Cuộc thi tìm hiểu "75 năm lịch sử vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh"

Thứ năm, 05 Tháng một 2006, 16:52 GMT+7
  • Phần I: Những đoàn viên thanh niên cộng sản Việt Nam thuộc lớp đầu tiên

    1- Tìm về nguồn cội

    Mùa hè năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Nga dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ V. Những người lãnh đạo Quốc tế thanh niên cộng sản (tổ chức này do V.I.Lênin trực tiếp sáng lập từ năm 1919) tha thiết mời Nguyễn Ái Quốc tham gia ban trù bị Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV.

    Giữa bộn bề công việc đang đến với mình nhưng Nguyễn không thể từ chối. Người yêu cầu lập ngay một nhóm làm việc trong đó có các đồng chí như Đa Lin, Phó trưởng Ban quốc tế của Quốc tế Thanh niên cộng sản, Trương Thái Lôi, người anh hùng của Công xã Quảng Châu (Trung Quốc) sau này, v.v... Điều làm cho Nguyễn Ái Quốc hết sức trăn trở nhiều năm nay là tình trạng "Thiếu tổ chức và người tổ chức" ở các thuộc địa tuy "luồng gió mới" của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã làm dấy lên tinh thần đấu tranh ở những nơi còn phải chìm đắm trong đêm đen nô lệ; nhưng chỉ với tinh thần thôi mà "thiếu tổ chức, thiếu người tổ chức" thì liệu những người đang bị đọa đày ấy sẽ làm được điều gì?

    Ngày 15/7/1924, Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV diễn ra trọng thể tại hội trường Công đoàn ở Matxcơva.

    Nguyễn Ái Quốc với tư cách là ủy viên Đoàn chủ tịch lãnh đạo Đại hội mang thẻ đại biểu số 94, đại biểu duy nhất của thanh niên Đông Dương và cũng là đại biểu duy nhất của toàn thể thanh niên các nước thuộc địa từ Á sang Phi đã phát biểu nhiều lần tại các phiên họp chung ở hội trường. Song, giờ phút đáng nhớ và gây xúc động nhất chính là lúc Nguyễn Ái Quốc trình bày bản dự thảo "Luận cương về thanh niên thuộc địa" do chính Người chủ trì soạn thảo (1).

    Chỉ một năm sau, tác giả chính của "Luận cương về thanh niên thuộc địa" (2) nổi tiếng ấy có mặt ở Quảng Châu. Tại "Thủ đô cách mạng của châu Á" này, Nguyễn Ái Quốc đã mở trường, cho xuất bản báo để bồi dưỡng, đào tạo các lớp thanh niên yêu nước Việt Nam từ Tổ quốc mình dũng cảm vượt qua vòng vây của kẻ thù đi tìm chân lý cứu nước. Từ giờ phút này (giữa năm 1925) Nguyễn Ái Quốc bắt đầu quá trình chuẩn bị sáng lập một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam cùng một tổ chức thanh niên cộng sản Việt Nam làm đội hậu bị cho Đảng, làm lực lượng nòng cốt cho phong trào thanh niên yêu nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Chính vì vậy Bác Hồ đã dạy: "Khi nói đến lịch sử Đoàn chúng ta nên đi ngược lên đến năm 1925" (3) và cũng chính vì vậy khi nói đến những đoàn viên đầu tiên do Bác trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo chúng ta phải tìm về nguồn cội.

    .................

    (1) (2) "Nguyễn Ái Quốc là tác giả chính bản luận cương về thanh niên thuộc địa" - trích luận án phó tiến sĩ sử học mã số 50304 của Văn Tùng công bố trên Báo Nhân dân số ra ngày 8/4/1990 nhân tiến tới kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5/1990.

    (3) "Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam", NXBTN-2004 - tr.5.

    2 - Từ 8 thiếu niên ngày ấy

    Từ những năm 1924 đến 1926, phong trào yêu nước của nhân dân ta, đặc biệt là của tuổi trẻ có sự bùng phát gây cho bọn thực dân và phong kiến không ít hoang mang, lo sợ. Tiếng bom Sa Diện mưu sát toàn quyền Đông Dương Méc Lanh (Merlin) của người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tuy không thành nhưng như Trần Dân Tiên nhận định: "Nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân".

    Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Hội cách mạng thanh niên Việt Nam (trước đây gọi là "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội"), tổ chức tiền thân của Đảng ta. Đây là sự kiện quan trọng trong lịch sử của Đảng và dân tộc. Trường huấn luyện chính trị do chính Người chủ trì cùng các đồng chí cộng sự Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn... ra đời thu hút nhiều lớp thanh niên yêu nước vượt biên giới đến học rồi trở về nước hoạt động, xây dựng tổ chức.

