Trái cây ĐBSCL vẫn không đủ sức cạnh tranh

Thứ năm, 22 Tháng sáu 2006, 15:59 GMT+7
  • Thị trường trái cây không phải không có đầu ra mà nguyên nhân chính là vùng trồng cây ăn trái ĐBSCL chưa đáp ứng được các đòi hỏi, tiêu chuẩn của thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.

    Trai cay DBSCL van khong du suc canh tranh
    Năm 2006, diện tích cây ăn trái của đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đã tăng thêm 22.000 ha, đưa tổng diện tích vuờn cây ăn trái toàn vùng ĐBSCL lên xấp xỉ 300.000 ha, trong đó có khoảng 120.000 ha trồng các loại cây đặc sản như xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, sầu riêng, bưởi da xanh, bưởi Năm Roi... tập trung nhiều ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang...

    Dự tính, tổng sản lượng trái cây năm nay vào khoảng 3,3 triệu tấn. Nhưng cứ đến mùa vụ chính, trái cây ĐBSCL cứ lặp đi lặp lại tình trạng “trúng mùa thì dội chợ” đặc biệt là tình trạng không cạnh tranh nổi với trái cây ngoại nhập chứ chưa nói đến xuất khẩu.

    Trồng cây theo phong trào

    Tiến sĩ Võ Mai, chủ tịch Hiệp hội Trái cây Việt Nam cho biết qua khảo sát việc trồng cây ăn trái vùng ĐBSCL, người trồng thường cứ thấy anh hàng xóm trồng cây gì bán có tiền thì cả xóm đua nhau trồng, không cần biết sau này khi trái chín bán cho ai, bán ở đâu giá cả ra sao?

    Hơn nữa trái cây là loại hàng hóa bắt buộc phải thu hoạch khi chín và rất khó bảo quản, tỉ lệ hư hỏng của trái cây Việt Nam sau thu hoạch đến 30%.

    Một nguyên nhân khác làm cho trái cây ĐBSCL khó bám được thị trường là tập quán trồng cùng lúc nhiều loại cây ăn trái trên cùng một mảnh vuờn để đề phòng trường hợp” loại trái cây này rớt giá thì còn trái khác vớt lại” không bị mất trắng.

    Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, những tỉnh trồng cây ăn quả nhiều như Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp... nhưng những loại cây ăn trái có thương hiệu như xoài cát Hòa Lộc cũng được trồng chưa đến 1.000ha, các loại cây ăn trái nổi tiếng khác như vú sữa Lò Rèn, bưởi, sầu riêng... mỗi loại vài trăm, thậm chí vài ngàn ha nhưng trồng rất phân tán, manh mún.

    Do vậy, thời gian chín rộ của từng loại trái cây thường kéo dài theo tiến độ chăm sóc của nhà vườn, rất khó nắm chắc sản lượng của từng loại trái cây ở từng vùng, địa phương nên việc liên kết giữa thị trường tiêu thụ với nguồn nguyên liệu trong tiêu thụ sản phẩm rất khó.

    Việc không liên kết được thị trường tiêu thụ cũng làm cho trái cây ĐBSCL bị thương lái ép giá, đẩy giá bán trái cây nội lên cao. Cách đây 5 tháng, Trung tâm Thương mại trái cây quốc gia (giai đoạn 1) kinh phí đầu tư trên 50 tỷ đồng được đưa vào họat động ở xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đi vào họat động với mục đích làm đầu mối tập trung các nguồn trái cây.

    Thế nhưng, chợ trái cây lớn thứ 3 cả nước này với (giai đoạn 1) lại rất lèo tèo, ế ẩm chỉ vì người nông dân ĐBSCL chưa quen tập trung trái cây vào một chỗ mà chỉ quen bán ở các chợ dọc đường ven sông mà thôi.

    Bên cạnh việc không gắn được với thị trường, chất lượng trái cây ĐBSCL cũng là vấn đề quyết định giá cả và tính cạnh tranh của nó trên thị trường trong nước và quốc tế.

    Với tổng sản lượng khoảng 3,3 triệu tấn trong năm 2006 này với hàng trăm chủng loại, giống trái cây khác nhau, đặc biệt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong trái cây rất cao...

    Trong khi lượng trái cây Việt Nam chủ yếu là tiêu thụ dạng tươi chiếm đến 85% sản lượng, còn lại qua chế biến, đóng hộp xuất khẩu chiếm khỏang 15% còn lại. Tuy nhiên, việc chế biến trái cây lại rất thủ công với công nghệ hết sức lạc hậu nên tỷ lệ hư hao của trái cây lên đến 30% và không thể vận chuyển đến được những thị trường xa với chất lượng đạt theo yêu cầu của người mua hàng.

