Sau nhiều năm đổi mới lại ngồi bàn chuyện… đổi mới!

Thứ hai, 15 Tháng mười một 2004, 09:29 GMT+7
  • Nền giáo dục nước nhà:

    Sau nhieu nam doi moi lai ngoi ban chuyen doi moi
    GS-TS Nguyễn Ngọc Trân (bên phải)
    Muốn nâng cao chất lượng giáo dục phải bắt đầu từ thầy cô chứ không phải từ sách giáo khoa. Đổi mới, phải xác định rõ hướng, nếu không, lại tiếp tục đổi mới lung tung.

    "Đánh giá về nền giáo dục nước nhà là phải có trước có sau, phải nhìn cả những thành tựu không thể phủ nhận cũng như phải can đảm nhìn vào những bất cập, yếu kém, tìm cho ra nguyên nhân để có giải pháp đúng đắn và tập trung giải quyết. Thái độ khách quan ấy mới đúng với yêu cầu mà cử tri cả nước đặt cho một đại biểu Quốc hội".

    GS-TS Nguyễn Ngọc Trân Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội đã nói như thế khi trao đổi với phóng viên bên lề quốc hội.

    Bằng thái độ ôn tồn, cách diễn đạt gãy gọn, mạch lạc – kỹ năng vốn có của một nhà giáo – ông phân khúc sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam thành ba bậc thang. Bậc thứ nhất là vào năm 1946, khi chính quyền nhân dân được thành lập. Lúc đó, nền giáo dục của ta đã thanh toán được nạn mù chữ, diệt được giặc dốt và đặt nền móng cho một nền giáo dục mới ở nước ta. Bậc thứ hai là năm 1954. Giai đoạn ấy, nền giáo dục nước nhà với sự giúp đỡ của các nước XHCN anh em, đã đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng tốt yêu cầu bảo vệ và xây dựng miền Bắc XHCN, chi viện cho chiến trường miền Nam chiến đấu và chiến thắng giặc Mỹ, thống nhất đất nước. Bậc thang thứ ba bắt đầu từ năm 1975 và kéo dài cho đến nay.

    - Phân khúc sự phát triển của giáo dục thành 3 bậc thang, giáo sư đã nhìn thấy gì trong bậc thang thứ ba này?

    - Nếu như ở bậc thang thứ nhất và thứ hai nền giáo dục của chúng ta đã vượt qua rất thành công thì ở bậc thang thứ ba này, chúng ta còn đang lặn hụp trong nhiều khó khăn. Thành tựu có nhiều song khuyết nhược điểm không ít và khá nghiêm trọng. Tôi muốn đề cập đến hai tồn tại lớn: hệ thống giáo dục quá chậm đổi mới và vay mượn, vá víu, mất cân đối nghiêm trọng. Thứ đến là đội ngũ giáo viên còn nhiều bất cập về trình độ. Cả hai do nhiều nguyên nhân, nhưng theo tôi, trước tiên là do sự lãnh đạo trong lĩnh vực giáo dục.

    - Chậm đổi mới, ý giáo sư muốn nói…

    - Tôi dùng từ chậm đổi mới là đã hết sức cân nhắc, đặc biệt là chậm đổi mới trong giáo dục đại học. Có 2 lý do để kết luận như vậy. Thứ nhất, mô hình giáo dục đại học của mình về cơ bản không thay đổi gì so với những năm 50, 60 của thế kỷ 20, tức là tốt nghiệp phổ thông xong phải thi tuyển vào đại học. Thứ hai, vẫn học theo niên chế, đặc biệt là ở các tỉnh phía Bắc.

    Ở các tỉnh phía Nam, từ đầu những năm 1980, Trường Đại học Tổng hợp TPHCM rồi Trường Đại học Bách khoa TPHCM đã xây dựng chế độ học phần, học theo tín chỉ. Từ đó đến nay, khá nhiều trường đại học khác tại TPHCM và một số tỉnh thành phía Nam đã dạy và học theo phương thức này. Đây cũng là cách đào tạo rất phổ biến trong hệ thống giáo dục đại học trên thế giới.

