Ngân hàng Nhà nước lúng túng trong quản lý thị trường ngoại hối

Thứ tư, 29 Tháng mười 2003, 07:43 GMT+7
  • Nhiều chính sách quản lý thị trường ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước (SBV) thời gian qua còn nhiều bất cập khiến tỷ giá hiện chưa thật sự phản ánh đúng tình hình cung - cầu tiền tệ trong nền kinh tế. SBV cũng chưa kiểm soát được thị trường ngoại tệ "chợ đen" và việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối chưa thật sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh...

    Ngan hang Nha nuoc lung tung trong quan ly thi truong ngoai hoi
    Diễn biến tỷ giá trong những năm qua còn nhiều phức tạp.

    TS. Lê Phan Diệu Thảo - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP.HCM - và nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã nhận định như vậy khi trao đổi với phóng viên TS.

    Bà Thảo cho rằng, thành công của chính sách tỷ giá trong thời gian qua là xoá bỏ sự áp đặt chủ quan, duy ý chí trong việc thiết lập tỷ giá. Khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường chợ đen dần được thu hẹp. Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá trong những năm qua còn nhiều phức tạp. Bà dẫn chứng: ""Từ tháng 2/1999, tỷ giá đã được xác định trên cơ sở tỷ giá bình quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nhưng trong thực tế, SBV vẫn chưa thực hiện triệt để nguyên tắc này. Cơ chế điều hành tỷ giá còn quy định biên độ mua bán làm cho việc yết giá của các ngân hàng thương mại bị cứng nhắc, chưa phản ánh đúng cung cầu ngoại tệ trên thị trường".

    Sự kết hợp giữa chính sách quản lý ngoại hối với các chính sách quản lý vĩ mô khác đã có, nhưng chưa hài hoà. Mặc dù Chính phủ đã quan tâm đến tính đồng bộ trong việc ban hành các chính sách quản lý vĩ mô. Tuy nhiên, trong một số thời kỳ nhất định, các chính sách này còn thể hiện nhiều điều bất cập. Lấy chính sách lãi suất làm ví dụ. Trong thời kỳ 1994-l996, tỷ giá VND/USD ổn định nhưng mức chênh lệch lãi suất giữa VND và USD lớn. Hậu quả tất yếu của nó là hầu hết các ngân hàng thương mại chuyển nguồn vốn ngoại tệ sang nội tệ để kinh doanh. Tình trạng ngoại hối của nhiều ngân hàng trong thời kỳ này ở trạng thái đoản (short position). Sang giữa năm 1997, các ngân hàng thương mại đồng loạt thu vét ngoại tệ trên thị trường để cân bằng trạng thái ngoại hối. Thực trạng này đã đẩy sự mất cân đối tiền tệ trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng hơn. Ngược lại trong giai đoạn cuối 1999-2000, tỷ giá VND/USD luôn có xu hướng tăng đều nhưng các ngân hàng thương mại lại duy trì mức chênh lệch lãi giữa USD và VND nhỏ. Điều này làm gia tăng hiện tượng đôla hoá nền kinh tế và lãng phí nguồn ngoại tệ"".

    Một khía cạnh nữa khiến việc quản lý ngoại hối chưa hiệu quả là do thị trường ngoại tệ liên ngân hàng vẫn hoạt động kém hiệu quả. Đây là nơi cung cầu ngoại tệ gặp nhau, nhưng hoạt động của thị trường này trong thời qua chưa phản ánh đúng thực trạng kinh doanh ngoại hối của nền kinh tế. Nguyên nhân của vấn đề được ông Nguyễn Ngọc Lân - Vụ Quản lý Ngoại hối của NHNN - cho rằng, trước hết là do Ngân hàng Nhà nước chưa thực hiện tốt chức năng là người đặt lệnh mua, lệnh bán cuối cùng để điều chỉnh thị trường.