    Với cương vị là người theo dõi phong trào cách mạng các nước châu Á, Nguyễn Ái Quốc biết được lúc này ở vùng Đông Bắc Thái Lan đang có nhiều đồng bào ta do bị thực dân Pháp khủng bố phải lánh sang nước bạn. Họ là những người yêu nước từng tham gia hoặc ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp do các sĩ phu lãnh đạo. Họ luôn canh cánh trong lòng tinh thần phục quốc, họ mở trường học cho con em, mời các thanh niên từng "Đông du" ở Nhật về dạy.

    Mùa hè năm 1926, Nguyễn Ái Quốc, lúc này mang bí danh là Lý Thụy cử Hồ Tùng Mậu, người đồng chí thân thiết của mình trở lại Thái Lan chọn một số thiếu niên con em các gia đình yêu nước đưa sang Quảng Châu đào tạo nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng Thanh niên cộng sản đoàn. Đến Thái Lan, Hồ Tùng Mậu liên lạc được với cụ Tú Đặng tức Đặng Thúc Hứa, một sĩ phu chủ chốt trong "Quang phục Hội" truyền đạt ý kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

    Việc lựa chọn được thực hiện rất thận trọng, duy có một học sinh làm mọi người băn khoăn vì còn nhỏ tuổi quá (mới 12). Song cuối cùng, xét về cả tư chất và thân nhân, Hồ Tùng Mậu quyết định đưa vào danh sách. Đó chính là Lê Hữu Trọng.

    Nhóm thiếu niên học sinh đầu tiên người Việt từ Đông Bắc Thái Lan đến Quảng Châu rất sung sướng, vui mừng được gặp ngay đồng chí Lý Thụy. Đúng hơn, đây có thể coi là một cuộc "đoàn tụ" giữa những người thân trong gia đình. Để đảm bảo tính hợp pháp và nguyên tắc bí mật, cả nhóm có bí danh và đều mang họ Lý. Đó là: Lê Hữu Trọng mang bí danh Lý Tự Trọng; Đinh Chương Long mang bí danh Lý Văn Minh; Vương Thúc Thoại mang bí danh Lý Thúc Chất; Hoàng Tự mang bí danh Lý Anh Tự (có lúc đọc lệch là Tợ); Ngô Trí Thông mang bí danh Lý Trí Thông; Ngô Hậu Đức mang bí danh Lý Phương Đức (nữ); Nguyễn Thị Tích mang bí danh Lý Phương Thuận (nữ); Nguyễn Sinh Thản mang bí danh Lý Nam Thanh.

    3 - Kế hoạch đào tạo lâu dài

    Tại tầng hai ngôi nhà 13A phố Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc), đồng chí Lý Thụy yêu cầu Tổng bộ Hội Cách mạng thanh niên mà cụ thể là đồng chí Lê Hồng Sơn tổ chức một lớp học chính trị ngắn ngày riêng cho các thiếu niên với nội dung dễ hiểu. Sau đó hầu như tuần nào đồng chí Lý Thụy cũng đến thăm lớp. Người thường kể về các tấm gương anh hùng của dân tộc như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Quang Trung và cả Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám cho học sinh nghe. Người còn yêu cầu tổ chức cho học sinh tham quan cảnh đẹp, thăm mộ Phạm Hồng Thái... và sinh hoạt văn nghệ.

    Những tháng hè và thời gian học chính trị qua nhanh. Thực hiện chủ trương đào tạo có hệ thống của đồng chí Lý Thụy, các đồng chí trong Tổng bộ đã liên hệ đưa 8 học sinh vào học tại Trường Trung học Trung Sơn (Quảng Châu) trong lúc chờ đợi việc tiếp tục học tập tại Liên Xô.

    Ngày 22/7/1926, đồng chí Lý Thụy gửi một bức thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong thuộc Trung ương Đoàn TNCS Lênin: "Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu niên Việt Nam... các em còn nhỏ nhưng đã đau khổ nhiều, các em đã để cha mẹ ở nhà hàng ngàn cây số để bí mật đến Trung Quốc...". Thư đề nghị bạn nhận đào tạo những "Thiếu niên cộng sản đầu tiên của Việt Nam" này thành những "chiến sĩ Lêninnít trẻ tuổi"  và đề xuất kế hoạch tiếp nhận rất cụ thể, chi tiết. Dưới thư ký tên: Nguyễn Ái Quốc và ghi địa chỉ của Người: "Nilốpxki - Hãng thông tấn Rôxta Quảng Châu, Trung Quốc".

    Cùng ngày, đồng chí Lý Thụy còn gửi cho đồng chí đại diện Đoàn TNCS Pháp tại Quốc tế Thanh niên Cộng sản về việc Người đã gửi thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên thuộc Trung ương Đoàn TNCS Lênin đề nghị tiếp nhận một số thiếu niên Việt Nam để đào tạo cùng lời yêu cầu đại diện Đoàn TNCS Pháp liên hệ với Trung ương Đoàn TNCS Lênin ủng hộ chủ trương của Người. Dưới thư ký tên: Nguyễn Ái Quốc, nhưng ghi địa chỉ với tên là Lưu (không phải là Nilốpxki) cùng cơ quan là thông tấn xã Rôxta - Quảng Châu, Trung Quốc.

