Ngôi trường chuẩn

Thứ bảy, 02 Tháng chín 2006, 16:44 GMT+7
  • Ngoi truong chuan
    Minh họa: Hoàng Tường
    Một ngày cuối tháng 8-2004 ngôi trường chuẩn quốc gia của xã Bảo Thắng được khánh thành. Ngôi trường ba tầng với hội trường lớn và 30 phòng học, phòng chức năng khang trang làm sáng lên cả một vùng làng quê ven con sông Đào.

    Tàng phượng vĩ cổ thụ thẳng tắp giữa sân trường càng làm tăng vẻ uy nghi bề thế của ngôi trường mới. Qui mô một trường trung học cơ sở xã thế này phải nói là số một trong huyện.

    Ngôi trường vẫn được xây trên nền đất cũ cuối làng Hương mà ngày xưa còn có tên là Ngũ Ngư. Đứng trên núi Hổ nhìn về thì thế đất rõ hình năm con cá chực bơi ra sông. Có điều xưa kia ai đã chọn đất cất trường học cắm ngay vào khu đất phía đuôi. Sóng gió! Bất ổn! Chả thế mà ngôi trường cứ phải làm đi làm lại cả lần này kể cũng đến dăm bảy bận.

    + + +

    Người kể lại câu chuyện cảm động và giản dị này là một thầy giáo của chính ngôi trường chuẩn ở xã Bảo Thắng, huyện Vụ Bản, Nam Định. Từ ngôi trường tường đất, tranh tre của hơn 40 năm trước đến ngôi trường chuẩn quốc gia khang trang hôm nay là cả một chặng đường dài đi qua biết bao gian khó và gắn với cuộc đời một nhà giáo, người đã không tự đánh mất mình chỉ vì một phong bì tiền, chấp nhận đồng lõa với gian dối.

    Ngôi trường chuẩn cũng là câu chuyện cho một năm học mới đang cận kề.

    Những năm sáu mươi, mới đấy mà đã hơn 40 năm!

    Ngày ấy, ngôi trường được dựng nên từ hai bàn tay trắng. Thầy trò cùng dân trong xã nhào lấy bùn đất đắp tường. Hạ xoan tre làm cột kèo. Đan rạ nứa thành phên lợp mái. Mồ hôi công sức góp lại thành trường. Ngày ấy, cách trường chỉ hơn cây số đường chim bay về phía tây là cầu Mít trên quốc lộ 10, một trọng điểm đánh phá của máy bay địch.

    Phía đông là con đê bối và bến đò Kim cũng không ngoài tầm ngắm thường xuyên của phản lực Hoa Kỳ. Trường bị kẹp vào giữa hai rốn bom. Từng lớp học ngày ấy phải đắp lũy đất che chắn. Hệ thống đường hào từ trong lớp học dẫn ra các hầm trú ẩn chữ A xung quanh.

    Mỗi lần nghe tiếng kẻng ngũ liên dồn dập từ điếm canh của dân quân trên mặt đê báo có máy bay địch xuất hiện, thầy trò nhanh chóng tụt xuống đường hào tản ra bốn phía trông như những chú còng trên bãi biển khi có động.

    Từ những ngày khởi đầu lập lớp khai trường ấy, có người thầy ngay tên gọi cũng như đã là duyên phận với mảnh đất Ngũ Ngư đầy sóng gió này. Tên thầy là Vũ Thủy. Chẳng phải là mưa, nước long đong? Thầy là con dân của vùng đồng ruộng sông nước này, sức vóc đậm đà rắn rỏi. Tuổi đời mới ngoài đôi mươi. Riêng tư chưa có dấu hiệu gì nên chuyện để các cô gái trong làng ngoài ngõ qua lại. Cho đến một ngày thầy đưa ông nội mình đi thăm bà cụ là bạn xưa của ông ở xã bên. Thấy bà cụ có cô cháu gái dễ thương, chẳng hiểu ông đùa hay thật:

    - Bà cho tôi cô cháu để làm bạn với thằng Thủy nhà tôi, bà nhớ!

