Những “nhà chế tạo” nông dân

Thứ năm, 16 Tháng mười một 2006, 05:06 GMT+7
  • Nhung nha che tao nong dan
    Ông Hai Ô Rê bên chiếc cầu kéo - Ảnh: HÙNG ANH
    Trong cuộc sống, thường xuyên đối đầu với những khó khăn, nhiều nông dân với tinh thần vượt khó đã mày mò, sáng tạo ra những phương tiện lao động độc đáo. Họ là những... nhà chế tạo nông dân...

    “Vua cầu kéo” Cà Mau

    Anh tài công nhấn nhẹ tay ga một lần nữa rồi nhấc chân vịt lên khỏi mặt nước. Chiếc canô nhẹ nhàng nằm im trên tấm vỉ bằng những thân tràm ghép lại, máy vẫn nổ trầm trầm. Trên bờ, người gác đập khởi động chiếc máy dầu hiệu Yanmar rồi hụ ga. Con lăn từ từ quay, sợi dây thừng căng ra kéo tấm vỉ chở chiếc canô chậm rãi bò trên đường ray bằng gỗ, trồi lên khỏi mặt nước rồi trườn qua mặt đập cao ngất ngưởng của cống Chủ Chí, nhẹ nhàng hạ xuống dòng kênh phía bên kia. Trong lúc tôi và những người ngồi trên canô mặt xanh như tàu lá vì sợ thì anh tài công khoái chí khoe: “Sáng kiến của dân Cà Mau đó, tài tình không?”. Tài tình thật nên từ lâu nhiều người dân vùng Cà Mau gọi người sáng chế là “vua cầu kéo”. Đó là ông Hai Ô Rê, một ông “vua” chưa học hết bậc tiểu học.

    Nhà ông Hai Ô Rê (Đặng Ô Rê) nằm bên bờ kênh Hai Hạt thuộc ấp Thuận Lợi, xã Tân Thuận (Đầm Dơi, Cà Mau), kế bên công trình cầu kéo hoành tráng vắt ngang mặt đập đổ ra sông Gành Hào. Nói đến chuyện sáng chế cầu kéo, ông Hai cười ha hả: “Túng quá làm đại, ai ngờ thành công”, rồi kể...

    Năm 1982 ông Hai Ô Rê dời nhà từ Đông Hải (Bạc Liêu) về ở ngã ba kênh Hai Hạt và sông Gành Hào. Hồi phong trào ngăn mặn đang rầm rộ, ngã ba kênh Hai Hạt cũng mọc lên một con đập to chần vần, ngăn cách con kênh với sông Gành Hào. Tuyến kênh Hai Hạt là một thủy lộ quan trọng, lượng ghe xuồng lưu thông qua lại rất lớn. Sau khi con đập mọc lên, vợ chồng con cái ông Hai Ô Rê cùng lối xóm “lãnh đủ hậu quả”: bất kể ngày hay đêm, nắng hay mưa, hễ có ghe xuồng tới là cả xóm già trẻ lớn bé phải lấy dây thừng phụ kéo qua đập. Kéo riết rồi chịu không thấu. Một hôm ông Hai chợt nhớ đến hình ảnh chiếc xe chở lúa từ bến sông lên nhà máy xay xát bằng gỗ, có bốn bánh bằng thép chạy trên đường ray. Tại sao mình không làm một cái cầu kéo? Ông nghĩ và mang ý tưởng này bàn với vợ con và chòm xóm, ai cũng cười xòa, nói: “chuyện viển vông”. Bàn với UBND xã Tân Thuận, lãnh đạo xã nói rằng nếu ông làm được thì cứ thu tiền, UB xã miễn thuế năm năm với điều kiện... không làm hư con đập. Ông Hai Ô Rê liền chạy đi vay 1 triệu đồng ra chợ Cà Mau tìm mua cây gỗ, dây thừng, sắt thép, ròng rọc, con lăn, cừ tràm... về hì hục cưa xẻ, thiết kế mấy tháng trời... Ngay trong buổi chiều khai trương, kéo một chiếc xuồng loại chở khoảng 7, 8 người qua đập ông lấy 1.000 đồng/chiếc. Thoáng chốc ông thu được hơn 60.000 đồng cùng một mớ thuốc hút do các chủ xuồng “khoái cái phát minh kỳ cục này quá nên tặng thêm”, ông Hai hào hứng kể. Hai tháng sau ông Hai cải tiến đường ray rộng hơn để kéo được ghe xuồng lớn và thuê hai ca trực cầu kéo với giá 1,8 triệu đồng/tháng, mỗi ca bốn thanh niên lực lưỡng xúm nhau quay tời kéo xuồng qua lại mặt đập, mỗi ngày đêm thu được 2 chỉ vàng (hồi đó vàng chỉ có 270.000 đồng/chỉ).