    Qua hai bức thư này chúng ta càng thấy rõ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm và kiên trì chủ trương đào tạo, bồi dưỡng, lớp thiếu niên học sinh Việt Nam đầu tiên nhằm chuẩn bị tiến tới xây dựng tổ chức TNCS ở nước ta đến mức nào. Lời đề nghị của Người đã được Trung ương Đoàn TNCS Lênin đáp ứng thuận lợi. Tuy nhiên, khi kế hoạch đưa các học sinh Việt Nam sang Liên Xô đang được chuẩn bị triển khai thì ngày 15/4/1927, sau khi Tôn Trung Sơn mất, phái hữu (phản động) trong Quốc dân đảng Trung Quốc phá vỡ sự hợp tác Quốc - Cộng, làm đảo chính ở Quảng Châu.

    4 - Vượt qua thử thách trở thành đoàn viên

    Không chịu khuất phục trước sự phản bội hèn hạ của bọn phản động quốc dân đảng, ngày 11/12/1927, một cuộc khởi nghĩa làm chấn động thế giới đã nổ ra ở Quảng Châu. Theo lời kêu gọi của Ban chấp hành tỉnh ủy Đảng cộng sản Trung Quốc tỉnh Quảng Đông và chủ trương của Tổng bộ Hội Cách mạng thanh niên, 8 học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn cùng với hầu hết học viên Việt Nam Trường võ bị Hoàng Phố đã sát cánh với các chiến sĩ cộng sản Trung Quốc cùng đội ngũ công nhân và quần chúng cách mạng chiến đấu quyết liệt với quân đội của bọn phản động.

    8 học sinh Việt Nam Trường Trung Sơn chia thành từng nhóm gia nhập các đội tuyên truyền, liên lạc, tiếp vận... phục vụ quân khởi nghĩa. Đây là cuộc thử thách quyết liệt đầu tiên đối với họ. Lúc đầu Lý Phương Đức và Lý Tự Trọng tham gia vào đội liên lạc, nhưng sau đó Trọng xin cấp vũ khí và tham gia đội tự vệ công nhân trực tiếp chiến đấu trên các chiến lũy dựng lên khắp các đường phố.

    Song khởi nghĩa Quảng Châu sớm bị dìm trong bể máu do lực lượng và trang bị chênh lệch. Quân khởi nghĩa rút ra khỏi thành phố. Rất nhiều chiến sĩ cách mạng Trung Quốc và Việt Nam có mặt ở Quảng Châu, trong đó có các học sinh Việt Nam Trường Trung Sơn bị bọn phản động bắt giam, tra tấn... Lý Tự Trọng, Lý Phương Đức và các anh chị khác đều khảng khái hỏi lại chúng: "Chúng tôi chỉ là học sinh, các ông bắt chúng tôi về tội gì?". Không một ai hé ra nửa lời, kiên cường chịu đựng đòn roi. Các cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa bị lộ đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống khủng bố đòi trả tự do cho những người bị bắt. Với tinh thần quốc tế, các đồng chí  đã tìm các luật sư có tiếng lúc ấy bảo vệ cho các đồng chí Trung Quốc và Việt Nam.

    Không có bằng chứng nên cuối cùng bọn phản động phải trả tự do cho các đồng chí ta trong đó có hầu hết học viên Trường võ bị Hoàng Phố và học sinh Việt Nam Trường Trung Sơn do trong hồ sơ đều ghi rõ là quê ở Quảng Đông. Một bộ phận các đồng chí cách mạng Việt Nam đã học ở Hoàng Phố chuyển về căn cứ địa Đông Giang tham gia xây dựng Hồng quân công nông Trung Quốc như Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn... Bộ phận khác phân tán đi vào quần chúng làm công tác vận động cách mạng. 8 học sinh Trường Trung Sơn buộc phải thôi học và cũng thực hiện việc phân tán theo các chiến sĩ cách mạng Việt Nam.

    Qua thử thách trong đấu tranh thực tiễn, 8 học sinh Việt Nam đều lần lượt được kết nạp vào Đoàn. Lý Tự Trọng là người đoàn viên thứ tám do đến năm 1929, Trọng mới đủ 15 tuổi. Trước yêu cầu mới, Trọng rời Quảng Châu sang Hương Cảng làm công nhân ở bến tàu giúp các đồng chí ta nối đường dây liên lạc về trong nước và đi các nước. Một số đoàn viên khác trong lớp 8 đồng chí đầu tiên về sau tìm được cách sang Liên Xô tiếp tục học tập theo chủ trương của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trước đây.