    Vậy mà đến nay, Bộ GD-ĐT vẫn chưa công nhận và cho áp dụng chung trong cả nước, thậm chí, trong một báo cáo gần đây với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ GD-ĐT còn đặt yêu cầu phải có thêm thời gian thử nghiệm nữa để hình thành việc đào tạo theo tín chỉ và xem đó là một điều kiện cần có để liên thông giữa các luồng đào tạo! Rõ ràng, dù đã có hơn 20 năm thực tế về dạy và học theo tín chỉ, Bộ GD-ĐT vẫn chưa kết luận và vẫn còn muốn nghiên cứu, thử nghiệm. Điều mâu thuẫn là trong khi đổi mới cái cần đổi một cách chậm chạp thì bộ lại rất nhanh trong việc vay mượn và áp dụng những điều chúng ta chưa kiểm nghiệm.

    Ra nước ngoài thấy người ta có đại học mở, mình cũng về lập đại học mở; thấy người ta có đại học cộng đồng, mình cũng về mở đại học cộng đồng. Việc tiếp thu thông qua góp nhặt Đông Tây hoặc tùy thuộc vào các chương trình tài trợ mà không hề nằm trong chương trình, ý định cải tổ hệ thống giáo dục một cách căn cơ (ví dụ có áp dụng hay không mô hình 3+2+3 sau khi tốt nghiệp phổ thông), như vậy, nếu không gọi là vá víu, vay mượn, thì là gì?

    - Theo thống kê của chính ngành giáo dục, mỗi năm có khoảng 1 triệu học sinh đậu tú tài ở cả hai hệ phổ thông và bổ túc, thế nhưng chỉ tiêu tuyển sinh nhà nước cấp ở khối đại học chỉ có 200.000 sinh viên và số học sinh ở khối trung học chuyên nghiệp và dạy nghề rất ít. Đây có phải là sự mất cân đối mà giáo sư muốn nói?

    - Đúng vậy. Nền giáo dục của ta gần như chỉ có một luồng đào tạo phổ thông mà thôi. Luồng dạy nghề chiếm tỉ lệ rất thấp. Tỉ lệ tổng số học sinh trong luồng dạy nghề và trung học chuyên nghiệp trên tổng số học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông năm học 2001 – 2002 là 15,45%; năm học 2002 – 2003 là 15,46%; năm học 2003- 2004 được 16,31%. Tỉ lệ này cho thấy rõ ràng, nền giáo dục của chúng ta đang mất cân đối trầm trọng mà đáng lý ra phải được tập trung giải quyết vì sự nghiệp CNH – HĐH đất nước rất cần có một đội ngũ công nhân được đào tạo tới nơi tới chốn. Đây còn là một trong những điều kiện hết sức quan trọng cho việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    - Giáo sư có nói đến những bất cập về trình độ của đội ngũ thầy cô giáo. Phải chăng theo giáo sư, họ đã có lỗi trong sự xuống cấp của nền giáo dục nước ta hiện nay?

    - Tôi không nghĩ như vậy. Thầy cô là nhân vật trung tâm của một nền giáo dục của một quốc gia. Họ là những người truyền đạt kiến thức. Đội ngũ thầy cô có ðđạt yêu cầu về tri thức và kỹ năng sư phạm ở mức cao thì sản phẩm mà họ tạo ra mới có chất lượng. Lẽ ra, ngay từ đầu, tức là khi chúng ta thu nhận người vào đào tạo để bổ sung cho đội ngũ giáo viên, chúng ta đã phải nghĩ và có ngay biện pháp thực hiện nhằm đạt cho được yêu cầu bức thiết này. Nhưng chúng ta đã không quan tâm đúng mức và kiên quyết giải quyết. Hậu quả là chúng ta đang có trong tay một đội ngũ thầy cô giáo hết sức khập khiểng về trình độ (mà bộ hay gọi là “nhìn chung vừa thiếu vừa yếu”).