    Bà cụ trả lời cái một:

    - Ông đã có nhời rồi đấy nhá! Mai kia có đổi ý tôi cũng ấn bằng xong con bé vào nhà ông đấy.

    Chỉ thế mà thành vợ thành chồng, sinh con đẻ cái. Lành như sắn như khoai. Đời tư phẳng lặng vậy, chả bù công việc trường sở của thầy mới thật long đong.

    Trận bom năm sáu bảy, trường chỉ dính một quả mà hầu như toàn bộ phần mái bay sạch. Thầy cơm nắm tìm đường vào xứ Thanh liên hệ mua nứa. Qua địa phận Đồng Dao thầy rơi ngay vào thời điểm lũ “Thần sấm”, “Con ma” đang bổ nhào. Suýt nữa thầy bị dính. Thật phúc đức! Lấy được nứa về thầy hướng dẫn bà con đan phên lợp mái. Thầy có bàn tay vàng. Viết bảng dạy học thì khỏi phải nói. Còn đan lát, lóng mốt lóng hai thoăn thoắt. Trận bom Mỹ năm đó tuy không hao tổn lớn sinh mạng của cải nhưng nó làm hỏng nhiều quãng đê bối gây tiềm ẩn nguy cơ thủy tặc về sau.

    Rồi hiểm họa khủng khiếp đã thật sự giáng xuống mảnh đất này. Năm ấy tuy những quãng đê xung yếu đã được kè lại, những hố bom được san phẳng, gia cố thêm trước cơn bão lũ nhưng cũng không cứu nổi tình thế. Ngày ấy, nhân dân làng Ngũ Ngư đã có lệnh khẩn cấp sơ tán. Bám trụ lại với mặt đê là gần hai trăm thanh niên xung phong cứu nạn, trong đó có thầy. Mới chỉ bốn năm giờ chiều nhưng trời đang mờ tối dần trong mưa bão.

    Bỗng một tiếng “ầm” ghê rợn. Rồi tiếng nước tuôn trào như xối át hẳn một tiếng thét: “Đê vỡ!”. Gió gầm rít quăng quật nhà cửa cây cối. Dòng nước đục ngầu ùng ục tung bọt phá phách nhấn chìm cả làng Ngũ Ngư trong phút chốc. Bàn, ghế, bảng đen... rồi cả mái trường vặn vẹo chống đỡ cuối cùng cũng bị cuốn phăng theo dòng nước lẫn thóc lúa, gia súc... Ai chưa từng đứng trên mặt đê trong bão lũ chứng kiến dòng nước điên cuồng tàn phá thì chưa thấm thía nỗi đau buốt, xót xa vì bất lực trước cảnh thiên tai. Đám người trên đê bỗng nhiên nhốn nháo. Ai đó chỉ trỏ ra phía cống kênh.

    Từ trong đám đông có tiếng thất thanh: “Chết đuối!”. Mọi người dồn mắt về phía cống kênh sau bờ tre nhà ông Mai rìa làng. Một xác người bị cuốn nổi chìm theo dòng nước. Một chiếc áo mưa được giật phăng ra. Một sắc phục công an lao tùm xuống dòng nước bơi theo hướng con kênh. Được chừng mươi sải bỗng bàn tay đang bơi chới với giữa dòng nước. Xoáy! Dính dòng xoáy rồi! Mọi người lặng đi. Tiếng một cô gái kêu lên thảm thương: “Anh công an ơi!”. Từ trong đám đông thầy lao ra. Có người nắm chặt tay giữ thầy lại. Rồi lại có người ôm lấy ngang lưng làm thầy chới với ngã sấp xuống mặt đê.