    5 - Họ đã sống và chiến đấu như thế

    Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở lại Hương Cảng để chuẩn bị chủ trì hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Lý Tự Trọng được đồng chí Ung Văn Khiêm đưa về Sài Gòn hoạt động. Số đoàn viên còn lại (trong 8 đồng chí nêu trên) tiếp tục công tác ở Quảng Châu và tại tỉnh Quảng Đông cùng các đồng chí cách mạng Việt Nam trong số đó có nữ đoàn viên Lý Phương Thuận lúc này lấy tên là Lý Tam hay còn gọi là cô Ba.

    Sau hội nghị hợp nhất thành lập Đảng thành công tốt đẹp, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, rèn luyện với chính cương, sách lược, điều lệ... mở ra thời kỳ mới cho cách mạng nước ta. Do một sơ suất từ bên ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lúc này lấy tên là Tống Văn Sơ bị mật thám Anh bắt giữ và đứng trước nguy cơ bị chúng trao cho mật thám Pháp theo sự dàn xếp, đeo bám của thực dân Pháp. Cùng bị bắt với Tống Văn Sơ có đoàn viên Lý Phương Thuận (Lý Tam). Mặc dù bị tra hỏi và đe dọa gắt gao, kể cả đòn roi, Lý Phương Thuận nhất mực không khai báo nửa lời, giữ tròn khí tiết của người đoàn viên thanh niên cộng sản. Luật sư Lô-dơ-bai nổi tiếng đã vượt qua nhiều khó khăn cứu thoát Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù với lòng cảm phục nhà lãnh đạo cách mạng lớn của Việt Nam. Ông bà Lô-dơ-bai đã hết lòng giúp Nguyễn Ái Quốc - Tống Văn Sơ trở lại Liên Xô... Lý Tam vô tội trở lại với đội ngũ chiến đấu của mình và sau Cách mạng Tháng 8/1945 về nước công tác.

    Ngày 17/4/1931, Lý Tự Trọng bị thực dân Pháp kết án tử hình do trước đó (ngày 8/2/1931), anh đã bắn chết tên mật thám Pháp cáo già khét tiếng tàn bạo Lơ-gơ-răng trên đường phố Sài Gòn nơi có sân bóng đá La-ray-nie. Trước bọn quan tòa thực dân, Lý Tự Trọng ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố: "Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác". Các thế hệ trẻ Việt Nam tiếp bước theo anh và các đồng chí của anh coi đó là bản Tuyên ngôn bất diệt trên con đường đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

    10 năm sau, kể từ ngày 17/4/1931, quân đội của phát xít Đức tiến sát thủ đô Mátxcơva trong đại chiến thế giới lần thứ 2.

    Lý Nam Thanh, Lý Thúc Chất, Lý Anh Tự (tức Tợ), ba trong số 8 đoàn viên đầu tiên cùng các đồng chí Việt Nam khác đang học tập và làm việc tại Liên Xô tình nguyện tham gia sư đoàn quốc tế bảo vệ Liên Xô. Cả ba đồng chí đã hy sinh anh dũng tại mặt trận phía Nam Mátxcơva và đều được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Vệ quốc cao quý.

    Trong các cuốn biên niên sử của Đoàn ta, Đội ta, 8 đoàn viên ấy - "tám cháu hiếm hoi từ bước đầu" do Bác Hồ kính yêu bồi dưỡng, đào tạo mãi mãi là 8 đóa hoa ngát hương trong rừng hoa rực rỡ của triệu, triệu chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân vì lý tưởng của Đảng, của Bác. Hãy nhận lấy và nhân lên niềm tự hào và sự vinh quang không dễ gì có được này.

    6- Đoàn ta ra đời

    Tại hội nghị hợp nhất thành lập Đảng tháng 2/1930 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, Người và các đại biểu đặc biệt quan tâm đến công tác vận động thanh niên. Cùng với việc thông qua Chính cương, sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng, hội nghị đã thông qua Điều lệ Thanh niên cộng sản Đoàn.

    Trong Điều lệ của Đảng ghi một điều quan trọng: "Người dưới 21 tuổi phải vào Thanh niên cộng sản Đoàn". Hội nghị còn nêu rõ trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với công tác xây dựng Đoàn.

    Quán triệt tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và của Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng, tháng 10/1930, hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất đã thảo luận và thông qua một văn kiện mang ý nghĩa lịch sử mở ra thời kỳ mới trong quá trình xây dựng tổ chức Đoàn. Đó là "án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động". "án nghị quyết" đã chỉ rõ nhiệm vụ cần kíp của tất cả các đảng viên cộng sản bằng một câu khẳng định như sau: "... Phải làm cho hết thảy đảng viên hiểu rằng công việc Thanh niên cộng sản Đoàn là một việc cần kíp, quan trọng như việc Đảng vậy...".

