Bùng phát sử dụng thẻ ở Việt Nam

Thứ năm, 14 Tháng bảy 2005, 04:38 GMT+7
  • Theo ước tính của một công ty chuyên sản xuất các loại thẻ, năm 2004, số lượng thẻ sử dụng ở Việt Nam khoảng 600.000 chiếc, chủ yếu là thẻ tài chính. Dự kiến, tốc độ phát triển thẻ tại Việt Nam những năm tới sẽ đạt 200%/năm.

    Năm 2005, chỉ riêng số lượng phát hành thẻ của một ngân hàng đã xấp xỉ con số 600.000 trên. Bởi nếu trong năm 2004 chúng ta mới có khoảng 300 điểm rút tiền tự động (ATM) thì đến năm nay, con số này đã tăng lên hơn 1.100 điểm. Ước tính, tốc độ phát triển thẻ tài chính tại Việt Nam trong những năm tới đạt mức 200%/năm, tương đương 2-3 triệu thẻ/năm.

    Hiện Hiệp hội thẻ tín dụng EMV (do ba tổ chức sản xuất thẻ quốc tế Europay, MasterCard và Visa thành lập) đã và đang yêu cầu cũng như cảnh báo ngân hàng các nước trên thế giới nói chung và khu vực châu Á Thái Bình Dương nói riêng chuyển sang sử dụng thẻ thông minh, và thời hạn cho việc chuyển đổi tại châu Á Thái Bình Dương là đầu năm 2006.

    Trên thế giới, thẻ nhựa đã được sử dụng từ nhiều thập kỷ nay. Tuy nhiên, người Việt Nam mới bắt đầu làm quen với chiếc thẻ nhựa chỉ vài năm trở lại đây. Thẻ sinh viên, thẻ rút tiền tự động (ATM), thẻ tín dụng, thẻ chấm công... đang dần trở nên rất thân thuộc nhờ những tiện ích của nó, như tiết kiệm thời gian, tiền bạc và tiện lợi hơn nhiều so với việc sử dụng thẻ giấy. Sự khác biệt giữa thẻ nhựa và thẻ giấy chính là các công nghệ được tích hợp trong chiếc thẻ nhựa cho phép thẻ có thể tương tác với các hệ thống chấp nhận thẻ tự động.

    Dưới đây là một số loại thẻ thường được sử dụng:

    Bung phat su dung the o Viet Nam
    Thẻ mã vạch

    Thẻ mã vạch

    Thay vì đọc mã số trên một sản phẩm hàng hóa để tính tiền, nhân viên siêu thị chỉ việc giơ một chiếc máy đọc mã vạch vào một miếng dán nhỏ phía trên sản phẩm, ngay lập tức máy tính nhận biết tên hàng hóa, đơn giá và in biên lai thu tiền. Mã vạch (barcode) in trên thẻ nhựa cũng có tính năng tương tự. Mã số nhân viên, mã số khách hàng sẽ được mã hóa thành các vạch thẳng đứng, song song với độ rộng khác nhau và một thiết bị đọc sẽ chuyển các mã vạch đó thành mã số khi chủ thẻ xuất trình để được hưởng các quyền lợi sử dụng thẻ.

    Có hai loại mã vạch là mã vạch một chiều (1D) và mã vạch hai chiều (2D). Trong khi mã vạch 2D có thể lưu trữ được số lượng thông tin hàng nghìn kí tự thì mã vạch 1D chỉ mã hóa được dãy số hoặc kí tự không quá 12. Thẻ mã vạch 1D được sử dụng tương đối phổ biến như thẻ nhân viên, thẻ khách hàng, thẻ ra vào cơ quan, còn thẻ mã vạch 2D thường được sử dụng cho thẻ CMTND nhằm lưu trữ các thông tin cá nhân như màu mắt, loại máu...

    Bung phat su dung the o Viet Nam
    Thẻ từ

    Thẻ từ

    Cũng giống như băng Cassette, hoặc bằng Video, dải từ (magnetic stripe) gắn trên thẻ được thiết bị có từ tính để đọc, ghi hoặc xóa các dữ liệu ghi trên thẻ. Có hai loại thẻ từ là thẻ từ có mật độ từ cao (hico) và thẻ từ có mật độ từ thấp (loco). Để mã hóa thẻ từ hico người ta phải dùng nhiều năng lượng hơn so với thẻ từ loco, do vậy các thông tin lưu trên dải từ hico cũng khó bị phá huỷ hơn vô tình thẻ từ để gần các vật có từ tính như nam châm, đài, tivi. Vì vậy, không nên để thẻ chấm công, thẻ ATM gần các thiết bị sinh từ tính.

    Thẻ thông minh tiếp xúc

    Thẻ thông minh không tiếp xúc là một loại thẻ nhựa có gắn một con chíp điện tử có chứa chỉ bộ nhớ hoặc bộ nhớ với một bộ vi xử lý. Các chíp điện tử chỉ có bộ nhớ có giá thành thấp hơn nhiều so với chí có bộ vi xử lý và có độ bảo an kém hơn, do vậy, loại này thường không được sử dụng để lưu các thông tin mật hoặc nhạy cảm.

