Sự vô cảm và nỗi đau môn phụ

Thứ hai, 11 Tháng hai 2008, 16:32 GMT+7
  • Bài “Học giáo dục công dân như... học triết!” trên TS đã gợi cho tôi nhiều suy nghĩ. Bài viết đã đặt ra vấn đề dạy học môn GDCD trong nhà trường phổ thông cũng như tình trạng dạy học những “môn phụ” khác nói chung. Là một giáo viên Văn, một môn học đang dần dà bị coi là “môn phụ”, tôi nhận thấy, cần phải có một cách nhìn thỏa đáng hơn về vấn đề này. Với những điều mắt thấy tai nghe trong thực tiễn giảng dạy, tôi xin được trình bày suy nghĩ của mình:

    Mối quan hệ cung - cầu

    Học sinh bây giờ thích ban KHTN hơn KHXH. Nguồn: longan.gov.vn
    Học sinh bây giờ thích ban KHTN hơn KHXH. Nguồn: longan.gov.vn
    Một thực tế không ai phủ nhận được, trong nhà trường phổ thông hiện nay đang diễn ra tình trạng phân biệt “môn chính” và “môn phụ” rất rõ nét, mặc dù không được thừa nhận một cách chính thức. Vậy nguyên nhân của tình trạng này là do đâu?

    Sẽ có nhiều cách lí giải khác nhau, tuy nhiên, từ góc độ của một giáo viên, chúng tôi khẳng định chủ yếu là do nhu cầu của học sinh, và nhu cầu đó được quyết định bởi nhu cầu về nhân lực của nền kinh tế - xã hội.

    Xin lấy môn Văn làm ví dụ: Cách đây khoảng hơn chục năm về trước, cánh cửa các trường đại học còn rộng mở với khối C, nên khối C rất thịnh, học sinh học khối C nhiều hơn học các khối khác. Môn Văn lúc ấy dĩ nhiên là môn chính, học sinh say sưa học, thầy say sưa dạy, các thầy giáo, học sinh giỏi được tôn vinh…

    Gần đây, do nhu cầu nhân lực của nền kinh tế - xã hội đã thay đổi, nói chung là nghiêng hẳn về ban KHTN-KT, nên ban A-B “lên ngôi”, học sinh đổ xô đi học ban A, và các môn KHXH trở nên lép vế, dần dần trở thành môn phụ. Các giáo viên môn KHXH rơi vào tình trạng bị “thất sủng”. Xin các nhà quản lí giáo dục hãy vi hành vài chuyến vào dự giờ của các giáo viên KHXH, đặc biệt là ở các lớp chuyên chọn ban KHTN, mới thấy hết cái thảm, nỗi buồn của những “kĩ sư tâm hồn” bất đắc dĩ này.

    Việc nhiều học sinh không học môn GDCD, nêu ra các lí do “chương trình không có tính thực tiễn, không ứng dụng trong đời sống, ít thực hành, kém hấp dẫn…” chỉ là ngụy biện, đổ vấy cho chương trình, SGK, giáo viên mà che lấp đi một lí do cơ bản, đó là, các em không muốn học môn này, đơn giản chỉ vì nó không phải là phương tiện để giúp các em để kiếm sống dễ dàng hơn!

    Xin hỏi các phương trình bậc hai, bậc ba, toán xác suất, vật lí hạt nhân, hoá học hữu cơ… thì có gì là “gần gũi”, là thiết thực, là “hấp dẫn”, phương tiện thực hành cũng rất nghèo nàn… thế mà học sinh lại chăm chỉ, miệt mài “cày xới” ngày đêm? Các môn đó chỉ hấp dẫn vì nó mở ra một tương lai xán lạn, với những ngành học danh giá, những công việc có thu nhập cao, những vị trí “thơm tho” trong xã hội…

    "Trò nào, thầy nấy"?

    Một số người thường nói, học sinh không học Văn, Sử, GDCD… vì các thầy cô dạy thiếu hấp dẫn, thiếu sáng tạo, thiếu dụng cụ trực quan… đó chỉ là một cách nói, khi học sinh đã “một lòng một dạ” theo đuổi cái “cần câu cơm” là các môn KHTN thì có GS-TS hay ai đó dạy, và bằng phương tiện gì cũng thế thôi! Tâm lí thực dụng, toan tính của thế hệ trẻ bây giờ quả là ghê gớm, và đó là nguy cơ của đạo đức xã hội. Và một hệ quả tất yếu đã xảy ra, học sinh không học, dẫn đến các thầy cô không thiết tha với việc dạy, không chăm chút trau dồi kiến thức, đổi mới phương pháp, lên lớp với tâm lí chán chường, mệt mỏi… và ngày càng cùn mòn đi.

    Chúng ta thường nói “Thầy nào trò nấy” nhưng cũng nên nghĩ đến tác động theo chiều ngược lại, cũng mạnh mẽ không kém là “Trò nào thầy nấy”. Có câu danh ngôn: “Nhu cầu - người là mẹ của thế giới”. Có cầu tất có cung, cầu càng lớn thì cung càng phát triển. Cầu giảm sút thì cung sẽ chuệch choạc ngay, cầu luôn đóng vai trò quyết định.