    Trong khi đó, đã từ bao giờ cho tới hiện nay, mọi trách nhiệm thầy cô đều phải gánh: học sinh lưu ban, học sinh bỏ học, trường không đạt chỉ tiêu phổ cập, ... thầy cô đều chịu trách nhiệm trong lúc đồng lương thì không đủ sống. Có thể đổ lỗi cho thầy cô, nhưng theo tôi lỗi lớn nhất là ở lãnh đạo đã không giải quyết tới nơi tới chốn yêu cầu bức thiết nói trên.


    - Dư luận xã hội hiện rất bức xúc về tình trạng các em học sinh học tập thụ động. Giáo sư nghĩ gì về điều này?

    - Dư luận xã hội và ngay cả ngành giáo dục bây giờ than và báo động về tình trạng học sinh học thụ động. Nhưng giải quyết làm sao khi thầy cô trình độ có hạn – hệ quả của việc thầy cô không được đào tạo có chất lượng? Khi đó, dạy và chấm theo giáo án là cách làm “chắc ăn” nhất. Lâu dần, chính cách dạy này tạo cho học sinh thói quen học thụ động. Nghiêm trọng hơn, điều này còn tác hại xấu đến xã hội. Thụ động trong trường học, các em sẽ thụ động khi ra đời, không năng động trong tư duy, không chủ động giải quyết các vấn đề gặp phải. Có ý kiến cho rằng, sự thụ động đó là hệ quả của sự bao cấp về tư duy ngay từ học đường. Theo tôi, vấn đề cơ bản là chất lượng của đội ngũ thầy cô.

    - Trong báo cáo về giáo dục mà Chính phủ trình tại kỳ họp lần này có nhấn mạnh đến việc đổi mới tư duy và nâng cao hiệu lực quản lý giáo dục. Đây không phải lần đầu chúng ta nói đến vấn đề này...

    - Tôi hoàn toàn nhất trí đây là hai khâu mang tính chất quyết định trong việc nâng cao chất lượng của nền giáo dục của đất nước. Nhưng tôi có một câu hỏi. Từ năm 1986, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã nói chúng ta phải đổi mới tư duy, đổi mới phong cách. Bây giờ, ở thời điểm này, chúng ta lại nghe phải đổi mới tư duy. Vậy 18 năm vừa qua, chúng ta đã làm gì ? Sự chậm trễ này do đâu và ai chịu trách nhiệm? Cũng cần nhắc thêm rằng chúng ta chỉ còn có 16 năm nữa để tới điểm hẹn 2020, năm mà Việt Nam, theo nghị quyết, sẽ trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    - Cải cách là biểu hiện cụ thể của đổi mới. Thời gian qua, chẳng phải ngành giáo dục đã có rất nhiều cải cách đó sao, thưa giáo sư?

    - Tôi và một số thầy cô khi ngồi lại trao đổi với nhau về giáo dục cũng hay bàn vấn đề này, nhưng câu hỏi có khác hơn một chút: Ngành giáo dục chậm đổi mới hay đổi mới mọi phương, đổi mới không đúng? Tôi nghĩ rằng có cả hai. Thời gian qua, chúng ta có quá nhiều cải cách giáo dục. Nhưng hãy nhìn lại những cải cách này xem cái nào cần, cái nào chưa thật sự bức xúc, cải cách nào không cần thiết. Hệ quả của những cải cách vừa qua là nền giáo dục nước nhà rất không ổn định. Không ổn định về loại hình trường lớp; không ổn định về chương trình, về giáo trình; không ổn định về chế độ thi cử; không ổn định chữ viết, về bảng chữ cái và học vị cũng không ổn định.

