Vì sao 162 nhà khoa học "ngâm cứu" tiền tỷ?

Thứ hai, 08 Tháng mười một 2004, 10:28 GMT+7
  • Lãng phí lớn trong nghiên cứu khoa học! Không chỉ là chuyện hàng trăm nhà khoa học "tạm giữ" hàng chục tỷ đồng nghiên cứu khoa học...

    Từ năm 1990 đến nay, 162 nhà khoa học ở trường ĐH Bách khoa TP.HCM đã nhận hàng trăm đề tài nghiên cứu khoa học với tổng kinh phí được cấp lên đến hàng chục tỷ đồng… Tiền đã nhận, nhưng chưa có một báo cáo khoa học nào trong số này được nghiệm thu, tính tới thời điểm tháng 5/2004. Kinh phí đã cấp ra cho nhà khoa học nhận đề tài ấy vẫn được ghi treo “nợ”. Những trường hợp như thế được gọi bằng cái tên đầy tế nhị là “đề tài nghiên cứu khoa học trễ hạn nghiệm thu”?!

    Tiền đã trao, nhưng chưa thấy... "cháo"

    Trả lời TS, TS Lê Hoài Quốc, Khoa Cơ khí - ĐH Bách khoa TP.HCM:

    Tôi nhận trách nhiệm về món nợ trễ hạn nghiệm thu đề tài một tỷ đồng!

    Dự án triển khai KH-CN cải tạo và nâng cấp máy công cụ các dạng vạn năng và nghiên cứu thành máy CNC do Sở KH-CN TP.HCM cấp kinh phí một tỷ đồng (thu hồi 90%, tức 900 triệu đồng), thời gian thực hiện từ 1/11/1999 đến 1/11/2002. Trong thực tế, Dự án đã hoàn trả được 160 triệu đồng thông qua nâng cấp máy CNC cho Công ty Sameco vào năm 2000. Thế nhưng trong quá trình thực hiện, các đơn vị như Công ty Công nghệ Cơ khí Sài Gòn, Công ty Cơ khí Trung Việt (Bình Dương) vẩn còn nợ tiền cung cấp máy mặc dù đã nhận chuyển giao từ năm 2002. Đến nay, Công ty Công nghệ Cơ khí Sài Gòn vẩn chưa chịu thanh toán khoản nợ 290 triệu đồng cho Sở KH-CN TP.HCM. Còn khoản nợ 700 triệu đồng của Công ty Cơ khí Trung Việt thì họ hứa trả trong năm 2004 .

    Dù sao, là chủ nhiệm Dự án nói trên, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những vướng mắc trong việc thực hiện Dự án.

    Bản “Danh sách đề tài nghiên cứu trễ hạn nghiệm thu” chỉ mới được lập vào tháng 5/2004. Theo một nguồn tin trong giới khoa học, đây là lần đầu tiên một đơn vị có nhận kinh phí khoa học đã "dũng cảm" thu thập, hệ thống lại số liệu và đưa ra bản danh sách này.

    Vi sao 162 nha khoa hoc ngam cuu tien ty
    ĐH Bách khoa TP.HCM, nơi đào tạo mỗi năm từ 3.000-3.500 kỹ sư. Trong ảnh: Một góc ĐH Bách khoa TP.HCM. (Ảnh: Q.Hoà)

    Trong thực tế, bản danh sách ấy chỉ được một số ít cán bộ quản lý ở trường ĐH Bách khoa TP.HCM được biết đến. Trong danh sách ghi rõ tên 162 nhà khoa học ở tám Khoa, mười Trung tâm thuộc Trường. Các nhà khoa học này đã đăng ký nhận thực hiện các dự án, đề tài cấp Nhà nước (Bộ Khoa học-Công nghệ và Môi trường - KHCN&MT, nay là Bộ Khoa học-Công nghệ - KHCN), cấp Bộ (Bộ Giáo dục-Đào tạo), cấp Thành phố (Sở KH-CN TP.HCM) và cấp trường từ năm 1993 đến tháng 5/2004 nhưng không được nghiệm thu, quyết toán. Tổng số tiền mà các nhà khoa học "tạm giữ" vốn của Nhà nước từ hàng chục năm nay lên đến 10,4 tỷ đồng, tương đương với toàn bộ kinh phí nghiên cứu khoa học mà Nhà nước cấp cho Đại học Bách khoa TP.HCM trong một năm.