    Cụ thể, trong những năm 1994-1996, cung ngoại tệ trên thị trường dồi dào do hoạt động xuất khẩu gạo, dầu thô... phát triển vượt trội, nguồn vốn ODA, FDI tăng nhanh. Các doanh nghiệp có nhu cầu chuyển ngoại tệ sang nội tệ để kinh doanh. Tại thời điểm này, hầu hết ngân hàng thương mại đều đặt lệnh bán ngoại tệ. Để cân đối thị trường và bổ sung nguồn dự trữ, lẽ ra Ngân hàng Nhà nước phải mua ngoại tệ vào, nhưng điều này đã không được thực hiện một cách tương thích. Cung vượt cầu, tỷ giá VND/USD có khuynh hướng hạ, giá trị đồng Việt Nam tăng vượt qua giá trị thực của chúng tạo áp lực lên giá cả hàng hoá.

    Bên cạnh đó, SBV lại chưa tập trung được nguồn ngoại tệ. Mặc dù, kim ngạch xuất khẩu luôn tăng, nguồn vốn nước ngoài, kiều hối khá phong phú nhưng một lượng lớn ngoại tệ đã được lưu giữ trong dân cư, trên tài khoản của doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoặc tại kho quỹ của các ngân hàng thương mại. Nguồn ngoại tệ tập trung cho quỹ dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước còn hạn hẹp. Tại nhiều thời điểm, nhiều nơi, nhà nước không thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ hợp lý của nền kinh tế. Cung cầu ngoại tệ luôn bị mất cân đối, tạo áp lực xấu lên cán cân thanh toán và làm cho tỷ giá luôn có xu hướng gia tăng.

    ""DN tư nhân bị phân biệt ngay từ tư duy cấp chủ quản...""

    Bà Lê Diệu Thảo cũng cho rằng, SBV chưa kiểm soát được thị trường ngoại tệ "chợ đen". USD vẫn chiếm vị trí quan trọng trong tính toán, dự trữ, chi trả các món hàng có giá trị lớn, các giao dịch bất động sản, buôn lậu... Điều này không chỉ làm làm ảnh hưởng đến việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước mà còn làm phương hại đến chủ quyền quốc gia về tiền tệ, không phù hợp với tập quán quốc tế.

    Việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối chưa thật sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đó là nhận định của bà Nguyễn Thị Hồng - Vụ Chính sách tiền tệ của SBV: ""Mặc dù trong tất cả các văn bản của Ngân hàng Nhà nước nói chung và quy chế quản lý ngoại hối nói riêng đều yêu cầu đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, nhưng trong thực tế, các doanh nghiệp quốc doanh vẫn nhận được nhiều ưu ái trong việc tiếp cận với các nguồn vốn nước ngoài, bảo lãnh nhập hàng thanh toán quốc tế, ngoại hối... Các doanh nghiệp tư nhân, cổ phần vẫn còn bị phân biệt đối xử ngay trong tư duy của các cấp chủ quản"". Một số phạm vi, đối tượng quản lý ngoại hối theo bà Hồng chưa được quan tâm đúng mức. Ví dụ, việc kiểm soát quản lý, khai thác, kinh doanh vàng bạc, đá quý còn lỏng lẻo. Vàng miếng, ngoại tệ được dùng khá phổ biến trong thanh toán hàng hoá có giá trị cao làm ảnh hưởng đến hoạt động xác định, kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông của ngân hàng. Việc kiểm soát ngoại hối đối với thẻ thanh toán quốc tế cũng chưa chặt chẽ; Quản lý ngoại hối trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều sơ hở, gây thất thoát tài sản quốc gia.


    Ngay cả những nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ trên thị trường như kỳ hạn, hoán đồi tiền tệ chưa được linh hoạt. Nghiệp vụ Quyền lựa chọn tiền tệ đang trong giai đoạn thí điểm, nghiệp vụ tương lai (foward) chưa được phép thực hiện... Điều này làm hạn chế tính linh hoạt của thị trường ngoại hối.
    (Bà Lê Phan Diệu Thảo - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP.HCM)

    Các chuyên gia trong ngành đều thống nhất rằng, nguyên nhân bao quát của các tồn tại, trước hết là do bản thân của chính sách quản lý ngoại hối chưa hoàn chỉnh. Việc hoạch định chính sách còn mang tính ngắn hạn, các công cụ chưa được phối hợp hài hoà, các quy định kiểm soát ngoại hối trong từng thời kỳ còn khập khễnh...

