Đời nông dân nghèo không đất

Thứ bảy, 27 Tháng mười hai 2003, 14:30 GMT+7
  • Doi nong dan ngheo khong dat
    Vợ chồng anh Trung, chị Nhàn và đàn con nheo nhóc này phải ra đi vì “cư trú trái phép” trên mảnh đất mà họ đã từng canh tác qua trung gian của nhiều ông chủ
    TTCN - Khách đến tìm tôi là một phụ nữ trạc tuổi 40, gương mặt khô cằn sạm màu nắng gió, bộ bà ba nhàu nát lấm tấm bụi đường, tay cầm chiếc nón lá bung vành úp lên đầu gối. Nhìn tôi, chị cười thân quen: “Anh không nhớ ra tôi sao?”. Tôi ngờ ngợ rất lâu mới nhận ra chị Nhàn ở U Minh Hạ. Mới có sáu năm mà trông chị già quá.

    Sáu năm trước, chị mới 29 tuổi. Hồi ấy, tôi về U Minh Hạ gặp chị cũng vì chuyện đất đai, rồi bây giờ chị tìm đến tôi cũng thế. Chị móc túi lấy ra tờ đơn viết tay, nét chữ nguệch ngoạc đầy lỗi chính tả, lời văn thô kệch nhưng cháy bỏng nỗi khao khát đất đai của những người nông dân không đất. Chị nói: “Anh xem và tìm cách giúp bà con, tụi tui vô cùng biết ơn”. Mặt sau lá đơn là hàng chục chữ ký.

    Trả lại chị thì tôi chẳng đành lòng, mà nhận thì chẳng khác nào mình gieo cho người ta một niềm hi vọng trong khi tôi thừa biết mình chẳng giúp được gì, kết cục thì cũng như chuyện của sáu năm trước mà thôi.

    Quá khứ...

    Hồi ấy, tôi gặp chị Nhàn ở kênh 29 thuộc Lâm trường U Minh I, lúc ấy chị đang mang thai, lại phải gồng gánh hai đứa con nhỏ trong căn chòi xiêu vẹo, chồng chị - anh Đinh Văn Trung - thì đang ở tù, chị sống trong sự đùm bọc của cha mẹ và bà con lối xóm. Rồi đất bằng dậy sóng, cả xóm chị, trên 20 hộ dân với cả trăm con người bị giải tỏa vì lý do cư trú trái phép trên đất của lâm trường...

    Ngay từ lúc sinh ra chị đã nghèo, gia đình không ruộng đất. Lớn lên theo cha mẹ đi làm mướn, khi lấy chồng lại cũng gặp một anh chồng nghèo như chị. Gia đình bên chồng chị chỉ có mười công ruộng nhưng có đến 13 miệng ăn, chị lại phải cùng chồng đi làm thuê kiếm sống: đào đất, làm cỏ, gặt mướn, cấy mướn quanh năm.

    Năm 1989, nhiều người trong xóm chị rủ nhau vào các lâm trường thuê đất ruộng, cả gia đình chị cũng kéo đi, tất cả mười người gồm cha mẹ, bốn đứa em, hai vợ chồng chị và hai đứa con mọn. Đến kênh 29 thuộc Lâm trường U Minh I, cha mẹ chị thuê được 4ha, vợ chồng chị thuê được 3ha với giá 500.000 đồng/ha/năm. Tổng diện tích khu đất này là 60ha do lâm trường cấp cho văn phòng UBND huyện U Minh để sản xuất tự túc với danh nghĩa là gây quĩ công đoàn.

    Văn phòng UBND cho 20 hộ dân thuê lại nhưng chỉ được phép sử dụng mặt đất để trồng lúa và sử dụng bờ đê để trồng chuối, rau màu, tuyệt đối không được khai thác cá dưới mọi hình thức vì đó là nguồn lợi của văn phòng. Điều kiện ràng buộc khắt khe đến thế nhưng họ vẫn chấp nhận bởi đây là con đường sống duy nhất của những nhà nông không đất, dẫu sao thì họ cũng có được hạt lúa do chính mình làm ra.