    Ngày 20/4/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta nhận được một bức thư quan trọng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài gửi về trong đó Người nhắc nhở Trung ương về việc phải khẩn trương xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn. Đặc biệt, trong thư Người đã thông báo cho Trung ương biết số lượng đoàn viên trong cả nước đến lúc ấy là 942 đồng chí (trừ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đang bị địch khủng bố ác liệt sau khi bùng nổ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh - chú thích của người viết). Cuối thư Người chỉ thị: "Tôi đề nghị cần kíp nhất là thống nhất Thanh niên cộng sản Đoàn... làm cho họ có sinh hoạt độc lập". Ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ rất phù hợp và thống nhất với chủ trương của Trung ương về quá trình xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn, làm tăng thêm tầm quan trọng, tính khẩn trương của vấn đề.

    Vào mùa xuân năm 1931, ở thời điểm từ ngày 20 đến ngày 26/3/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta tiến hành hội nghị lần thứ 2. Tại hội nghị này Trung ương đã dành nhiều thời gian trong những ngày cuối để thảo luận và tiếp tục có những quyết định quan trọng về công tác thanh vận như chính thức chỉ định một đồng chí trong Ban Thường vụ trực tiếp phụ trách công tác vận động thanh niên.

    Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ hai vạch rõ: "...lập tức các Đảng bộ địa phương phải mau mau tổ chức ra Đoàn, đốc xuất chi bộ tổ chức cơ quan báo chương về việc vận động của Đoàn...".


    Trước đây, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất (2/1950) quyết định lấy ngày 20/4 hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đoàn. Đó là ngày ra đời của Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam.

    Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba (1961), Ban Bí thư Trung ương Đoàn (khóa II) quyết định thành lập Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đoàn trực thuộc Trung ương Đoàn nhằm từng bước làm sáng rõ những vấn đề quan trọng trong lịch sử Đoàn và phong trào thanh niên nước ta trong đó có việc xác định một cách khách quan, khoa học thời điểm ra đời của Đoàn phù hợp với thực tiễn lịch sử.

    Được Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba họp từ ngày 22 đến 25/3/1961 đã thảo luận và biểu quyết lấy ngày 26/3/1931, một ngày trong thời gian cuối của hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai làm ngày kỷ niệm thành lập Đoàn hằng năm đúng với thực tiễn lịch sử đã diễn ra.

    Văn Tùng (Nhà sử học)

    Phần II: Tổ chức Đoàn mang tên gọi khác nhau qua các thời kỳ cách mạng

    1. Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương

    Tháng 5/1935, Mặt trận Nhân dân Pháp được thành lập và sau đó giành được đa số phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 6/1936. Chính phủ phái tả lên cầm quyền ở Pháp. Căn cứ diễn biến tình hình thế giới và trong nước, tháng 7/1936, Hội nghị T.Ư Đảng đã định ra đường lối, phương pháp tổ chức và đấu tranh cách mạng trong thời kỳ mới.

    Nhiệm vụ của Đảng và nhân dân ta lúc này là tập trung mũi nhọn đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi các quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống. Vì vậy, Đảng chủ trương lập Mặt trận Nhân dân Phản đế sau đổi thành mặt trận Thống nhất Dân chủ. Hội nghị BCH T.Ư Đảng họp tháng 7/1936 đã ra những quyết định quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối  với công tác vận động TN. Theo đó, trong thời kỳ cách mạng từ giữa năm 1936 đến mùa thu năm 1939, Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương mang tên Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương phù hợp với nhiệm vụ chính trị qua các nghị quyết của Đảng như trên đã nêu. Đoàn Thanh niên Dân chủ hoạt động công khai, có cơ quan báo chí riêng, đó là các tờ "Bạn dân", "Thế giới", "Mới" phát hành ở cả ba miền đất nước. Đoàn đã xây dựng đội ngũ của mình gồm hàng vạn đoàn viên, đấu tranh kiên cường dưới ngọn cờ của Đảng, tiếp nối truyền thống vẻ vang của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương (1931 - 1935).

    Ngoài việc phát hành báo, tổ chức Đoàn còn lập các Hội đọc sách, Hội văn nghệ, Hội thể thao, đặc biệt là hình thành các nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Nhiều tác phẩm chính trị, văn học của C.Mác. F.Angghen, V.I.Lênin, Goocki... như: "Tuyên ngôn Đảng cộng sản", "Tư bản", "Nhà nước là gì?", "Người mẹ"...  cũng như các cuốn sách do các chiến sĩ cộng sản Việt Nam viết như: "Vấn đề dân cầy" của Qua Ninh và Vân Đình, "Mác xít phổ thông" của Hải Triều và Thơ Tố Hữu được đông đảo đoàn viên, thanh niên hân hoan đón đọc.