    Nổi cộm nhất trong các Khoa là Khoa Cơ khí, với tổng số tiền nợ lên tới 3,7 tỷ đồng và có sự "góp mặt" của 22 nhà khoa học. Trong số các Trung tâm thuộc trường, "dính nợ" nhiều nhất là Trung tâm Polymer do GS TS Nguyễn Hữu Niếu làm giám đốc, với tổng số tiền nợ 1,8 tỷ đồng.

    Đọc kỹ bảng danh sách này, người ta sẽ thấy nhiều điều khó hiểu. Có những nhà khoa học như TS Phạm Ngọc Tuấn, phó Khoa Cơ khí, nhận đều đều “năm một” các công trình nghiên cứu khoa học. Đề tài này chưa xong, chưa nghiệm thu (nghĩa là nghiên cứu chưa xong) thì đã được nhận tiếp đề tài nghiên cứu khác, đồng nghĩa với việc được rót tiếp kinh phí, kinh phí lần sau còn… cao hơn lần trước.

    Năm 1998, TS Tuấn được trường cấp kinh phí bảy triệu đồng cho đề tài “Nghiên cứu xây dựng chương trình Cao đẳng và chương trình đào tạo chuyển tiếp lên Đại học của các ngành thuộc Khoa Cơ khí”. Thời hạn nghiên cứu là từ 1/10/1998 đến 31/10/1999. Việc ấn định thời hạn nghiên cứu hình như chỉ để... lấy lệ, bởi vì đề tài này đến nay vẫn còn chưa được trường nghiệm thu. Đến năm 1999, TS Tuấn nhận thêm một đề tài nghiên cứu từ Bộ KHCN&MT, có tên “Nghiên cứu tự động hóa các công nghệ thiết kế mẫu, chuẩn bị kỹ thuật và công nghệ cho sản xuất trong công nghiệp giày, dép” với kinh phí 15 triệu đồng. Thời hạn nghiên cứu lần này là từ 1/5/1999 đến 1/12/2000.

    Chưa thấy kết quả đâu, TS Tuấn lại tiếp tục nhận được thêm một khoản kinh phí nghiên cứu khoa học 15 triệu đồng nữa từ Bộ KHCN&MT cho đề tài “Nghiên cứu ứng dụng CAD/CAM lập quy trình công nghệ cho các sản phẩm giày dép” với thời hạn nghiên cứu từ 1/7/2000 đến 1/7/2001. Trong khi TS Tuấn chưa giải quyết xong các đề tài nghiên cứu giày, dép, Bộ KHCN vẫn tiếp tục cấp cho TS Tuấn khoản kinh phí trọn gói 250 triệu đồng cho một dự án sản xuất thử nghiệm trong lĩnh vực may mặc. Chưa hết, ngay sau đó, Bộ lại rót tiếp cho TS Tuấn một khoản tiền lớn hơn thế nữa với đề tài “Nghiên cứu xây dựng giải pháp tổng thể và hệ thống tự động hóa tích hợp toàn diện phục vụ các doanh nghiệp”. Đề tài này được giao thực hiện trong khoảng thời gian từ 1/10/2001 đến 1/10/2003. Số tiền mà Bộ rót cho TS Tuấn lần này lên tới 1,4 tỷ đồng!

    Tóm lại, từ năm 1998 đến 2003, riêng TS Phạm Ngọc Tuấn đã nhận tổng cộng sáu đề tài, công trình nghiên cứu, dự án sản xuất thử nghiệm với tổng số tiền 1.717.000.000 đồng. Thế nhưng, cho đến nay, kết quả của sáu đề tài, công trình nghiên cứu trên như thế nào thì cỏ vẻ ít ai rõ.

    "Siêu" nghiên cứu!

    Một trường hợp khác không thể không nói đến. Đó là trường hợp GS TS Lâm Minh Triết, nguyên giám đốc Trung tâm Tài nguyên-Môi trường (TN-MT). Theo tìm hiểu riêng của phóng viên TS, trong khoảng thời gian tám năm (1996-2004), nhà khoa học này đã nhận tất cả 31 đề tài, công trình nghiên cứu khoa học. Bình quân, mỗi năm ông phải "sản sinh" cho Nhà nước bốn công trình nghiên cứu khoa học, mà lại toàn là công trình lớn, cấp ĐH Quốc gia, cấp tỉnh, thành phố, cấp Bộ, cấp Nhà nước. Nội dung các đề tài nghiên cứu cũng toàn những vấn đề quan trọng như xây dựng cơ sở khoa học quản lý cấp vùng, miền, tỉnh, thành phố. Nghiên cứu nhiều như thế nên trong "bảng phong thần” của ĐH Bách khoa TP.HCM, vị này còn để lại "món nợ" bốn đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, Bộ và Thành phố, với tổng số tiền còn “nợ” (do đề tài chưa nghiệm thu) là 317 triệu đồng.