    Ngoài ra, một số hạn chế trong hoạt động quản lý ngoại hối còn phát sinh từ bản thân của nền kinh tế như Nhà nước chưa có biện pháp giải quyết dứt điểm nạn buôn lậu gian lận thương mại trong nền kinh tế, hoạt động "ngầm" của nền kinh tế vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong xã hội; cán cân thanh toán vãng lai thường xuyên thâm hụt, mức bội chi của ngân sách chưa được cải thiện; các biện pháp quản lý kinh tế vĩ mô chưa được phát triển hài hoà và đúng mức; sự yếu kém trong quản lý và kinh doanh tiền tệ; tệ quan liêu, tham nhũng chưa được xử lý nghiêm khắc...

    Chính sách đang làm hoạt động kinh doanh tiền tệ gượng ép, giả tạo

    Theo thoả thuận của ASEAN, AFTA bắt đầu có hiệu lực với Việt Nam năm 2006. Vì vậy, hoạt động quản lý ngoại hối của Việt Nam trong tương lai có thể được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn ngắn hạn, trước khi thực hiện các quy định của AFTA (từ nay đến 2005), sau khi trở thành thành viên chính thức của AFTA (sau 2005).

    Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của Chính phủ để điều hành chính sách tiền tệ. Theo đó, tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước được thiết lập trên cơ sở tỷ giá bình quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và tỷ giá kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại không được lớn hơn +/- 0,25% so với tỷ giá chính thức. Với cách tính này, Ngân hàng Nhà nước khống chế được sự biến động thất thường của tỷ giá. Tuy nhiên, hạn chế của nó là tỷ giá không phản ảnh đúng cung - cầu tiền tệ trên thị trường, làm cho hoạt động kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng gượng ép, giả tạo. Ngân hàng Nhà nước sẽ phải giảm dần, tiến đến loại bỏ các biện pháp điều tiết tỷ giá mang tính hành chính như khống chế tỷ giá kỳ hạn, giới hạn phí hoán đổi tiền tệ, hạn chế biên độ trong xác định tỷ giá kinh doanh... để tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại kinh doanh tiền tệ theo cơ chế thị trường và quen dần với các công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá. Nói cách khác, tỷ giá phải được thả nổi và hoàn toàn được xác định dựa trên cung cầu tiền tệ, SBV không nên áp đặt trực tiếp lên tỷ giá mà chỉ được quyền tác động gián tiếp đến tỷ giá thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.

    Ngoài ra, nhiều ý kiến cũng cho rằng, cần có sự phối hợp hài hoà giữa chính sách tỷ giá với chính sách lãi suất. Tỷ giá và lãi suất là hai yếu tố nhạy cảm trong nền kinh tế và là các công cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ. Tỷ giá và lãi suất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và cùng tác động lên các hoạt động của nền kinh tế. Sự khấp khểnh giữa chính sách lãi suất và tỷ giá có thể gây ra những hậu quả bất lợi như bản tệ mất giá gây nguy cơ lạm phát, ""chảy máu"" ngoại tệ, đầu cơ tiền tệ, hạn chế nguồn vốn đầu tư nước ngoài... Vì vậy, trong quản lý vĩ mô, chính sách lãi suất và tỷ giá phải được xử lý một cách đồng bộ và phù hợp với thực trạng của nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định.

    • Hồng Phúc
    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Ngân hàng Nhà nước lúng túng trong quản lý thị trường ngoại hối

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Ngân hàng Nhà nước lúng túng trong quản lý thị trường ngoại hối bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Ngan hang Nha nuoc lung tung trong quan ly thi truong ngoai hoi ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Ngân hàng Nhà nước lúng túng trong quản lý thị trường ngoại hối ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tài Chính của chuyên mục Kinh Tế.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - KINH TẾ - TÀI CHÍNH