    Được sự quan tâm của các Xứ ủy Đảng, phong trào TN và tổ chức Đoàn được củng cố, phát triển sâu rộng, có hệ thống từ cơ sở lên đến tỉnh, thành và xứ.

    Tuy nhiên, đến tháng 9/1939, đại chiến thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Thực dân Pháp thẳng tay thi hành chính sách đàn áp, khủng bố phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân và TN ta. Tổ chức Đoàn phải trở lại hoạt động bí mật.

    2. Đoàn Thanh niên Phản đế Đông Dương

    Tháng 11/1939, T.Ư Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định). NQ Hội nghị nhấn mạnh giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của CMGP dân tộc, là nhiệm vụ hàng đầu của CM Đông Dương. Hội nghị chủ trương lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các giai cấp và dân tộc ở Đông Dương để đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai của chúng.

    Theo chủ trương của Đảng, Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương mang tên mới là Đoàn Thanh niên Phản đế Đông Dương tiếp nối sự nghiệp vẻ vang của các tổ chức TNCS và TNDC trước đây. Đoàn đã xây dựng được cơ sở ở nông thôn, trong nhà máy và các trường học. Trong tình hình mới, tổ chức Đoàn hoạt động bí mật và được tổ chức chặt chẽ. Những ĐVTN Dân chủ được thử thách, lựa chọn và chuyển thành ĐVTN Phản đế, các hội viên TN trong các tổ chức TN phổ thông được giao những công tác thích hợp để thử thách bồi dưỡng.

    Tháng 9/1940, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương. Từ đây nhân dân Việt Nam một cổ hai tròng, bị hai kẻ thù là phát xít Nhật và thực dân Pháp cùng thống trị. Nhưng nhân dân Việt Nam và thế hệ thanh niên nước ta thời kỳ này không chịu khuất phục: Tháng 9/1940, khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra; tháng 11/1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ với sự xuất hiện lần đầu tiên lá Cờ đỏ Sao vàng; tháng 1/1941, nổ ra cuộc binh biến ở đồn Chợ Rạng và đồn Đô Lương.

    Các tổ chức Đoàn TN Dân chủ sau đó là Đoàn Thanh niên Phản đế đã vận động thanh niên đi đầu trong các cuộc đấu tranh và khởi nghĩa vũ trang từng phần, báo hiệu một thời kỳ mới: chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

    3. Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam

    Tháng 11/1940, Hội nghị T.Ư Đảng lần thứ 7 họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh) trong đó có phần nói về: "Vấn đề tổ chức các đoàn thể quần chúng". Nghị quyết hội nghị ghi: "Vì chính sách của Đảng ta hiện tại là chính sách cứu quốc cho nên mục đích các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu quốc là cốt yếu... Việt Nam thanh niên Cứu  quốc từ nay là đoàn thể của tất thảy thanh niên từ 18 đến 22 tuổi muốn  tranh đấu đánh Pháp, đuổi Nhật".

    Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước để cùng Ban chấp hành T.Ư Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Đây là sự kiện hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta...

    Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ 8 của T.Ư Đảng họp tại Pắc Bó (Cao Bằng) do Nguyễn Ái Quốc, đại diện của Quốc tế cộng sản triệu tập và chủ trì. Hội nghị đã nêu một quyết tâm sắt đá: "Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn  chịu mãi kiếp trâu ngựa, mà  quyền lợi của bộ phận giai  cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được".

    Để tập hợp động viên các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh đuổi phát xít Pháp - Nhật, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) và các Hội cứu quốc, trong đó có: Đoàn Thanh niên Cứu quốc - Việt Nam - một tổ chức của những thanh niên yêu nước tiếp nối sự nghiệp của các tổ chức thanh niên do Đảng ta  và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập và lãnh đạo trước đó.

    Hội nghị T.Ư Đảng lần thứ 8 có ý nghĩa lịch sử to lớn. Hội nghị đã hoàn thành việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong thời kỳ mới. Hội nghị đã nêu rõ vai trò, trách nhiệm của Đoàn TN Cứu quốc trong cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong suốt chặng đường dài từ 1941 - 1956, Đoàn TNCQ Việt Nam đã đóng góp to lớn, kể cả hy sinh  xương máu, cùng dân tộc vùng dậy trong Cách mạng Tháng Tám, lập nên Nhà nước Dân chủ, cộng hòa - Nhà nước  Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tháng 2/1950, Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam được triệu tập tại căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc. Đây là Đại hội đại biểu toàn quốc đầu tiên của Đoàn, gồm trên 400 đại biểu của ba miền đất nước. Sau đó, Đoàn đã vận động đoàn viên, TN đi tiếp chặng đường hơn 9 năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh góp phần xứng đáng làm nên một Điện Biên chấn động địa cầu, giải phóng hoàn toàn miền Bắc (7/1954), bắt tay xây dựng hậu phương lớn XHCN ở miền Bắc, chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam.