    Trả lời TS, TS Phạm Ngọc Tuấn giải trình về món nợ trễ hạn nghiệm thu đề tài 1,7 tỷ đồng:

    Đề tài này chưa xong, đề tài kia đã tới, bận suốt nên... phải nợ!

    1. Đối với Dự án sản xuất thử nghiệm cấp Bộ - trọng điểm quốc gia “Nghiên cứu hoàn thiện, sản xuất thử và triển khai ứng dụng bộ phần mềm hệ thống thông tin quản lý cho các doanh nghiệp ngành may“, thời gian thực hiện từ 1/4/2001–/10/-2002, kinh phí 250 triệu đồng (Nhà nước thu hồi 200 triệu đồng): Tôi đã nhận kinh phí cấp đợt I là 150 triệu đồng nhưng không nhận kinh phí Nhà nước cấp đợt II là 100 triệu đồng do phải làm thủ tục thanh toán quá phức tạp… Thật ra, đề tài này có thể nghiệm thu từ mấy năm trước nhưng do tôi bị… bận công việc suốt nên đến nay chưa nghiệm thu được.

    2. Đề tài “Nghiên cứu triển khai kỹ thuật vi xử lý trong một số ngành nhựa và da giày”, thời gian thực hiện 4/1996-12/1997, kinh phí 30 triệu đồng: Kinh phí cho đề tài này thật ra chưa thấm vào đâu cả… Tôi đã hoàn tất phần thiết kế kỹ thuật trong đề tài này từ lâu rồi nhưng tôi muốn vận động các nhà sản xuất hỗ trợ để ứng dụng vào thực tế nên còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, tôi có ý định đề nghị chỉ làm một trong ba hạng mục của đề tài. Nếu được đồng ý, tôi sẽ triển khai để hoàn tất đề tài. Nếu không được thì xin hoàn trả lại kinh phí cho Nhà nước!

    3. Đề tài cấp Bộ về “Nghiên cứu ứng dụng CAD/CAM - lập quy trình công nghệ cho các sản phẩm giày, dép”, thời gian thực hiện 1/7/2000-1/7/2001, kinh phí cấp 15 triệu đồng: Đề tài này tôi đã thực hiện xong từ lâu, nhưng chưa kịp viết thuyết minh để nghiệm thu thì lại có đề tài mới đến… cho nên còn nợ trễ hạn nghiệm thu cho đến nay.

    4. Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu tự động hóa các công việc thiết kế mẫu, chuẩn bị kỹ thuật và công nghệ cho sản xuất trong công nghiệp giày dép”, thời gian thực hiện 1/5/1999-1/12/2000, kinh phí 15 triệu đồng… Thực chất, đây là tên khi đăng ký sơ tuyển của đề tài thứ ba nói trên chứ đề tài này không tồn tại trên thực tế. Tôi đã có báo cho Phòng Quản lý Khoa học-Quan hệ Quốc tế (ĐH Bách khoa TP.HCM) nhưng họ chưa điều chỉnh (?)

    5. Đề tài cấp trường “Nghiên cứu xây dựng chương trình cao đẳng và chương trình đào tạo chuyển tiếp lên Đại học của các ngành thuộc Khoa Cơ khí”, thời gian thực hiện 1/10/1998–30/10/1999, kinh phí 7 triệu đồng: Đây là đề tài thực hiện theo yêu cầu của Khoa Cơ khí – ĐH Bách khoa TP.HCM trong hoàn cảnh lịch sử trước đây. Nhưng nay nhà trường có xu hướng không đào tạo Cao đẳng nữa nên đề tài này không còn tính thời sự. Tôi đã đề xuất cho dừng đề tài và hoàn trả kinh phí.

    6. Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu xây dựng giải pháp tổng thể và hệ thống tự động hoá tích hợp toàn diện phục vụ cho doanh nghiệp”, thời gian thực hiện 1/10/2001–1/10/2003, kinh phí 1,4 tỷ đồng: Ngoài phần việc của tôi làm chủ nhiệm đề tài và được cấp một tỷ đồng, còn có đề tài nhánh của Phân viện Nghiên cứu Điện tử-Tin học-Tự động hoá với kinh phí được cấp là 400 triệu đồng (tính tròn). Do đề tài nhánh chưa xong nên Bộ KH-CN cho gia hạn đến tháng 12/2004…

    Tóm lại, đến đầu năm 2005, tôi chắc là mình không bị nợ nần gì nữa!

