóng. Đó không phải là tình huống chiến đấu, tất cả chỉ là diễn tập. Tốt nhất là làm hỏng chúng, nhưng còn sống sót và giữ được kỹ thuật chiến đấu.

    Thứ hai, khi vụ nổ đã xảy ra, tức là sẽ xảy ra cháy. Họ buộc phải nhanh chóng bật hệ thống dập lửa và hệ thống tưới nước phòng tai nạn cho dự trữ đạn- hai hệ thống này cần được đưa vào hoạt động ngay. Song, điều đó đã không được làm: thiết bị tự động, mà lẽ ra nó cần phải bật các hệ thống này, lại bị ngắt- như viện công tố đã giải thích sau khi trục vớt tàu. Nếu như các hệ thống này làm việc đồng bộ, đã không xảy ra vụ nổ thứ hai. Con tàu sẽ vẫn nổi, khi khoang thứ nhất bị hư hỏng không đáng kể và chỉ có 12 người có mặt ở khoang này vào thời điểm nổ bị hy sinh.

    Nhưng, độ sâu hơn 100 m ( tàu nằm ở độ sâu này) có phải là đáng kể đối với thợ lặn không?

    Đáng kể, nhưng không phải là quá giới hạn. Hoạt động lặn bình thường, khi sử dụng không khí bình thường để thở, có thể đạt tới 60 m. Sâu hơn 60 m cần phải có hỗn hợp thở đặc biệt. Người Na uy sau này khi lặn xuống chỗ “Kurxcơ” đã phải sử dụng hỗn hợp khí ô xy- hê li.

    Đối với chúng ta đó là quá khó : trên hạm đội không có hê li, và không có cả những thợ lặn có khả năng là những việc đó, bởi họ không được huấn luyện gì cả. Nhưng ở một viện nghiên cứu khoa học ở Sankt- Peterbua có một số thợ lặn như vậy. Có thể đưa họ tới chỗ tai nạn trong vòng vài giờ và trong vòng một ngày đêm họ có thể bắt tay vào việc cứu hộ trực tiếp con người. Tìm ra con tàu cũng không có gì là khó khăn. Phát hiện một mục tiêu bằng kim loại, có độ cao của một ngôi nhà sáu tầng và chiều dài hơn 150 m trên nền đáy bằng phẳng như mặt bàn , ở độ sâu như thế có gì là khó? Thực tế không thể không ghi lại được góc phương vị tại điểm của hai vụ nổ với công suất lớn như vậy.

    Nhưng người ta lại làm công việc mô phỏng việc cứu hộ! Họ đã đưa đến chuông lặn cứu hộ kiểu của những năm 40 và thiết bị cứu hộ hoạt động khi có tai nạn hiện đại hơn một chút.

    Độ nghiêng của chiếc tàu ngầm nằm dưới đáy không cho phép đặt được chuông: các chuyên gia hiểu điều đó ngay từ đầu. Độ nghiêng ở 15 độ đã không thể làm được việc đó, còn ở “Kurxcơ” độ nghiêng đạt đến 25 độ. Tuy vậy người ta vẫn cố thử. Và thời gian cứ trôi đi.

    Thôi được, giả sử thợ lặn đã tới, đã xuống chỗ con tàu. Biết là có những người còn sống, nhưng lại không thể đưa họ ra khỏi tàu được.

    Họ có thể. Họ có thể đập vào con tàu , xác định những người còn sống ở chỗ nào, có bao nhiêu người.
    Hiện có một công nghệ dặc biệt, cho phép thiết lập liên lạc trong tình huống tương tự. Và cũng có thể dùng cách gõ thông thường để làm rõ: có bao nhiêu người trong khoang, chỗ họ có bao nhiêu tổ hợp cứu hộ ISP- 60, thiết bị IDA- 75 hay IDA-59, những thứ cần cho họ để lên được mặt nước.

    Có thể thiết lập tiếp xúc trực tiếp với họ, không chỉ thông qua việc gõ đập không?

    Đương nhiên. Nhưng việc đó đã không được làm. Tại sao ư? Đối với tôi đó còn là ẩn số. Còn một ẩn số nữa: tại sao số nhân viên 23 người không cố tự ra khỏi con tàu? Từ nắp sập bên trên của khoang số 9 lên đến mặt biển chỉ là 95 m, đó không phải là độ sâu lớn.

    Thiết bị cứu hộ cần có trong khoang đủ cho cả số nhân viên, cộng thêm 10 % dự phòng, tức là có 25 -26 bộ. Tại sao những người còn sống không tự thoát ra? Có thể, IDA- 75 không đủ cho tất cả mọi người? Hay chúng đã bị hỏng? Hay là chúng không được nạp điện? Hoặc là các thuỷ thủ đã không được huấn luyện cách sử dụng chúng? Cũng có thể, trên tàu không có IDA- 75, mà chỉ có IDA- 59 cũ kỹ, với chúng, từ độ sâu như vậy nếu không có sự trợ giúp của ngành cứu hộ tai nạn từ bên ngoài sẽ không thể ra được.

    Có bao nhiêu thời gian để các sĩ quan của “Kurxcơ” thông qua quyết định tự thoát ra ngoài?

    Quyết định cần được thông qua trước khi áp suất trong khoang bắt đầu tăng, tức là rất nhanh. Họ đã không thông báo sự việc cho tổng tư lệnh hải quân, cho bộ trưởng quốc phòng, cho tổng thống Putin.

    Chính tôi là nhân viên tàu ngầm. Tôi hiểu, khoảng cách 2 phút 15 giây giữa hai vụ nổ là khoảng thời gian lớn đối với người anh em của chúng ta. Làm sao trong khoảng thời gian đó lại không xác định được phương hướng và không thông qua được một quyết định đúng đắn? Tôi thật không hiểu.

    Người ta có tới hỏi ý kiến ông không?

    Không ai tới chỗ tôi cả. Tôi đã cố đề nghị được góp sức, nhưng người ta đã nhã nhặn khước từ. Tôi gọi điện đến ngành cứu hộ tai nạn của hải quân. Tất nhiên, ở đó đang náo loạn, lãnh đạo đi vắng cả. Tôi cố gặp đồng chí tư lệnh, nhưng người ta không nối máy.

    Nửa năm sau, khi trò chuyện với Curoedop, tôi đã hỏi ông vì sao không gọi tôi. Ông trả lời: “Chúng tôi đã không thể tìm được anh”.

    Sau tai nạn của “Kurxcơ” đã có tuyên bố rằng ngành cứu hộ tàu ngầm duy nhất sẽ được tổ chức: vậy đã làm được gì chưa?

    Thực tế chưa có gì.

    Đoàn Phương ( theo Tuyệt mật )



    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Điều gì đã xảy ra với tàu ngầm nguyên tử “Kurxcơ” ?

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Điều gì đã xảy ra với tàu ngầm nguyên tử “Kurxcơ” ? bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Dieu gi da xay ra voi tau ngam nguyen tu Kurxco ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Điều gì đã xảy ra với tàu ngầm nguyên tử “Kurxcơ” ? ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tìm Hiểu của chuyên mục Thế Giới.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - THẾ GIỚI - TÌM HIỂU