    4 - Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam

    Tháng 7/1954, hòa bình được lập lại trên miền Bắc, căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ mới, Bộ Chính trị T.Ư Đảng trong phiên họp tháng 9/1954 đã chủ trương đổi tên Đoàn TNCQ Việt Nam thành Đoàn TNLĐ Việt Nam và xây dựng Đoàn TNLĐ Việt Nam thành một tổ chức thực sự có tác dụng là lực lượng dự trữ và cánh tay của Đảng.
    Quyết nghị có đoạn viết: "Đảng ta là Đảng Lao động Việt Nam. Việc Đoàn TNCQ Việt Nam đổi tên thành Đoàn TNLĐ Việt Nam sẽ làm cho thanh niên thêm phấn khởi, thêm gắn bó với Đảng và do đó càng quyết tâm phấn đấu đến cùng dưới ngọn cờ của Đảng".

    Trong "Quyết nghị về đổi tên Đoàn TNCQ Việt Nam thành Đoàn TNLĐ Việt Nam và kế hoạch xây dựng Đoàn TNLĐ Việt Nam" (Ban Bí thư T.Ư - ngày 19/10/1955) đã nêu rõ tính chất, nhiệm vụ, vấn đề tổ chức và kế hoạch xây dựng Đoàn TNLĐ Việt Nam.

    Về tính chất của Đoàn TNLĐ Việt Nam, Quyết nghị nêu: "Đoàn TNLĐ Việt Nam là một tổ chức quần chúng tiên tiến của TN Việt Nam, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Đoàn TNLĐ Việt Nam là trường học của chủ nghĩa Mác-Lênin của thanh niên, là nơi bồi dưỡng lực lượng dự trữ của Đảng, là cánh tay thực hiện mọi chính sách của Đảng". Quyết nghị của Đảng đã vạch rõ nhiệm vụ của Đoàn trong thời kỳ mới và đề ra kế hoạch xây dựng Đoàn là:

    "1. Đảm bảo tính chất tiên tiến của Đoàn... Không kết nạp ồ ạt và tập thể. Nơi nào chưa có đủ điều kiện đổi tên Đoàn thì chưa đổi.
    2. Làm cho ĐVTN có một nhận thức đúng đắn về Đoàn TNLĐ Việt Nam. Việc kết nạp đoàn viên hoặc đổi tên Đoàn phải trên cơ sở tự nguyện, tự giác của TN.
    3. Kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện những nhiệm vụ công tác chính trước mắt do Đảng đề ra... Việc xây dựng Đoàn TNLĐ Việt Nam  cần làm một cách có lãnh đạo và có kế hoạch cụ thể cho từng vùng...".

    Quyết nghị nêu kết luận: "Việc đổi tên Đoàn TNCQ Việt Nam  thành Đoàn TNLĐ Việt Nam là một việc rất quan trọng có ảnh hưởng đến việc xây dựng một phong trào thanh niên lớn mạnh trong toàn quốc, đến việc phát triển cơ sở Đảng trong quần chúng lao động và việc hoàn thành những nhiệm vụ cách mạng hiện nay. Các cấp ủy Đảng cần nắm vững đường lối vận động thanh niên của Đảng, trực tiếp lãnh đạo thực hiện nghị quyết này".

    5 - Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh

    Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, người sáng lập rèn luyện Đoàn ta qua đời. Toàn thể cán bộ, ĐVTN và đội viên thiếu niên, nhi đồng nước ta vĩnh biệt Người với nỗi xót thương vô hạn. Bác Hồ và Đảng đã coi sự trưởng thành của lớp thanh niên nước ta là một trong những thành quả vĩ đại của cách mạng, có quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau.

    Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, đáp ứng nguyện vọng của thế hệ trẻ và theo đề nghị của Đoàn TNLĐ Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/1970), BCH T.Ư Đảng đã ra Nghị quyết cho Đoàn Thanh niên và đội thiếu niên, Đội Nhi đồìng được mang tên Bác.

    Nghị quyết nêu rõ: "... Thể theo nguyện vọng của thế hệ trẻ nước ta và đề nghị của Đoàn TNLĐ Việt Nam", BCH T.Ư Đảng Lao động Việt Nam quyết định:

    - Đoàn TNLĐ Việt Nam nay là Đoàn TNLĐ Hồ Chí Minh
    - Đội TNTP Việt Nam nay là Đội TNTP Hồ Chí Minh
    - Đội Nhi đồng Việt Nam nay là Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh

    Tổ chức Đoàn và tổ chức Đội được mang tên Bác là vinh dự lớn lao, đồng thời là trách nhiệm nặng nề trước Tổ quốc và nhân dân. Đoàn ta được mang tên Bác Hồ càng làm rõ mục đích và tính chất của Đoàn là đội tiên phong chiến đấu của TN, đi đầu phấn đấu cho lý tưởng cách mạng cao cả của Đảng và Bác Hồ là độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

    6. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

    Tháng 4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

    Ngày 26/3/1976, Lễ kỷ niệm lần thứ 45 ngày thành lập Đoàn đã được tổ chức trọng thể tại Hà Nội. Tại Lễ kỷ niệm này, tổ chức Đoàn trong cả nước đã thống nhất mang tên chung là Đoàn Thanh Niên Lao động Hồ Chí Minh.