    Việc rót kinh phí nghiên cứu khoa học bao nhiêu và cho ai dường như lại càng khó hiểu hơn… Một nhà khoa học ở ĐH Bách khoa TP.HCM nhận đề tài “Nghiên cứu, chế tạo và lắp ráp tại Việt Nam các loại máy lạnh không tác hại tới môi sinh để phục vụ cho sản xuất và đời sống” chỉ được trường cấp cho kinh phí vỏn vẹn... mười triệu đồng. Trong khi đó, một nhà khoa học khác lại được cấp tới năm triệu đồng chỉ để “nghiên cứu” thực hiện… “Niên giám điện thoại trường”!

    Điều mỉa mai là, trong thời gian từ 4/1/1993 đến 30/12/1995, một nhà khoa học thuộc Khoa Công nghệ Thông tin đã nhận năm triệu đồng để thực hiện đề tài “Hệ quản lý tiếng Việt trên hệ điều hành DOS và Windows 3.1” song đến nay vẫn chưa được nghiệm thu. Không rõ với trường hợp này, ĐH Bách khoa TP.HCM sẽ nghiệm thu đề tài nói trên thế nào, khi mà Windows 3.1 đã đi vào... lịch sử và thậm chí cả Windows 95 cũng không còn ai dùng nữa! Một nhà khoa học khác được TP.HCM (Sở KH-CN TP.HCM) cấp hẳn 150 triệu đồng để “Xây dựng phần mềm ứng dụng cho vấn đề thoát nước TP.HCM” trong thời hạn một năm, từ 1/3/2000 đến 1/3/2001, trong khi một nhà khoa học khác, cũng trong khoảng thời gian này, chỉ được Bộ cấp cho có 30 triệu đồng để nghiên cứu việc thoát nước tại các đô thị vùng triều…

    Ai còn nợ, sẽ... trừ lương!
    Vi sao 162 nha khoa hoc ngam cuu tien ty
    ĐH Bách khoa TP.HCM, một trọng điểm đào tạo và nghiên cứu khoa học ở phía Nam. Trong ảnh: Một buổi làm việc của bộ trưởng Bộ KH-CN Hoàng Văn Phong với Trường vào ngày 2/4/2003. (Ảnh: Q.Hoà)

    Trả lời câu hỏi của TS về những trường hợp "chiếm dụng" vốn nghiên cứu khoa học như đã nêu trên, thoạt tiên TS Nguyễn Thanh Sơn, phó hiệu trưởng ĐH Bách khoa TP.HCM trả lời: ”Tôi ngạc nhiên khi nhận được số liệu này, vì quy trình cấp kinh phí nghiên cứu khoa học do Nhà nước đề ra rất khắt khe và logic!”. Ông cho biết sẽ làm việc lại với Phòng Kế hoạch-Tài chính để nắm lại tình hình này. Nhưng sau đó, TS Nguyễn Thanh Sơn lại cho biết: ”Nếu có nợ thì đó là những đề tài... kéo dài, chưa hoàn thành”!

    Theo giải thích của TS Nguyễn Thanh Sơn, những đề tài còn nợ có thể là những đề tài đã qua nghiệm thu, nhưng... chưa làm thủ tục quyết toán! Còn đối với những trường hợp đã về hưu hoặc chuyển công tác, trường sẽ gửi văn bản... “đòi”! Những nhà khoa học còn nợ nhiều đề tài chưa nghiệm thu, trường sẽ không chấp nhận cho đăng ký đề tài mới!

    Điều khôi hài là, vẫn theo ý kiến của TS Nguyễn Thanh Sơn, đối với những đề tài nghiên cứu “không khả thi” thì “họ (các nhà khoa học) sẽ phải thanh toán lại, thanh toán dần hoặc... trừ vào lương!”.

    Những ý kiến trả lời nêu trên có chấp nhận được không?