    Ba hôm sau lũ rút, thầy chạy ngay ra khu trường. Quanh lớp học là những đống bùn đất, rác rưởi. Đứng giữa lớp học như đứng giữa mảnh ruộng ngấu bùn. Thầy ôm mặt nấc lên... Làng Ngũ Ngư sau cơn lũ mất đi hơn bốn mươi sinh mạng con người, trong đó có những học sinh thân yêu của thầy và anh công an huyện mà thầy chưa biết tên.

    Lại những ngày rong ruổi vào xứ Thanh, lần lên cả vùng Hòa Bình mua giấy dầu về làm bảng. Lại những ngày nhào bùn trộn đất đắp tường... Sức vóc trai trẻ là thế mà giờ trông thầy gầy xọm hẳn. Đầu tóc bắt đầu hói trông thấy. Nỗi đau và sương gió cuộc đời bắt đầu gấp nếp lên đôi khóe mắt. Mới ngoài ba mươi nhưng khuôn mặt thầy không còn tươi tắn thanh xuân nữa. Thầy trở thành một hiệu trưởng nghiêm nghị trước tuổi.

    Thời gian trôi qua. Chiến tranh cũng trôi qua. Cuộc sống gian lao cũng dần vào dĩ vãng. Năm 1985 trường được kiên cố hóa. Năm 1994 thầy được nghỉ chế độ. Duyên phận với trường đã ngỡ được chia tay.

    + + +

    Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của xã Bảo Thắng năm 2003 - 2004 là xây dựng ngôi trường chuẩn quốc gia. Sau khi bàn đi tính lại, đảng ủy và ủy ban xã thống nhất cử thầy Vũ Thủy, hội trưởng hội phụ huynh học sinh xã, trực tiếp giám sát thi công chính ở công trường. Lúc đầu thầy dứt khoát từ chối.

    Công xá một vài tạ thóc tính làm gì. Một năm mưa nắng, tội vạ thân già. Nhưng không khí sôi nổi chuẩn bị cho công việc của các ban ngành trong xã từ mấy tuần nay sao cứ khiến thầy náo nức. Thêm sự hồ hởi của bà con phụ huynh khi nhỏ to với thầy về qui mô hiện đại của trường chuẩn, đồng thời cả bí thư và chủ tịch cùng trao đổi động viên thầy nhận nhiệm vụ. Thôi, cũng đành... Âu cũng là duyên nợ với ngôi trường.

    Hè 2003, trời mưa tầm tã ngay sau lễ khởi công khiến công đoạn thi công chân móng thật vất vả. Bơm nước, vét bùn, đóng cọc tre. Không một tấc chân móng công trình nào là không có sự giám sát kiên quyết của thầy để công việc được tiến hành đúng qui cách và đảm bảo chất lượng. Thầy bắt loại từng chiếc cọc tre khô, ngắn, không đúng chủng loại theo hợp đồng.

    Đống cọc tre bị loại cũng phải đến hàng chuyến xe tải khiến kỹ sư Thịnh, phụ trách thi công đại diện bên B, lặng lẽ buông tiếng thở dài. Thịnh là người thành phố sáng đi tối về. Cũng có khi ngủ lại qua đêm trong cái lán tạm ngay công trường. Dù khởi đầu có bị khó khăn nhưng cả hai bên A và B đều quyết tâm thực hiện kế hoạch đúng tiến độ. Rằm tháng bảy sẽ đổ hàng cột cái đầu tiên.

    Đêm mười bốn trời đùng đục đầy mây. Đứng trong nhà nhìn ra có cảm giác như một đêm không trăng. Thịnh dựng xe máy giữa sân, bước lên thềm thầy mới nhận:


    - À, chú Thịnh!

    Thịnh đưa cả hai tay lễ phép bắt tay thầy.

    - Thưa thầy! Em đến thăm thầy cô cho biết nhà.

    Thầy vui vẻ:

    - Cám ơn chú, mời chú vào nhà chơi.