    Đại hội lần thứ IV của Đảng họp từ ngày 14 đến 20/12/1976 tại Thủ đô Hà Nội đã quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam (2/1951) thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thể theo nguyện vọng của cán bộ, ĐVTN cả nước, Đại hội Đảng lần thứ IV đã quyết định đổi tên Đoàn TNLĐ Hồ Chí Minh (1970) thành: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

    Đại hội Đảng chỉ rõ nhiệm vụ của Đoàn và phong trào thanh niên trong giai đoạn mới là: "Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phải được xây dựng và củng cố vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là trường học CSCN của lớp người trẻ tuổi, là cánh tay đắc lực và đội hậu bị tin cậy của Đảng".

    Được mang tên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là vinh dự và tự hào lớn của toàn thể cán bộ đoàn viên nước ta.

    Gần 30 năm trôi qua, kể từ ngày được mang tên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Tổ chức Đoàn và tuổi trẻ cả nước luôn cống hiến hết mình vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới đất nước, đặc biệt là trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH dưới sự lãnh đạo của Đảng vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Thạc sĩ Phạm Bá Khoa

    Phần III: Những truyền thống vẻ vang của Đoàn và tuổi trẻ Việt Nam (1)

    Suốt 75 năm cống hiến và trưởng thành dưới ngọn cờ của Đảng quang vinh và Bác Hồ kính yêu, tổ chức Đoàn và tuổi trẻ nước ta đã xây đắp nên những truyền thống vẻ vang, đó là:

    + Truyền thống yêu nước nồng nàn, gắn bó thiết tha, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, với chế độ XHCN.

    Truyền thống quý báu này đã tạo nên động lực vô giá xuyên suốt các thời kỳ lịch sử được thể hiện trong hành động cách mạng, nhất là ở những bước ngoặt của lịch sử. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, điều kiện nào, tuyệt đại bộ phận TN ta luôn siết chặt hàng ngũ chung quanh Đảng lãnh đạo, chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

    + Truyền thống của đội quân xung kích cách mạng, dám đón lấy những nhiệm vụ nặng nề, dám đi đến những nơi khó khăn, gian khổ, dám suy nghĩ sáng tạo... để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: "Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên đi đầu", thế hệ trẻ nước ta luôn nêu cao tinh thần hăng hái sẵn sàng xung phong đến những nơi Tổ quốc cần, dù đó là biên cương hay hải đảo, dù công việc đó là mới mẻ hay khó khăn.

    + Truyền thống gắn bó đoàn kết trong lớp người cùng lứa tuổi, trong các tổ chức Đoàn và Hội; đoàn kết gắn bó với nhân dân; thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong hoạn nạn, đặc biệt là vào những thời điểm phải đối mặt với kẻ thù hay thiên tai. Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế luôn hòa quyện với nhau, thông cảm và đồng tâm hợp lực vì những mục tiêu cao cả của dân tộc và thời đại.

    + Truyền thống hiếu học, ham hiểu biết để tự mình nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, quản lý và quân sự... say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp của dân tộc và của Đảng. Học ở nhà trường, học trong cuộc sống, học để làm người có ích cho xã hội luôn được các thế hệ thanh niên ta phấn đấu, thực hiện ngày càng tốt hơn.

    Phát huy những truyền thống quý báu nêu trên, các thế hệ đoàn viên, hội viên, thanh niên, đội viên thiếu niên và nhi đồng ở nước ta đã tiếp bước theo nhau góp phần đưa sự nghiệp cách mạng của nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách đạt nhiều thắng lợi hết sức to lớn, những kỳ tích vẻ vang trong thế kỷ XX làm cho Tổ quốc XHCN của chúng ta có vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế, vững bước tiến vào thế kỷ XXI.

    (1) Theo Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam, NXBTN - Hà Nội - 2001.

    Thạc sĩ Phạm Bá Khoa

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Cuộc thi tìm hiểu "75 năm lịch sử vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh"

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Cuộc thi tìm hiểu "75 năm lịch sử vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh" bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Cuoc thi tim hieu 75 nam lich su ve vang cua Doan TNCS Ho Chi Minh ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Cuộc thi tìm hiểu "75 năm lịch sử vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh" ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Nhịp Sống Trẻ của chuyên mục Thế Giới Trẻ.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - THẾ GIỚI TRẺ - NHỊP SỐNG TRẺ