    Hạnh phúc lớn nhất của người thầy là được học sinh đón chờ mỗi giờ lên lớp, hết giờ rồi vẫn còn muốn nghe thêm, sôi nổi phát biểu, tích cực làm bài tập, cầu thị học hỏi… Như thế thì thầy cô nào mà chả cố gắng. Giờ đây, đón chờ thầy là những cái nhìn mệt mỏi, vô hồn, lạnh lẽo, những tiếng thở dài, những tiếng thì thầm, những lời nhắc hết giờ, những hành vi đối phó như một số học sinh trong bài báo đã nêu: xin nghỉ ốm, xin ra ngoài có việc riêng, sử dụng tài liệu trong kiểm tra… thì còn gì nữa mà nói. Có ai hiểu cho nỗi buồn, nỗi khổ, nỗi đau và thậm chí là nỗi nhục của những giáo viên “môn phụ”?

    Nguyên lí cơ bản của nghề dạy học là vì người học (chứ không phải vì người dạy), nên một khi người học đã không cần học, thì việc học trở nên vô vị, vô nghĩa, vô duyên, một trò hề. Bây giờ, nếu một giáo viên “môn phụ” nào vẫn nhiệt huyết, say sưa thì chẳng khác gì chàng Đông Ki Sốt vác giáo thúc ngựa lao vào cối xay gió!

    Học đối phó sẽ sinh ra dạy đối phó, mọi việc của giáo viên vẫn rất bài bản: dạy đúng giờ, đúng chương trình, giáo án đầy đủ và đẹp, thao giảng, dạy bằng giáo án điện tử, vẫn thi giáo viên giỏi, vẫn có sáng kiến kinh nghiệm… nhưng hầu hết chỉ là đối phó mà thôi.

    Từ góc độ người học, điều sơ đẳng nhất là phải biết tôn trọng người dạy, biết lắng nghe, và Luật giáo dục ghi rất rõ là người học phải chăm chỉ học tập, thực hiện đầy đủ các yêu cầu giáo dục… nghĩa là phải biết đạo lí, tuân thủ pháp luật, quy chế giáo dục. Thế nhưng, ngay cả một chút tình thương đối với thầy cô cũng trở nên vô cùng mỏng manh. Đa số học sinh chỉ biết chạy theo chữ “lợi”, gian lận đối phó, lạnh lùng vô cảm, đẩy thầy cô “môn phụ” vào tình cảnh “người thừa”, “độc diễn” gượng gạo trong khi cái “gốc” của các môn KHXH là đạo lí, tình nghĩa.

    Trước thực trạng ấy, giáo viên có hai cách phản ứng: một là chán nản, buông xuôi, dễ dãi; hai là trở nên “rắn”, dùng “kỉ luật sắt”, dùng cái quyền “rơm” của nhà giáo như cho điểm, đuổi ra khỏi giờ học… để tạo lập kỉ cương, nhưng cả hai đều cực đoan, tội nghiệp. Nhìn cảnh ấy, chúng tôi không khỏi đau lòng, bi phẫn. Dĩ nhiên là những nhà quản lí, hoạch định chương trình, những người biên soạn SGK, những giáo viên cũng cần phải suy nghĩ, xem lại nhiều vấn đề, song học sinh hãy nên ngẫm về mặt đạo lí, văn hoá ứng xử của mình như vậy đã đúng chưa? Chúng ta kêu gọi người thầy phải có đạo đức, phải “thương trò”, vậy thì trò cũng phải “thương” thầy, có tình nghĩa với thầy, không phải là “thương” theo kiểu quà cáp, xu nịnh mà là sự thấu hiểu, cảm thông, trân trọng, là ứng xử đúng mực, có văn hoá.

    Dĩ nhiên, cái mà chúng ta gọi là “nhu cầu của người học” không phải là bản năng tự nhiên, mà do các quan điểm, chính sách, giải pháp giáo dục của người lớn tạo ra. Vì vậy, muốn thay đổi tình trạng phân hoá “môn chính”, “môn phụ” như hiện nay, đòi hỏi quyết tâm lớn, sự đầu tư bài bản, có tính chiến lược, có chiều sâu, sự nỗ lực lớn của các gia đình và toàn xã hội cũng như bản thân ngành giáo dục. Về những giải pháp cụ thể, chúng tôi xin nhường lời cho các nhà quản lí và đông đảo các đồng nghiệp.

    • Trần Quang Đại, Giáo viên trường THPT Trần Phú, Đức Thọ, Hà Tĩnh

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Sự vô cảm và nỗi đau môn phụ

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Sự vô cảm và nỗi đau môn phụ bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Su vo cam va noi dau mon phu ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Sự vô cảm và nỗi đau môn phụ ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Giáo Dục của chuyên mục Giáo Dục.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - GIÁO DỤC - TIN GIÁO DỤC