    Cuối năm 1990, ông Hai Ô Rê lại tiếp tục làm một “cuộc cách mạng” cho cái cầu kéo kỳ lạ: xây kiềng đà bằng bêtông cốt thép thay cho cừ tràm để tăng độ chịu lực của đường ray gỗ, lắp động cơ làm lực kéo (máy dầu chạy ghe) thay cho sức quay tay của con người, nới rộng chiều ngang của đường ray lên 1,4m và lắp các bánh xe thép vào khung sắt chở miếng vỉ kéo ghe. Theo ông Hai, vốn đầu tư xây dựng một cầu kéo kiên cố như vậy khoảng 80 triệu đồng nhưng... làm ba tháng là gỡ vốn. Ngồi nói chuyện với ông, tôi nhẩm đếm trong vòng 1 giờ đã có gần 30 chiếc xuồng trườn lên cầu kéo, qua đập.


    Từ khi phát minh ra cầu kéo kỳ lạ, ông Hai Ô Rê không nhớ đã có bao nhiêu người tìm đến học hỏi kinh nghiệm. Chỉ biết rằng ở vùng bán đảo Cà Mau nơi nào có con đập ngăn cách sông rạch là nơi đó có mặt phát minh cầu kéo của ông.

    ...Nông dân có thể ngẩng mặt lên trời

    Nhung nha che tao nong dan

    Ông Trạch và ông Việt bên “đứa con” máy cấy ĐA2. Ảnh: MINH THÙY

    Chiếc máy cấy được đặt tên là ĐA1 với năm tay cấy, mỗi ngày có thể cấy được 1,2ha (thay thế được sáu lao động thủ công) đã thành công ngoài sức tưởng tượng, nhưng hai lão nông Lê Mậu Trạch và Lê Niên Việt (thôn Tuyên Hóa, xã Đông Anh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa) vẫn chưa hài lòng. Trong đầu hai lão nông này xuất hiện bao nhiêu câu hỏi: tại sao lại không có chiếc máy có nhiều tay cấy hơn, tại sao lại không lắp thêm máy nổ có công suất lớn hơn... Gần 13 năm mới hoàn thiện được đứa con tinh thần của mình, nụ cười trên khuôn mặt hai bà vợ chưa dứt thì hai lão quyết định cải tiến chiếc ĐA1 thành chiếc ĐA2. Và người ta lại thấy hai lão già bên đống sắt vụn.

    Chiếc máy cấy ĐA2 được vạch ra với chín tay cấy, cần một người điều khiển và công suất mỗi ngày là 2,5ha. Hơn một năm trời hai lão nông này quyết mày mò cho bằng được các động tác trong khi cấy: ra mạ, cắp mạ, nhả tay rút về và lùi. “Khi đưa vào máy cũng vậy... Phải nắm được những nguyên lý ấy”, ông Việt nói.

    Gần 14 năm trời hai lão nông dân tuổi gần 70 này không biết nhận được bao nhiêu tiếng vào lời ra: “Để xem hai ông... khùng ấy làm nên cái gì, không biết chữ đòi làm khoa học... Nhiều người đã nói chúng tôi như vậy” - ông Trạch kể. Mặc cho những lời chế nhạo xung quanh, suốt ngày người ta thấy hai lão nông này cặm cụi giữa đống sắt thép vụn trong cái lán sửa chữa xe đạp của người con trai.

    Cơ chế hoạt động của máy ĐA2 khá đơn giản: chiếc máy nổ chạy, kéo dây curoa quay giúp máy hoạt động làm cho chiếc cần cấy hoạt động, trong khi đó chín tay cấy được một bộ phận nằm trên cần cung cấp mạ.

    Khi được hỏi mục đích của “nhà sáng chế” nông dân khi làm ra chiếc máy, hai ông bày tỏ tâm niệm: “Người nông dân cả đời làm ruộng chỉ biết cắm mặt xuống đất mà làm. Tôi mơ một ngày nông dân mình vừa cấy vừa có thể ngẩng mặt lên trời. Miền quê Đông Anh chúng tôi nổi tiếng với bài dân ca Đi cấy: Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng. Nông dân ngày làm không hết việc, đến đêm còn phải đi cấy dưới trăng. Chiếc ĐA2 thành công có thể thay thế được 12 lao động thủ công trong một ngày thì chắc người nông dân không phải đi cấy dưới trăng nữa...”.

    Ông Trạch khoe: “Thấy bà con mình suốt ngày điện tới điện lui đặt mua máy, chắc anh em chúng tôi phá sản kế hoạch ban đầu là chỉ làm cho hai bà xã thôi. Chúng tôi đang tiến hành làm thủ tục đăng ký bản quyền để sản xuất hàng loạt bán cho bà con”.

    HÙNG ANH - CHÍ THÙY

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Những “nhà chế tạo” nông dân

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Những “nhà chế tạo” nông dân bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Nhung nha che tao nong dan ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Những “nhà chế tạo” nông dân ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Bài Báo Hay của chuyên mục Phóng Sự.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - PHÓNG SỰ - BÀI BÁO HAY