    Doi nong dan ngheo khong dat
    Đào đất mướn là “nghề ruột” của anh Đinh Văn Trung
    Đến năm 1994, hợp đồng hết hạn, văn phòng UBND huyện giao khoán lại toàn bộ diện tích đất cho ông Lê Thanh Liêm, một nông dân giàu có và là cháu ruột của ông chủ tịch huyện. Mức khoán của văn phòng UBND giao cho ông Liêm giá bao nhiêu thì không ai biết, nhưng ông Liêm nâng giá thuê đất cho các hộ này lên 1,5 triệu đồng/ha, trả trước 1 triệu, còn lại trả sau khi thu hoạch lúa. Điều kiện ràng buộc cũng như trước đây, nghĩa là ông Liêm trọn quyền thu hoạch cá, bà con không được bắt cá dưới mọi hình thức, ai vi phạm sẽ bị thu hồi đất.

    Những người lớn tuổi như cha của chị Nhàn tỏ ra uất ức bởi cái thời của ông, làm tá điền dưới chế độ thực dân Pháp, thì mỗi công đất chỉ nộp tô hai giạ lúa tới mùa, bây giờ thuê đất của Nhà nước mà phải qua ba trung gian và với cái giá này thì qui ra mỗi công hơn sáu giạ, lại phải đi vay tiền để trả trước hai phần ba. Mâu thuẫn giữa ông Liêm và những người thuê đất từ đó bắt đầu.

    Ngày ngày, người ta thấy ông ngồi trên vỏ lãi chạy dọc theo tuyến kênh một cách oai vệ như một tên chủ điền không hơn không kém. Có lẽ vì là cháu ruột của ông chủ tịch huyện nên ông Liêm được trang bị bốn khẩu súng AK, một khẩu cạcbin và một số lựu đạn để cho đám đệ tử của ông hằng đêm đi canh giữ cá đồng và cuối mùa đi đòi nợ những người thuê đất.

    Năm 1996, hàng loạt cá chết, ông Liêm đi trình báo, công an huyện xuống điều tra, họ phát hiện có mấy chai thuốc trừ sâu dưới ruộng của chị Nhàn và anh Việt - cũng một người thuê đất. Ngay sau đó anh Trung (chồng chị Nhàn) và anh Việt bị bắt giam vì bị tình nghi thuốc cá của ông Liêm.

    Trong một chuyến đi công tác về vùng U Minh Hạ, anh Đặng Huỳnh Lộc - phóng viên Báo Cà Mau - đã viết một phóng sự 11 trang dưới đầu đề “Những nhà nông không đất”, chủ yếu xoay quanh những số phận trong cái xóm của chị Nhàn và một số lâm trường lân cận. Bài viết của Lộc không báo nào dám đăng, anh bèn gửi Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

    Không ngờ việc làm liều lĩnh của Đặng Huỳnh Lộc lại khuấy động đất U Minh: ngày 16-9-1997, Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi công điện khẩn cho Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau: “Tôi nhận được phóng sự của nhà báo Đặng Huỳnh Lộc viết về đất đai, rừng tràm U Minh (gửi kèm theo). Nếu sự thật như phóng sự này phản ánh thì có thể nói tình hình rất nghiêm trọng. Tôi đề nghị đồng chí chủ tịch có quyết định lập ngay một đoàn thanh tra gồm Thanh tra nhà nước của tỉnh, Sở Địa chính, Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn và nếu tỉnh ủy đồng ý thì mời cả Ủy ban Kiểm tra Đảng của tỉnh tham gia, về tại chỗ kiểm tra, đối chiếu tình hình. Phải xử lý kỷ luật hành chính thật nghiêm mọi tổ chức, cá nhân nào vi phạm. Nếu có dấu hiệu hình sự thì phải cho tiến hành điều tra, khởi tố theo pháp luật.Đề nghị đồng chí chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp giao nhiệm vụ, chỉ đạo đoàn thanh tra và báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ”.

    Theo kết quả điều tra của Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau cuối năm 2002, Cà Mau có trên 14.000 hộ nông dân không có đất sản xuất.

    Trong khi đó 125 cơ quan nhà nước và 1.022 cán bộ, nhân viên từ tỉnh đến huyện được cấp trên 8.000ha từ nguồn đất của các lâm ngư trường.

    Hầu hết tổ chức và cá nhân này chỉ đứng tên nhận đất để khoán lại cho nông dân theo hình thức phát canh thu tô hưởng lợi, thậm chí người nông dân trực canh phải đội trên đầu hai ba ông chủ, tạo ra sự phân hóa giai cấp nghiêm trọng dẫn tới nhiều bi kịch trong đời sống nông thôn.

    Trước thực trạng đó, đầu năm 2003 tỉnh Cà Mau chủ trương thu hồi toàn bộ diện tích đất nói trên để cấp lại cho nông dân.