    Chính vì vậy, ở thời điểm này, câu hỏi “chậm đổi mới hay đổi mới không đúng” rất cần thiết được đặt ra. Bởi có đặt ra mới thấy được sắp tới mình sẽ đổi mới tư duy theo hướng nào và đổi mới như thế nào, để nền giáo dục vượt qua thành công bậc thang thứ ba, hội nhập cùng thế giới trong bối cảnh khoa học và công nghệ tiến nhanh. Tầm nhìn của người quản lý hết sức quan trọng

    - Như giáo sư đã nhận định về vai trò của đội ngũ thầy cô giáo trong sự phát triển của nền giáo dục, rõ ràng con người luôn là yếu tố quyết định mọi thành bại của mọi công việc. Nhưng nói đến giáo dục và đổi mới giáo dục mà chỉ nhắc đến con - người - thầy - cô - giáo thôi dường như chưa đủ?

    - Trong bất cứ một tổ chức nào, vai trò của người quản lý, người lãnh đạo cũng vô cùng quan trọng. Theo tôi, quản lý giáo dục trong thời gian tới muốn làm tốt, trước hết, người quản lý giáo dục phải có tầm nhìn rộng và hiểu biết sâu về những vấn đề giáo dục mà đất nước phải giải quyết, nhất là những nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém triền miên để từ đó có phương cách giải quyết đúng đắn, tránh sa vào sự vụ không cần thiết. Tôi nói vậy vì hiện nay, ngay Chính phủ cũng nhận thấy việc quản lý giáo dục là “bao biện, ôm đồm”.

    Bao biện là làm những chuyện đáng ra có thể phân cấp được; còn ôm đồm là ôm cả những chuyện linh tinh như chuyện Bộ Giáo dục - Đào tạo ôm cả việc in đề thi trong khi còn nhiều vấn đề lớn, khó khăn cần phải giải quyết để giáo dục nước nhà phát triển, hội nhập thì lại không làm. Vấn đề trước tiên của người quản lý giáo dục hiện nay là phải nhận diện cho chính xác điều gì là điều cơ bản và đặt mục tiêu sao cho phù hợp với từng giai đoạn. Phải chọn cho được cái cơ bản cần giải quyết, có bước đi cụ thể, có biện pháp thích hợp thì quản lý giáo dục mới đưa được nền giáo dục nước nhà vào đúng quỹ đạo cần cho nó.

    - Rất nhiều vấn đề tồn tại khiến nền giáo dục nước nhà ngày càng rối rắm, kém hiệu quả. Dư luận xã hội không phải chỉ một lần đặt vấn đề về khả năng quản lý và trình độ thực sự của những người đứng đầu ngành giáo dục. Vì sao họ vẫn cứ tại vị…?

    - Đây cũng là một trong những điểm mà trong kỳ thảo luận tới đây Quốc hội sẽ cố gắng làm sáng tỏ. Cá nhân tôi cho rằng nên bình thường hóa việc từ chức để những người khi nhận thấy mình không làm được việc có thể từ chức dễ dàng, thoải mái. Ngoài ra, như tôi đã phát biểu tại kỳ họp lần thứ 5, cũng cần bình thường hóa cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm tại diễn đàn của Quốc hội, bởi thông qua việc bỏ phiếu này chúng ta thấy được mức độ tín nhiệm của cử tri - thông qua những đại biểu Quốc hội do chính họ bầu ra - đối với một cá nhân nào đó trong bộ máy Nhà nước. Việc bỏ phiếu này, theo tôi, cũng là một kênh thông tin cung cấp cho Đảng, Nhà nước hiểu thêm về cán bộ của mình và có cơ sở làm tốt hơn công tác nhân sự.

    - Xin cám ơn giáo sư.

    Theo SGGP

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Chủ đề liên quan: Sau nhiều năm đổi mới lại ngồi bàn chuyện… đổi mới!

    Nhận xét tin Sau nhiều năm đổi mới lại ngồi bàn chuyện… đổi mới!

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Sau nhiều năm đổi mới lại ngồi bàn chuyện… đổi mới! bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Sau nhieu nam doi moi lai ngoi ban chuyen doi moi ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Sau nhiều năm đổi mới lại ngồi bàn chuyện… đổi mới! ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Giáo Dục của chuyên mục Giáo Dục.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - GIÁO DỤC - TIN GIÁO DỤC