80% người mắc viêm gan B không có triệu chứng rõ rệt

Thứ ba, 03 Tháng bảy 2007, 09:22 GMT+7
  • 80 nguoi mac viem gan B khong co trieu chung ro ret

    Làm thế nào để kiểm soát được những người bị nhiễm siêu vi VGB không có triệu chứng rõ rệt? Điều trị và phòng ngừa như thế nào hiệu quả và ít tốn kém nhất?...Tòa Soạn đã có cuộc trò chuyện với GS.BS Phạm Hoàng Phiệt (ảnh), Chủ tịch Hội Gan mật TPHCM xung quanh các vấn đề trên.

    Thưa GS, mức độ nghiêm trọng của viêm gan B trên thế giới và trong khu vực hiện nay ra sao?

    Viêm gan B là một căn bệnh toàn cầu với xuất độ tương đối rất cao ở châu Á. Hiện trên toàn thế giới có khoảng 400 triệu người mắc phải viêm gan B, trong đó có 75% là người châu Á. Tại một số nước thuộc châu lục này, có đến 20% dân số mắc VGB mạn tính.

    Viêm gan B mạn là một bệnh nghiêm trọng gây biến chứng tốn kém bao gồm xơ gan (bệnh gan) và cácxinôm tế bào gan (ung thư gan) và chi phí bệnh tăng khủng khiếp nếu không được điều trị.

    Theo Tổ chức Y tế thế giới, hơn nửa triệu người chết mỗi năm do ung thư gan nguyên phát - 80% ung thư gan là do viêm gan B.

    Những chỉ số chủ chốt nào cần làm xét nghiệm đối với viêm gan B ?

    Viêm gan B mạn được chẩn đoán bằng cách tính số lượng kháng thể trong máu người đối với vi rút gây ra bệnh. Có một số yếu tố cần xem xét đối với viêm gan B: mức DNA của HBV (cho biết mức độ nhân lên, sao chép của vi rút) - xét nghiệm quan trọng; nồng độ men gan ALT (xác định mức độ tổn thương tế bào gan); sự chuyển huyết thanh HBeAg thành kháng thể kháng Hbe; kháng nguyên Viêm gan B (HBeAg) – cho biết có khả năng lây nhiễm; kháng thể kháng Hbe – kiểm tra sự hoạt động của hệ miễn dịch.

    Ngoài ra, sự chuyển huyết thanh là sự thay đổi của một xét nghiệm kháng thể từ âm tính thành dương tính, xét nghiệm dương tính xác định sự phát triển các kháng thể phản ứng với virut.

    Vậy mục tiêu điều trị được khuyến nghị đối với các bệnh nhân viêm gan B như thế nào, thưa GS?

    Mục tiêu điều trị đối với viêm gan B mạn là làm giảm mức tải vi rút (số lượng vi rút viêm gan B - một chỉ báo quan trọng của điều trị thành công) trong máu bệnh nhân.

    Theo các hướng dẫn cập nhật của Hiệp hội Nghiên cứu bệnh gan Mỹ (AASLD) được công bố ở châu Á tại Hội nghị APASL 2007, mục tiêu cơ bản của điều trị viêm gan B mạn là đạt được sự ức chế duy trì đối với sự sao chép của vi rút viêm gan B và lui bệnh gan. Mục tiêu tối hậu là ngăn chặn xơ gan, suy gan và ung thư gan.

    Một mối quan ngại chủ yếu với việc điều trị viêm gan B dài hạn là sự chọn lọc các đột biến kháng thuốc chống vi rút. Mức độ các đột biến kháng thuốc được chọn lọc có liên quan đến mức độ HBV DNA trước điều trị, sự nhanh chóng ức chế vi rút, thời lượng điều trị và sự tiếp xúc trước đây với các thuốc chống vi rút.

    Xin GS giải thích thêm sự kháng thuốc có ảnh hưởng điều trị như thế nào?

    Kháng thuốc do vi rút viêm gan B thích nghi và đột biến sao cho một thuốc trước đây dùng để điều trị vi rút không còn hiệu quả nữa. kháng thuốc là một cản trở chính đối với điều trị thành công.

    Thưa GS, tình hình bệnh viêm gan B trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay như thế nào?

    Theo ước tính của Tổ chức Y Tế Thế Giới có khoảng 2 tỷ người đã bị nhiễm siêu vi viêm gan B (1/3 dân số), trong số này phần lớn đã khỏi, chỉ còn khoảng 350 đến 400 triệu người là đang nhiễm.

    Ở nước ta, theo số liệu điều tra về dịch tễ học, số người đang bị nhiễm chiếm khoảng 10 đến 20% dân số (trung bình 15%), như vậy cả nước có khoảng 12 triệu người đang nhiễm (cao gấp 40 đến 50 lần số người đang nhiễm HIV).

    Nguồn gốc lây nhiễm của những người đang bị nhiễm siêu vi VGB ở VN là khoảng 25% từ mẹ sang con lúc chu sinh. 50% lây nhiễm ở tuổi thiếu niên nhi đồng và 25% còn lại là do các nguyên nhân khác.

    Vậy, biện pháp phòng ngừa nào được xem là hiệu quả nhất để ngăn ngừa bệnh này trong cộng đồng?