    Ngay chính trên trang web Phòng Quản lý KH-CN và Hợp tác Quốc tế, trường ĐH Bách khoa TP.HCM ( http://www.iro.hcmut.edu.vn/nckh.html ), mọi người đều có thể tìm thấy dễ dàng hàng loạt văn bản Nhà nước quy định trong việc tuyển chọn đề tài nghiên cứu khoa học, phương thức tổ chức thực hiện đề tài KH-CN, quản lý kinh phí nghiên cứu khoa học... Theo Quyết định 06/2001/QĐ-BGDĐT ngày 21/3/2001 của Bộ GD-ĐT "Ban hành quy định về tổ chức thực hiện đề tài KH-CN cấp Bộ", Điều 15 nêu rõ: "Các tổ chức và cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu được giao mà không có lý do chính đáng thì phải hoàn lại số kinh phí được cấp".

    Một nhà khoa học ở TP.HCM từng tham gia các Hội đồng xét duyệt, nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học (đề nghị không nêu tên), tiết lộ: Khi nhận thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, cơ quan cấp kinh phí nghiên cứu đều có ký với nhà khoa học một bản "Hợp đồng nghiên cứu khoa học". Thông thường, hợp đồng đều có điều khoản ghi rõ: "Nếu bị trễ hạn, bên B (đơn vị, cá nhân nhận thực hiện đề tài) phải làm văn bản báo cáo cho bên A (đơn vị cấp kinh phí thực hiện đề tài) biết lý do bị chậm trễ, ít nhất là ba tháng trước thời hạn nghiệm thu đề tài. Thời gian chậm trễ nghiệm thu được phép tối đa sáu tháng, và phải được bên A chấp thuận. Nếu sau sáu tháng mà đề tài không thể nghiệm thu thì bên A sẽ thành lập hội đồng để thanh lý đề tài...". Còn trong trường hợp kết quả nghiên cứu không đạt, Hợp đồng cũng có quy định rất rõ: "Nếu hội đồng nghiệm thu đánh giá kết quả nghiên cứu không đạt thì bên B phải tiếp tục nghiên cứu thêm để đưa ra nghiệm thu lần thứ hai mà không được đòi hỏi bên A trả thêm một khoản kinh phí nào...". Do đó, theo nhà khoa học này, trường hợp nợ trễ hạn nghiệm thu đề tài của hàng trăm nhà khoa học với hàng chục tỷ đồng trong hàng chục năm trời là "khó có thể tưởng được!".

    Có lẽ nhận thức được mức độ nghiêm trọng của vấn đề, về phía nhà trường, ngày 19/5/2004, PGS TS Phan Thị Tươi, hiệu trưởng trường ĐH Bách khoa TP.HCM đã ký quyết định 154/QĐ-ĐHBK-KHCN&QHQT "Ban hành Quy chế kiểm tra đánh giá tiến độ thực hiện các đề tài, dự án trọng điểm". Theo Quy chế này, các chủ nhiệm đề tài phải báo cáo kết quả thực hiện đề tài trước một "Hội đồng kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện các đề tài và dự án". Đồng thời, giao Phòng KHCN-Quan hệ Quốc tế phối hợp với Hội đồng kiểm tra đánh giá tiến độ nội dung cũng như tình hình sử dụng kinh phí của đề tài, dự án, tư vấn cho Ban Giám hiệu giải pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện các đề tài, dự án...

    ĐH Bách khoa TP.HCM sẽ giải quyết sao đây với món nợ hàng chục tỷ đồng đã bị 162 nhà khoa học "tạm giữ" từ hàng chục năm nay? Liệu như vậy, có thể nói Nhà nước đã bị "chiếm dụng vốn" đầu tư nghiên cứu khoa học, trong khi xã hội thì... chưa được gì cả? Và có chăng, việc lãng phí lớn trong nghiên cứu KH-CN ở vụ việc này? TS sẽ tiếp tục theo dõi và thông tin đến bạn đọc.

    Đâu là trách nhiệm của Bộ KH-CN,...?

    Trao đổi với Tổng biên tập TS Nguyễn Anh Tuấn vào đêm 8/11/2004, lãnh đạo Hội đồng KH-CN TP.HCM lưu ý: "Ngay cả ở các nuớc tiên tiến cũng không bao giờ có tỷ lệ 100% đề tài nghiên cứu thành công. Thường chỉ có 60%-70% là thành công, còn lại là không ứng dụng được. Với điều kiện của Việt Nam còn hạn chế, có lẽ cũng không nên đòi hỏi số đề tài không ứng dụng được phải dưới 10%. Nếu cấp Thành phố trong mười năm có khoảng 2.000 đề tài, với tổng kinh phí là 150 tỷ đồng thì 10% đề tài không thành công là ứng với 200 đề tài và 15 tỷ đồng. Ngoài ra, trên bình diện cả nước, tỷ lệ không thành công có lẽ hơn 10%".

