5 năm đầu chiến lược phát triển xuất khẩu hầu hết chỉ tiêu tăng trưởng đều đạt và vượt

Thứ năm, 02 Tháng ba 2006, 11:08 GMT+7
  • Theo số liệu thống kê, tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng hóa giai đoạn 2001-2005 đạt 110,83 tỷ USD (tăng 2 lần so giai đoạn 1996-2000). Tốc độ tăng đạt bình quân 17,5%/năm và vượt 1,5% so mục tiêu đặt ra là 16%/năm. KNXK bình quân đầu người đạt 390 USD vào năm 2005 (mục tiêu chỉ 340 USD/người). Đến hết năm 2005, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên 200 thị trường. Trong đó, có 7 thị trường đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD và 23 thị trường đạt từ 100 triệu USD đến dưới 1 tỷ USD.

    Kết quả 5 năm đầu (2001-2005) thực hiện chiến lược phát triển xuất khẩu của Việt Nam cho thấy, KNXK đã tăng nhanh cả về giá trị và tốc độ. Đặc biệt, hầu hết chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu đều đạt và vượt (một số vượt xa) mục tiêu chiến lược phát triển xuất khẩu giai đoạn 2001-2010. Trong đó, tỷ trọng KNXK hàng hóa trong giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng từ 44,7% năm  2000, lên 61,3% năm 2005. Riêng KNXK dịch vụ tăng từ 3,32 tỷ USD năm 2001, lên 5,65 tỷ USD năm 2005 (vượt 1,65 tỷ USD so chỉ tiêu).

    Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tỷ trọng nhóm hàng chế biến và chế tạo tăng. Năng lực sản xuất và giá trị xuất khẩu nhiều mặt hàng như dệt may, giày dép, thủy sản được mở rộng. Nhiều mặt hàng như sản phẩm gỗ, điện tử và linh kiện máy tính, dây điện và cáp điện, sản phẩm nhựa đạt tốc độ tăng trưởng cao. Đây là những mặt hàng đang và sẽ là hạt nhân quan trọng trong hệ thống hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam những năm tới. Bên cạnh đó, cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam cũng có nhiều chuyển dịch tích cực.

    Tại khu vực thị trường châu Á tuy tỷ trọng xuất khẩu giảm (từ 57,3% năm 2001 xuống 50,5% năm 2005) song vẫn chiếm ưu thế trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Tương tự, tỷ trọng khu vực thị trường châu Âu có giảm nhẹ nhưng giá trị tuyệt đối năm sau vẫn tăng so năm trước (giai đoạn 2001-2005 tăng bình  quân 13,5%/năm) và đóng góp trên 20% trong tổng KNXK của Việt Nam. Trong khi đó, tỷ trọng xuất khẩu vào khu vực thị trường châu Mỹ tăng khá đột biến, từ 8,9% năm 2001 lên 21,3% vào năm 2005; xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ cũng tăng mạnh từ 7,1% năm 2001 lên 20,2% năm 2005; Khu vực thị trường châu Phi tỷ trọng tăng từ 1,2% năm 2001 lên 2,1% năm 2005 và tăng KNXK gấp gần 4 lần (từ 176 triệu USD năm 2001 lên 681 triệu USD năm 2005). Riêng tỷ trọng KNXK khu vực thị trường châu Đại Dương tăng từ 7,1% năm 2001 lên 8 % năm 2005. Đáng chú ý là, ngoài các doanh nghiệp vốn FDI dần nắm giữ vai trò quan trọng. Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam cũng đang ngày càng khẳng định vị trí của mình (năm 2001 đạt KNXK gần 6,8 tỷ USD, chiếm khoảng 45% tổng KNXK Việt Nam, đến năm 2005 đạt trên 18,5 tỷ USD, chiếm 57,5%). Nếu không kể dầu thô, năm 2001 KNXK đạt 3,7 tỷ USD (chiếm khoảng 31%) và năm 2005 đạt trên 11 tỷ USD (chiếm 45%). Hiện Việt Nam đang có khoảng 35.700 doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia xuất khẩu hàng hóa (tăng 1.000 lần so năm 1986).

    Tuy nhiên qua số liệu cũng cho thấy, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam không đều, hai năm đầu (2001 – 2002) chỉ đạt mức 7,4%/năm, thấp hơn nhiều so chỉ tiêu là 16%/năm. Trong 3 năm cuối (2003 – 2005), hoạt động xuất khẩu mới bứt phá mạnh đạt bình quân 24,7%/năm.