    Trong 5 loại siêu vi chính đã biết thì siêu vi VGA và E chỉ gây bệnh cấp tính mà thôi nên không gây ra các biến chứng lâu dài như xơ gan và ung thư gan. Siêu vi B, C, và D sau khi nhiễm cấp có thể trở thành mạn tính và tồn tại hầu như suốt đời ở bệnh nhân, nếu không được điều trị, một số sẽ bị biến chứng nặng như xơ gan hay ung thư gan.

    Về mặt vắc xin dự phòng thì ngày nay trên thị trường đã có vắc xin hiệu quả cao để phòng ngừa VGB và VGA. Vắc xin với các siêu vi viêm gan khác đang được nghiên cứu. Do đó, với siêu vi VGB và siêu vi VGA tiêm phòng là biện pháp ngừa chủ động hiệu quả nhất và ít tốn kém nhất.

    Hơn nữa, nếu phòng được siêu vi VGB thì phòng được cả siêu vi VGD vì siêu vi này chỉ tồn tại được trên những người bị nhiễm siêu vi VGB. Nhiễm siêu vi VGB mạn tính rất phổ biến ở nước ta (khoảng >=15% dân số) vì vậy sự hiểu biết về siêu vi VGB trong cộng đồng là rất cần thiết để góp phần phòng chống cũng như tuân thủ điều trị.

    Làm sao để biết được mình đã bị nhiễm siêu vi VGB hay chưa?

    Do khoảng 80% những người bị nhiễm siêu vi VGB không có triệu chứng rõ rệt và nếu đang bị nhiễm thì trong nhiều năm cũng chưa có triệu chứng nên chỉ có thể tiến hành các xét nghiệm tầm soát mới biết được.

    Một quốc gia có tỷ lệ nhiễm siêu vi VGB cao như VN, nếu có điều kiện nên làm xét nghiệm tầm soát cho mọi người. Nếu điều kiện hạn chế chúng ta nên ưu tiên tầm soát ở các đối tượng có nguy cơ bị nhiễm cao đó là những người được truyền máu hay sản phẩm của máu (nhất là truyền trước năm 1990 khi chưa áp dụng sàng lọc máu phổ biến để cơ bản loại trừ lây nhiễm siêu vi VGB); những người sử dụng ma tuý qua đường tĩnh mạch; người hoạt động mại dâm; người đồng tính luyến ái; người có nhiều bạn tình;người trong gia đình thân thiết có nhiễm siêu vi VGB hoặc xơ gan, ung thư gan; những người đã chích lể, xâm mình trong điều kiện vô trùng không tốt; những người được cấy ghép mô hay chạy thận nhân tạo…

    Đối với trẻ em, chúng ta nên làm như thế nào để những thế hệ tương lai hoàn toàn không bị mắc phải chứng bệnh nguy hiểm này?

    Cho tới trước thời điểm vắc xin viêm gan B được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng trên toàn quốc (2003), nguyên nhân dẫn đến việc nhiễm SVVG B mạn tính ở VN cũng như một số nước Đông Nam Á là do lây truyền từ mẹ sang con ở thời kỳ chu sinh (khoảng 25%) và bị nhiễm ở tuổi thiếu nhi (khoảng 50%), còn lại là do các nguyên nhân khác.

    Ở VN, khoảng 10% bà mẹ mang thai đang nhiễm B mạn tính (HBsAg dương tính). Con của các bà mẹ đang nhiễm này có nguy cơ nhiễm SVVG B cao (khoảng 40%) nếu không được chủng mũi ngừa đầu tiên ngay trong ngày mới sinh. Đặc biệt nhóm thai phụ ở nhóm lây nhiễm cao (HBeAg dương tính) lây cho con đến trên 90% nếu không chủng ngừa.

    Đặc điểm của trẻ bị nhiễm B ở thời kỳ chu sinh này là có đến trên 95% sẽ trở thành nhiễm mạn tính. Trái lại nếu bị nhiễm ở tuối trưởng thành thì chỉ 5% trở thành mạn tính và 95% sẽ tự lành bệnh. Điều này nói lên rằng việc tiêm phòng viêm gan B ở trẻ nhỏ là vô cùng quan trọng để tránh bị nhiễm mạn tính.

    Đường lây truyền của SVVG B cũng giống như HIV và SVVG C, đó là qua máu và các sản phẩm từ máu, qua quan hệ tình dục và truyền từ mẹ sang con. Do SVVG B bền vững trong môi trường hơn nên các chuyên gia ước tính nguy cơ lây truyền B nói chung cao gấp 100 lần so với HIV. Nếu chúng ta tuân thủ các nguyên tắc phòng lây lan của HIV tức là cũng tránh được lây lan của SVVG B và SVVG C (hiện chưa có văcxin phòng HIV va SVVG C).

    Xin cảm ơn GS!

    Nh.Lê

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin 80% người mắc viêm gan B không có triệu chứng rõ rệt

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết 80% người mắc viêm gan B không có triệu chứng rõ rệt bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết 80 nguoi mac viem gan B khong co trieu chung ro ret ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc 80% người mắc viêm gan B không có triệu chứng rõ rệt ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Sức Khỏe của chuyên mục Sức Khỏe.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - SỨC KHỎE - TIN SỨC KHỎE