    Trong khi đó, phóng viên TS ở Đà Nẵng đã đưa tin: Mới đây: UBND TP. Đà Nẵng đã ra một quyết định mà theo đó, các đề tài nghiên cứu KH-CN nếu chậm tiến độ hoặc không được nghiệm thu sẽ bị xử phạt. Đối với trường hợp đề tài chậm tiến độ so với thời gian quy định do nguyên nhân chủ quan thì phải trích nộp phạt từ 30%-100% tổng chi phí phụ cấp trách nhiệm của chủ nhiệm đề tài và chi phí quản lý đề tài. Nếu tổ chức, cá nhân tự dừng đề tài thì phải chịu trách nhiệm bồi hoàn 60%-100% kinh phí thực cấp và nộp phạt 10% trên tổng dự toán kinh phí đề tài. Nếu đề tài không được nghiệm thu do lỗi tổ chức, cá nhân thực hiện đề tài thì phải bồi hoàn 100% kinh phí thực cấp và nộp phạt 20% trên tổng dự toán kinh phí đề tài. Giải thích về quyết định nói trên, ông Trần Thọ, giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng cho biết: Đó là nhằm nâng cao chất lượng các đề tài nghiên cứu khoa học, tránh lãng phí kinh phí Nhà nước.

    So với Hà Nội hoặc TP.HCM với mức kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học xấp xỉ 2% ngân sách địa phương, còn Đà Nẵng, kinh phí nghiên cứu khoa học rất thấp, chỉ vào khoảng 0,3-0,7% ngân sách địa phương.

    Còn ở cấp trường? Chỉ với một đơn vị như trường ĐH Bách khoa TP. HCM, qua khảo sát sơ bộ đã có đến 162 nhà khoa học "chiếm dụng" vốn kinh phí nghiên cứu khoa học trong suốt hàng chục năm nay. Số tiền đó đến nay đã lên đến hơn mười tỷ đồng, tương đương với kinh phí nghiên cứu khoa học mà Nhà nước dành cho trường trong một năm. Nếu không có những biện pháp chế tài như ở Đà Nẵng đang làm, liệu sự lãng phí ấy có chỉ riêng ở một đơn vị như trường ĐH Bách khoa TP.HCM?

    Bộ KH-CN sẽ trả lời vấn đề này như thế nào?


    ĐH Bách Khoa TP.HCM:

    Tổng kinh phí nghiên cứu khoa học năm 2003-2004

    (đơn vị: triệu đồng)

    2003

    2004

    Kinh phí các cấp

    Kế hoạch

    Bổ sung

    Kế hoạch

    Bổ sung

      Nhiệm vụ cấp Nhà nước

      7543

      3885

        Nhiệm vụ cấp Bộ và ĐH Quốc gia

        1637

        750

        1959

          Sửa chữa xây dựng nhỏ

          370

            Đầu tư chiều sâu

            2500

            4450

              Đề tài Thành phố (Sở KH-CN TP.HCM cấp)

              4018

                Kinh phí cấp trường

                776,9

                6.1 - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường

                465

                423 (trong đó, kinh phí từ ĐH Quốc gia TP.HCM là 394 triệu đồng)

                6.2 - Nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng dạy trẻ

                149

                69

                6.3 - Nghiên cứu khoa học của sinh viên

                52,9

                6.4 - Hội nghị nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng dạy trẻ và sinh viên lần IV

                110

                Tổng kinh phí nghiên cứu khoa học

                12826.9

                4768

                10786

                ... Và món nợ bị chiếm dụng kinh phí nghiên cứu khoa học

                Thời gian

                6/1990-5/2004

                Tổng số đề tài chưa nghiệm thu

                216

                Tổng số tiền còn nợ (triệu đồng)

                10475,010

                (Nguồn: ĐH Bách Khoa TP.HCM)

                • Bích Vân
                Việt Báo
                Ý kiến bạn đọc

                Viết phản hồi

                Nhận xét tin Vì sao 162 nhà khoa học "ngâm cứu" tiền tỷ?

                Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Vì sao 162 nhà khoa học "ngâm cứu" tiền tỷ? bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Vi sao 162 nha khoa hoc ngam cuu tien ty ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Vì sao 162 nhà khoa học "ngâm cứu" tiền tỷ? ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Việt Nam của chuyên mục Khoa Học.

                Bài viết mới:

                Các bài viết khác:

                   TIẾP THEO >>
                VIỆT BÁO - KHOA HỌC - VIỆT NAM