    Lập vùng chuyên canh, nâng chất lượng chế biến

    Từ thực trạng nêu trên, vừa qua Hiệp hội trái cây Việt Nam đã kết hợp với các địa phương thành lập Liên kết sản xuất và tiêu thụ trái cây an toàn khu vực sông Tiền (GAP sông Tiền) với sự tham gia của tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh nhằm giúp nông dân khu vực có diện tích trái cây lớn nhất nước này xóa được nghịch lý bấy lâu nay là “nhu cầu rất nhiều, đáp ứng được bao nhiêu”.


    Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, để nâng cao giá trị của trái cây ĐBSCL thì cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như trước tiên người nông dân phải mạnh dạn thay những giống cây ăn trái chất lượng kém đang trồng bằng những giống mới chất lượng cao hơn, cụ thể như phải loại bỏ những vườn sầu riêng cũ, thay bằng giống sầu riêng Chín Hóa, Ri 6, trồng bưởi da xanh, Năm Roi thay bưởi chua nhiều nước đang trồng, trồng xoài cát Hòa Lộc để thay các giống xoài địa phương...

    Thứ hai là phải xây dựng cho được các vùng chuyên canh trái cây đặc sản có qui mô vài ngàn hecta/loại trở lên, kế đến là phải hướng dẫn nông dân áp dụng những kỹ thuật tiên tiến (GAP) để sản xuất những loại trái cây an tòan...

    Kế đến là việc liên kết 4 nhà (Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp) sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành các vùng sản xuất và tiêu thụ trái cây có qui mô lớn và bền vững cho các tỉnh ĐBSCL.

    Tuy nhiên, thời gian qua, việc qui hoạch các vùng đất cho chuyên canh cây ăn trái của chính quyền địa phương ở các tỉnh ĐBSCL thời gian qua rất chậm chạp.

    Do vậy để tự cứu mình, nhiều hộ trồng cây ăn trái đã tự liên kết thành lập các tổ sản xuất, hợp tác xã (HTX) sản xuất và tiêu thụ trái cây như HTX xoài cát Hòa Lộc ở Tiền Giang, HTX cam sành Tam Bình (Vĩnh Long), HTX bưởi long Cổ Cò (Tiền Giang)... và các HTX trên đã họat động rất thành công.

    Một giải pháp khác là phải xây dựng cho được những biện pháp sản xuất vùng nguyên liệu đạt chất lượng để từng bước xây dựng thương hiệu cho trái cây ĐBSCL.

    Thực tế hiện nay dù là vùng nguyên liệu trái cây lớn nhất nước, nhưng số lượng nhà máy chế biến trái cây ở ĐBSCL từ 15 nhà máy trước đây xuống còn 5-7 nhà máy.

    Nguyên nhân chính chỉ vì thiếu nguyên liệu chế biến. Cụ thể như Công ty CP rau quả Tiền Giang đã chế biến để xuất khẩu sang các nước Pháp, Hà Lan, Thụy Sĩ, Hàn Quốc... từ dứa, mãng cầu, ổi, bí đao, tác, bưởi, chôm chôm đến thanh long... nhưng chỉ có nguồn nguyên liệu dứa là Công ty xây dựng được vùng nguyên liệu 8000 ha ổn định, còn lại các nguyên liệu khác phải chạy ăn đong từng bữa vì không có nguyên liệu đạt yêu cầu.

    Công ty TNHH Trái cây Cửu Long chuyên chế biến 10 loại mứt trái cây và nước ép trái cây tươi cần nguồn nguyên liệu từ 50-60 tấn trái cây tươi các loại/tuần, nhưng mua khắp nơi cũng chỉ đáp ứng được khoảng 1/5 nhu cầu nguyên liệu.

    Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu của trái cây Việt Nam đang giảm từ 330 triệu USD năm 2001 xuống còn 178 triệu USD năm 2005. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng trái cây cho thị trường nội địa và nâng cao giá trị trái cây qua chế biến công nghiệp là hướng phát triển lâu dài cho trái cây ĐBSCL.

    Có thể nói trái cây Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng không phải không có thị trường, không có đầu ra, mà nguyên nhân chính là vùng trồng cây ăn trái ĐBSCL chưa đáp ứng được các đòi hỏi, tiêu chuẩn của thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.

    Theo TTXVN

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Trái cây ĐBSCL vẫn không đủ sức cạnh tranh

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Trái cây ĐBSCL vẫn không đủ sức cạnh tranh bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Trai cay DBSCL van khong du suc canh tranh ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Trái cây ĐBSCL vẫn không đủ sức cạnh tranh ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Kinh Tế của chuyên mục Kinh Tế.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - KINH TẾ - TIN KINH TẾ