    Bộ Thương mại cho biết, năm 2006 mục tiêu xuất khẩu của Việt Nam dự kiến đạt KNXK hàng hóa 38,44 tỷ USD (tăng 18,5% so năm 2005) và xuất khẩu dịch vụ đạt 6,2-6,7 tỷ (tăng 10-12%). Để đạt mục tiêu này, ngoài các giải pháp tác động tạo thuận lợi cho hàng hóa thâm nhập thị trường xuất khẩu. Công tác điều hành xuất khẩu năm 2006 tập trung theo hướng tăng sức sản xuất các mặt hàng có thể mở rộng quy mô nhằm tăng KNXK (như hàng dệt may, giày dép, điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, xe đạp và phụ tùng xe đạp, dây điện và cáp điện) và tăng giá trị gia tăng các mặt hàng bị hạn chế trong mở rộng quy mô sản xuất (chủ yếu là hàng thuỷ sản, gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều, chè). Bên cạnh đó, quan tâm khai thác nâng cao KNXK các mặt hàng xuất khẩu đã có kim ngạch lớn nhưng vẫn xếp trong “Nhóm mặt hàng khác” như túi xách, vali, ô dù, tinh bột sắn, sản phẩm cao su, các sản phẩm từ thép...  và một số mặt hàng tuy mới tham gia xuất khẩu nhưng đạt kim ngạch khá cao như đóng tàu, máy biến thế và động cơ điện, giấy bìa và sản phẩm từ giấy bìa, hóa chất - hóa mỹ phẩm - chất tẩy rửa và săm lốp ôtô xe máy.

    Dự kiến mục tiêu xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu

    MẶT HÀNG XUẤT KHẨU

    MỤC TIÊU 2006

    S.L (ngàntấn )

    Kim ngạch (tr.USD)

    KN06/KN05           (%)

    TỔNG KIM NGẠCH

     

    38.444

    118,5

    Doanh nghiệp 100% vốn trong nước

     

    15.993

    115,6

    Doanh nghiệp FDI

     

    22.451

    120,5

    NHÓM NÔNG, LÂM, THỦY SẢN

     

     

     

    Tổng kim ngạch

     

    7.340

    107,1

    Tỷ trọng

     

    19,1

     

    1

    Thủy sản

     

    3.098

    113,1

    2

    Gạo

    4.500

    1.211

    86,1

    3

    Cà phê

    920

    770

    104,8

    4

    Rau quả

     

    291

    123,9

    5

    Cao su

    600

    838

    104,2

    6

    Hạt tiêu

    120

    178

    118,4

    7

    Nhân điều

    115

    620

    123,5

    8

    Chè các loại

    95

    116

    120,0

    9

    Lạc nhân

    80

    44

    132,4

    10

    Sắn các loại

     

    174

    -

    NHÓM NHIÊN LIỆU, KHOÁNG SẢN

     

     

     

    Tổng kim ngạch

     

    8.187

    98,0

    Tỷ trọng

     

    20,9

     

    11

    Dầu thô

    19.500

    7.388

    100,2

    12

    Than đá

    16.000


    447

    66,9

    13

    Khoáng sản

     

    186

     

    NHÓM HÀNG CÔNG NGHIỆP

     

     

     

    Tổng kim ngạch

     

    17.649

    122,0

    Tỷ trọng

     

    45,9

     

    14

    Dệt may

     

    5.436

    112,4

    15

    Giày dép

     

    3.547

    116,7

    16

    Hàng điện tử và linh kiện máy tính

     

    1.880

    131,8

    17

    Hàng thủ công mỹ nghệ

     

    662

    116,3

    18

    Sản phẩm gỗ

     

    2.164

    138,4

    19

    Sản phẩm nhựa

     

    500

    142,9

    20

    Xe đạp và phụ tùng

     

    257

    158,6

    21

    Dây điện và cáp điện

     

    664

    126,9

    22

    Các sản phẩm từ thép

     

    500

    125,0

    23

    Biến thế và động cơ điện

     

    350

    125,0

    24

    Các sản phẩm từ giấy
     (bìa, cactông…)

    150

    150

    25

    Túi sách, va li, mũ, ô, dù

     

    520

    111,8

    26

    Hóa chất, hóa mỹ phẩm
    và chất tẩy rửa

    300

    300

    27

    Săm lốp, ô tô xe máy

     

    310

    121,6

    28

    Dụng cụ cơ khí cầm tay

     

    100

    142,9

    29

    Vật liệu xây dựng

     

    60

    133,3

    30

    Đóng tàu

     

    250

    166,7

    NHÓM HÀNG HÓA KHÁC

     

    5.330

    123,5

    Tỷ trọng

     

    14,0

     

    Xuất khẩu 1996-2000 đạt 51.824 triệu USD. Riêng số liệu năm 2005 là số sơ bộ. (Nguồn : Bộ Thương mại)

    Trọng Hà

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin 5 năm đầu chiến lược phát triển xuất khẩu hầu hết chỉ tiêu tăng trưởng đều đạt và vượt

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết 5 năm đầu chiến lược phát triển xuất khẩu hầu hết chỉ tiêu tăng trưởng đều đạt và vượt bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết 5 nam dau chien luoc phat trien xuat khau hau het chi tieu tang truong deu dat va vuot ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc 5 năm đầu chiến lược phát triển xuất khẩu hầu hết chỉ tiêu tăng trưởng đều đạt và vượt ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Kinh Tế của chuyên mục Kinh Tế.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - KINH TẾ - TIN KINH TẾ