Luật Đầu tư (mới) có hiệu lực từ 1/7/2006: Thực thi sẽ ra sao?

Thứ bảy, 17 Tháng sáu 2006, 15:52 GMT+7
  • Luat Dau tu (moi) co hieu luc tu 1/7/2006: Thuc thi se ra sao?Để đảm bảo thực thi Luật Đầu tư, hiện còn nhiều vấn đề phải bàn. Luật Đầu tư đã quy định các hình thức đầu tư bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    Ba ghi nhận của các nhà đầu tư đối với Luật Đầu tư là: Luật Đầu tư tạo ra khung pháp lý chung cho các hình thức đầu tư, các lĩnh vực đầu tư, nguồn gốc sở hữu về đầu tư, nguồn gốc sở hữu về đầu tư. Đồng thời, đưa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài về một chuẩn mực chung, thống nhất, trong đó, minh bạch hoá quy trình, thủ tục đầu tư; Ưu đãi, khuyến khích đầu tư với những tiêu chí cụ thể; Thực hiện các cam kết của Việt Nam trong quá trình hội nhập.

    Tuy nhiên, để đảm bảo thực thi Luật Đầu tư, hiện còn nhiều vấn đề phải bàn. Luật Đầu tư đã quy định các hình thức đầu tư bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Tuy vậy, Luật này chỉ quy định những nguyên tắc về đầu tư gián tiếp, còn những vấn đề cụ thể liên quan sẽ được quy định trong các luật chuyên ngành như: Luật Chứng khoán, Luật Ngân hàng… và phải phù hợp với các cam kết quốc tế. Điều này đòi hỏi cần áp dụng pháp luật chuyên ngành về đầu tư phù hợp, tránh trường hợp một hình thức đầu tư có quá nhiều cơ quan tham gia, từ việc xét duyệt đến phê chuẩn giám sát quá trình…, dẫn tới sự chồng chéo, không có ai chịu trách nhiệm. Vì vậy, các bộ, địa phương cần:

    Thứ nhất, cần trợ giúp doanh nghiệp thông qua việc giám sát kiểm tra, thanh tra việc thực hiện thủ tục đầu tư, đồng thời, bảo vệ các nhà đầu tư, tránh tình trạng “cha chung không ai khóc”, “lắm cha, con khó lấy chồng”. Ví dụ, việc thực hiện một cửa phải thực sự chỉ nên có một cửa duy nhất và một khoá duy nhất đối với các nhà đầu tư, chứ không phải đi qua một cửa, nhưng có nhiều khoá. Đồng thời, cần có một cơ quan chuyên trách để lo giải quyết những vấn đề về đầu tư, không thể để các nhà đầu tư chạy từ bộ này đến ngành kia mới xin được “giấy” chấp thuận đầu tư. Thực tế đã diễn ra tình trạng các bộ, ngành hùa nhau “ngâm cứu”… làm kéo dài thời gian của các nhà đầu tư. Rõ ràng, cơ quan tiếp nhận đầu tư cần phải cải tiến trong nội bộ, nếu không, việc thực thi luật sẽ không có gì thay đổi so với trước đây.

    Thứ hai, liên quan đến vấn đề đầu tư, các thủ tục đầu tư như: đánh giá, thẩm định, quy hoạch… phải tạo ra sự minh bạch, rõ ràng, dễ tiên liệu được trước và đặc biệt, cần tư vấn công khai qua mạng Internet để các nhà đầu tư “đi một lần là hiểu”, chứ không phải là sự tuỳ tiện giải thích, làm cho các nhà đầu tư đi lại nhiều lần mới hoàn thành thủ tục hoặc tiếp nhận thông tin. Về vấn đề quy hoạch, không phải vì sự vướng víu về quy hoạch mà làm chậm, hoặc làm nản lòng các nhà đầu tư. Việc quy về ngành kinh tế, xã hội, vùng, miền phải có tầm nhìn xa trông rộng, không thể vin vào chờ quy hoạch để làm chậm quá trình đầu tư.

    Thứ ba, về hỗ trợ, khuyến khích đầu tư, có hai điểm đáng chú ý là: Chúng ta cần quy hoạch như thế nào để thu hút các nhà đầu tư, nhưng đồng thời, cũng cần hạn chế trường hợp vì quy hoạch ngành, vùng… chậm mà cản trở việc thu hút đầu tư. Trong những trường hợp có sự lựa chọn đầu tư chúng ta vẫn ưu tiên lựa chọn, tránh hiện tượng “phá rào”, “xé rào” của 33 tỉnh, thành phố vừa qua. Ngoài ra, cần tránh sự hỗ trợ mà vi phạm các quy định trong WTO.


    Ông Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng: “Việc thu hút được đầu tư không chỉ dựa vào có “khung” Luật Đầu tư tốt mà còn phải có một môi trường đầu tư đủ tốt”. Việc Việt Nam sắp gia nhập WTO với sự tham gia của 150 thành viên, đây là một tín hiệu, chứng chỉ tốt về cơ hội thu hút đầu tư. Hơn nữa, theo nguyên tắc phân tán rủi ro, các nhà đầu tư sẽ tránh “không để chung trứng vào một giỏ”, nên cơ hội thu hút đầu tư của Việt Nam là hiện hữu. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần cải thiện nhiều mặt để có thể trở thành “sự lựa chọn số một” của các nhà đầu tư về vấn đề lao động, cơ sở hạ tầng… Ngoài ra, còn có vấn đề quan điểm Nhà nước đối với thị trường, nhất là, khi Nhà nước vẫn là “nhà đầu tư lớn”, trở thành “đối thủ” cạnh tranh với các nhà đầu tư, trong đó, một số lĩnh vực vẫn còn tồn tại sự “bảo hộ” từ phía Nhà nước.

                                          7 điểm mới của Luật Đầu tư

     

     1. Quyền tự do đầu tư được mở rộng.

     

     2. Về hình thức đầu tư áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài được mở rộng.

     

     3. Nhà đầu tư được bảo hộ trong trường hợp trưng thu, trưng dụng, quốc hữu hoá; trường hợp trung thu, trưng dụng, quốc hữu hoá phải vì mục đích công và phải được bảo đảm bồi thường, bồi hoàn theo giá thị trường.

     

     4. Về giải quyết tranh chấp, theo quy định của Luật Đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài có quyền đưa các tranh chấp ra giải quyết tại tổ chức, trọng tài nước ngoài.

     

     5. Luật đưa ra các quy chế khuyến khích ưu đãi đầu tư áp dụng thống nhất cho nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước.

     

     6. Luật đã huỷ bỏ các ưu đãi cũng như các ngăn cấm vi phạm Hiệp định về trợ cấp chính phủ phù hợp với cam kết quốc tế.

     

     7. Luật có cải cách đáng kể về thủ tục hành chính đối với đầu tư, phân cấp mạnh mẽ cho địa phương. 

     

    Theo Báo TNVN

    VietBao.vn
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Luật Đầu tư (mới) có hiệu lực từ 1/7/2006: Thực thi sẽ ra sao?

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Luật Đầu tư (mới) có hiệu lực từ 1/7/2006: Thực thi sẽ ra sao? bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Luat Dau tu moi co hieu luc tu 172006 Thuc thi se ra sao ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Luật Đầu tư (mới) có hiệu lực từ 1/7/2006: Thực thi sẽ ra sao? ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Kinh Tế của chuyên mục Kinh Tế.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - KINH TẾ - TIN KINH TẾ