    Ông Nguyễn Quốc Việt, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cho biết đến cuối năm 2003, nhiều cơ quan và cán bộ trong tỉnh đã làm đơn trả đất lại cho các lâm ngư trường trên 3.000ha. Đầu năm 2004, UBND tỉnh sẽ tiếp tục thu hồi và cân đối diện tích để cấp lại cho nông dân.

    Hơn một tháng sau, Chánh văn phòng UBND tỉnh thông báo ý kiến kết luận của chủ tịch tỉnh về việc thanh tra đất rừng U Minh theo phóng sự của Đặng Huỳnh Lộc: thứ nhất: thu hồi 60ha đất tự túc của văn phòng UBND huyện U Minh giao lại cho Lâm trường U Minh I quản lý để trồng lại rừng tràm; thứ hai: thu hồi toàn bộ vũ khí của Lê Thanh Liêm sử dụng trái phép; thứ ba: trục xuất 21 hộ dân cư trú trái phép ra khỏi khu vực lâm trường.

    Được sự giúp đỡ của một thầy giáo ở địa phương, đại diện 21 hộ dân làm đơn khiếu nại, họ đòi trả lại cho họ sự công bằng. Bởi lẽ, gần mười năm qua họ chấp nhận canh tác trên mảnh đất này qua ba tầng bóc lột, chẳng ai xem họ là người cư trú trái phép, bây giờ nếu như Nhà nước thu hồi đất từ tay kẻ bóc lột thì tại sao không giao quyền làm chủ lại cho họ?

    Những ngày sau đó, thỉnh thoảng tôi thấy Đặng Huỳnh Lộc ngồi trong quán cà phê với vài anh nông dân áo quần lem luốc, có khi là mấy chị phụ nữ ngồi co ro, mặt buồn rười rượi, chiếc nón lá bung vành úp lên đầu gối. Tôi hiểu ngay đó là những nhà nông không đất đang tìm đến anh, một nhà báo. Mà một nhà báo như anh thì có thể giúp được gì cho họ?

    Cuối năm ấy Lộc bỏ quê lên Sài Gòn làm cho một tờ báo khác, còn 21 hộ dân ở kênh 29 sau mấy tháng cầm cự đành phải ra đi dù chưa biết trước nơi nào là cái bến.

    Chị Nhàn kể rằng chồng chị đang ở tù, còn chị thì oằn oại trong cơn đau chuyển dạ nhưng cũng bị buộc phải ký vào biên bản cam kết ra đi. Sau khi sinh được ba ngày, mẹ chị dìu chị xuống xuồng trong một cơn mưa gió. Không có áo mưa, chỉ có chiếc nón lá che cho đứa con còn đỏ hỏn. Mẹ chị bơi xuồng đưa chị đến ở trọ nhà của một giáo viên tốt bụng trong rừng.

    Đến khi sức khỏe bình phục, mẹ con, bà cháu mới dắt díu về quê. Nhưng khổ nỗi cả gia đình chị và nhiều bà con khác đã không được quê hương thừa nhận, hộ khẩu bị cắt, nhà cửa, đất đai không có. Chị tìm về nhà chồng, nhưng gia đình bên chồng chị đang là đối tượng phải cứu đói của địa phương trong mùa giáp hạt. Chị dựng căn chòi bằng lá dừa trên một bờ mương làm nơi tạm trú để đi làm mướn nuôi con trong cảnh non ngày non tháng để chờ đợi chồng về.

    Và hiện tại

    Tiễn chị Nhàn ra về, tôi giữ lại lá đơn trong tay nhưng không biết phải làm gì để giúp chị và những người đã ký trong đơn. Cũng như sáu năm trước đây, Đặng Huỳnh Lộc đã không giúp được gì cho họ mà còn phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn.

    Biết rằng là thế nhưng cũng không thể kềm chân được! Tôi xách Honda chạy một mạch xuống U Minh. Từ xã Khánh Lâm, tôi thuê chiếc đò đi thẳng vào kênh 89. Tôi gặp hàng chục người, hàng chục gương mặt, người tại chỗ có, người từ xa đến cũng có, mỗi người có những trang tiểu sử khác nhau, nhưng họ có một kết cục giống nhau là: những nhà nông không đất và đang khao khát đất.