    Bung phat su dung the o Viet Nam
    Thẻ thông minh tiếp xúc

    Loại chíp chứa cả bộ nhớ và một bộ vi xử lý có một bộ điều khiển thông minh được sử dụng để ghi, xóa, thay đổi hoặc cập nhật thông tin lên bộ nhớ theo một cách thức mã hóa an toàn. Loại chíp đời mới còn có tính năng bảo mật chống ghi, chép, mã hóa nếu không được sự cho phép của chủ thẻ. Ngoài các tính năng về bảo mật thông tin, chống làm giả, thẻ thông minh có có một ưu việt nữa đó là dung lượng bộ nhớ khá lớn (thông thường là 64-128K, cá biệt có loại lên tới 1Mb).

    Gọi là thẻ thông minh tiếp xúc bởi chúng ta phải nạp thẻ vào thiết bị đọc để cho đầu đọc có thể tiếp xúc được với chíp điện tử trên bề mặt thẻ. Thẻ thông minh tiếp xúc được ứng dụng rộng rãi bao gồm thẻ y tế, thẻ CMTND, thẻ bằng lái xe, thẻ mua hàng, thẻ khách hàng, thẻ an ninh hệ thống.

    Thẻ thông minh không tiếp xúc


    Bung phat su dung the o Viet Nam
    Thẻ thông minh không tiếp xúc

    Ngoài các đặc tính và tính năng giống như thẻ thông minh tiếp xúc, thẻ thông minh không tiếp xúc (contactless smartcard) có gắn một ăngten chạy ẩn vòng quanh thân thẻ cho phép chíp có thể giao tiếp được với đầu đọc thẻ trong phạm vi đọc thẻ (khoảng từ 5cm đến 10cm) thay vì phải nạp vào thiết bị đọc thẻ. Nhờ tính năng này, thẻ thông minh không tiếp xúc được sử dụng đáp ứng các nhu cầu về tiện lợi và nhanh chóng. Sắp tới hệ thống thu vé xe buýt sẽ ứng dụng thí điểm loại thẻ này với hy vọng giảm thiểu thời gian thu phí, nạn vé giả đang làm đau đầu các hãng xe buýt.

    Thẻ cảm ứng

    Bung phat su dung the o Viet Nam
    Thẻ cảm ứng

    Thẻ cảm ứng (proximity card) có cách giao tiếp với đầu đọc thẻ giống như thẻ thông minh không tiếp xúc (đọc từ xa) ngoại trừ chúng là loại chỉ đọc (read-only), không có khả năng ghi lại hoặc xóa thông tin trên thẻ. Dữ liệu lưu trữ trên thẻ rất ít, thông thường chỉ từ 4 tới 10 số. Thẻ cảm ứng thường được sử dụng như thẻ ID, thẻ chìa khóa tiện lợi cho việc ra vào, tiết kiệm thời gian và không phải dùng tay (hand-free).

    Hiện tại nhân viên làm việc tại nhà máy MK, văn phòng Nghiên cứu và Phát triển (R&D), Văn phòng TP.HCM đã sử dụng loại thẻ này trong việc chấm công, kiểm soát ra vào.

    Thẻ lai

    Bung phat su dung the o Viet Nam
    Thẻ lai

    Thẻ lai (Hybrid) là thuật ngữ chỉ loại thẻ thông minh bao gồm nhiều công nghệ thẻ thông minh trên một thân thẻ. Nó có thể là một thẻ chứa một chíp có gắn ăng-ten (như thẻ không tiếp xúc), với một chíp tiếp xúc, hoặc/và một chíp cảm ứng - tất cả trong một (all in a single card). Lý do sử dụng hỗn hợp như vậy bởi nhà phát hành muốn tối ưu hóa các tính năng của từng công nghệ thẻ và sử dụng cho nhiều ứng dụng (thẻ đa năng): chíp không tiếp xúc dành cho các ứng dụng yêu cầu tốc độ, như thu phí xe buýt, tàu điện; chíp tiếp xúc dùng cho các giao dịch yêu cầu an ninh cao như thanh toán điện tử, kiểm tra xuất nhập cảnh. Các chíp này hoạt động độc lập với nhau mặc dù chúng đều nằm trong một thân thẻ.

    Kể từ năm 2001, dưới chủ trương hướng tới chính phủ điện tử, Malaysia đã triển khai loại thẻ thông minh lai (Hybrid) có thể là MyKad. MyKad là một loại thẻ thông minh đa năng, vừa lưu trữ thông tin cá nhân, thông tin hộ chiếu, giấy phép lái xe, thông tin sức khoẻ và vừa là thẻ thanh toán.

    Bung phat su dung the o Viet Nam
    Thẻ kết hợp

    Thẻ kết hợp

    Thẻ kết hơp (Combi Card) là thẻ có cách thức giao tiếp kép, vừa giao tiếp bằng cách tiếp xúc (contact) với đầu đọc thẻ hoặc giao tiếp từ xa (contactless). Thẻ chỉ bao gồm một con chíp thông minh nhưng vừa có bản mặt tiếp xúc, vừa có ăngten. Loại thẻ này ngày càng được sử dụng phổ biến bởi chúng rất tiện lợi cho bạn khi chỉ việc giơ thẻ trước đầu đọc trên xe buýt, tàu điện và từ từ nạp tiền vào thẻ tại trạm bán vé.

    • H.Phương

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Bùng phát sử dụng thẻ ở Việt Nam

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Bùng phát sử dụng thẻ ở Việt Nam bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Bung phat su dung the o Viet Nam ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Bùng phát sử dụng thẻ ở Việt Nam ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Xu Hướng của chuyên mục Khoa Học.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - KHOA HỌC - XU HƯỚNG