    Họ bảo với tôi rằng: “Nghe nói tỉnh Cà Mau có chủ trương thu hồi toàn bộ đất của các cơ quan và cán bộ sử dụng theo hình thức phát canh thu tô để cấp cho dân nên họ đang chờ đợi để xin đất. Bà con cho biết trên tuyến kênh này có trên 200ha, Lâm trường U Minh I cấp cho các cơ quan của huyện làm tự túc, các cơ quan khoán lại cho cán bộ, cán bộ khoán lại cho dân mỗi ha 60 giạ lúa tới mùa, còn nếu trả tiền mặt thì mỗi ha 2 triệu đồng.

    Doi nong dan ngheo khong dat
    Bà Nguyễn Thị Hấn cùng đứa cháu ngoại sắp phải rời căn nhà này dù không biết sẽ về đâu
    Tôi gặp lại bà Nguyễn Thị Hấn, mẹ của chị Nhàn, ở cái tuổi 70 mà bà vẫn còn bưng thau bánh ú đi bán dạo. Lưng còng, chân yếu với thau bánh nặng trịch, bà như bò lết qua những khối đất lổm chổm trên bờ đê. Bà kể: năm 1997 sau khi bị giải tỏa ở kênh 29, bà trở về quê nhưng cũng giống như tình cảnh chị Nhàn, không cách nào sống nổi.

    Vợ chồng con cái lại chèo chống sang U Minh đi làm mướn để tìm cơ hội thuê đất. Đến đây, bà thuê 3ha đất của ông Hiệp - một cán bộ huyện - với giá 180 giạ lúa tới mùa. Nhưng làm một năm bị chuột cắn sạch, chỉ thu được 30 giạ. Không có lúa nộp tô, ông Hiệp lấy đất lại cho người khác thuê. Không có chỗ ở, bà phải thuê lại của người chủ mới một công để cất nhà và trồng mía, hằng ngày phải đi bán bánh ú để kiếm miếng cơm.

    Nghe tôi đến, anh Đinh Văn Trung, chồng chị Nhàn, đang đào đất mướn cũng vội bỏ về. Những thước phim của cuộc đời anh sáu năm qua cũng chẳng có gì mới mẻ, khác chăng là bây giờ anh có đến sáu đứa con. Anh kể sau khi bị tạm giam 7 tháng 11 ngày, cơ quan điều tra không chứng minh được anh là thủ phạm trong vụ thuốc cá của ông Liêm nên thả về.

    Về quê cũng không biết làm gì để sống nên vợ chồng con cái lại gồng gánh sang đây. Mùa hạn thì ngày đi đào đất mướn, tối soi chuột đồng cho vợ mang ra bán ở chợ U Minh. Mùa mưa, đến kỳ khai thác rừng thì vô rừng làm mướn, rồi xin cành ngọn tràm chặt khúc bó củi đi bán, cứ thế sống lây lất qua ngày.

    Cách đây hai năm, anh thuê được 1ha đất của ông Hận - một cán bộ huyện cũng nhận khoán lại đất của cơ quan - với giá 60 giạ lúa tới mùa. Nhưng làm ra chỉ được 35 giạ. Khi chở lúa về sân, ông Hận qua thu lúa ruộng. Anh năn nỉ ông Hận: “Tôi làm cực khổ chỉ được có bấy nhiêu đó, anh lấy phân nửa, còn lại năm sau tôi trả, chớ anh lấy hết chắc tôi phải tự tử mà chết chớ làm sao nhìn cảnh vợ con tôi đói”. Ông Hận thông cảm chừa lại anh mười giạ, nhưng mùa sau ông Hận lấy đất lại cho người khác thuê với giá 2 triệu đồng tiền mặt.

    Thế là cuộc đời của vợ chồng anh Trung, sau 15 năm lang thang làm cuộc mưu sinh dưới tán rừng U Minh Hạ, họ chẳng được gì ngoài sự ra đời thêm bốn đứa con. Nhìn gia đình anh trước căn chòi xiêu vẹo, nhìn gương mặt hồn nhiên của những đứa trẻ, lòng tôi lại xôn xao. Mong sao với quyết tâm của UBND tỉnh qua chủ trương thu hồi đất của cán bộ cấp cho dân, đời chúng sẽ không như bố mẹ mình nữa. Ngày nào đó không xa nữa chúng sẽ canh tác trên mảnh đất của mình.

    VÕ ĐẮC DANH

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Chủ đề liên quan: Đời nông dân nghèo không đất

    Nhận xét tin Đời nông dân nghèo không đất

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Đời nông dân nghèo không đất bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Doi nong dan ngheo khong dat ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Đời nông dân nghèo không đất ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Bài Báo Hay của chuyên mục Phóng Sự.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - PHÓNG SỰ - BÀI BÁO HAY