    Đợi thầy pha trà xong, Thịnh nhẹ nhàng hỏi thăm:

    - Thưa thầy! Cô và gia đình ta đi đâu cả rồi ạ?

    - À, nhà tôi đưa cháu sang bên ngoại góp giỗ ngày rằm. Kìa, chú xơi nước cho nóng.

    - Vâng ạ, em xin thầy. Trà của thầy thật thơm!

    Chén trà đã đưa Thịnh vào câu chuyện. Thịnh nói tiếp:

    - Thưa thầy, cái hôm đóng cọc mưa gió ấy, không có thầy nhanh tay cắt cầu dao điện thì tội để xảy ra tai nạn chết người chúng em gánh đủ. Nhân tiện vào thăm thầy cô, mai là ngày rằm tháng bảy chúng em có chút quà để tỏ lòng biết ơn.

    Thịnh rút chiếc phong bì trên túi áo ngực trịnh trọng đặt trên bàn trước mặt thầy. Thầy thoáng vẻ ngạc nhiên, lắc đầu đẩy chiếc phong bì về phía Thịnh:

    - Cám ơn chú. Việc tôi phải làm có gì mà ơn với huệ.

    Thịnh nhanh nhẩu linh hoạt:

    - Ấy, thưa thầy, đây vừa là tấm lòng của chúng em vừa có chút gọi là lộc công ty nhận thầu công trình. Thầy nhận cho chúng em còn gặp được may mắn chứ ạ!

    Phong bì, ít nhiều phong bì đều có chút tình. Thật khó giấu vẻ đắn đo. Xưa kia thầy cũng đã cầm trên tay phong bì của các lớp học sinh thay cho cuốn sổ, cây bút hoặc bó hoa nhân ngày nhà giáo. Các em thật vui. Thầy cũng thật vui. Còn đây, lần đầu tiên thầy tiếp xúc loại phong bì đặc biệt có bề dày hứa hẹn phong phú này. Một cảm giác, một ý nghĩ mới xuất hiện khiến thầy bối rối. Phân tâm thế nào mà chế xong nước vào ấm trà, thầy đặt lại chiếc phích đúng ngay vào miệng xô nhựa làm nước thải tràn cả ra nền nhà.

    Thịnh liền lấy lý do phải chuẩn bị cho công việc ngày mai, vội xin phép ra về. “Điểm dừng” của Thịnh thật đúng lúc khiến thầy không kịp đưa ra được quyết định dứt khoát nào. Chiếc phong bì vẫn nằm đó trên bàn. Thịnh về lâu rồi, thầy vẫn ngồi đó bần thần. Phải lúc lâu thầy mới mở phong bì ra xem. Toàn tờ trăm ngàn đồng mới toanh! Thầy run run miết cẩn thận từng tờ. Những năm triệu. Cả đời đắm đuối trong làng giáo giới vùng quê mùa đồng bãi này bỗng dưng một lúc được những ngần ấy tiền. Thật không ngờ. Thầy càng run hơn khi cất số tiền vào lại phong bì. Vội vàng, thầy lục túi quần tìm chìa khóa tủ.

    + + +

    Cái ngày rằm tháng bảy trong kế hoạch đã tới.

    Mới hơn bảy giờ sáng công trường xây dựng đã kinh động hơn mọi ngày. Người đi lại khiêng vác tất bật. Máy trộn bêtông quay ầm ầm. Xẻng xúc vữa hối hả xoàn xoạt. Tiếng gọi ơi ới. Toáng lên những khẩu lệnh lẫn văng tục. Thầy có vẻ lầm lũi ít nói hẳn. Thầy đi kiểm tra lại một lượt từng khung thép cột cái trong hộp cốppha chuẩn bị đổ bêtông. Phát hiện cứ mỗi cột có hai thanh sắt đối diện chỉ mới tạm buộc gá, thầy hiểu ra ngay nguyên do.

    Những thanh sắt lỏng lẻo thế kia sẽ bị di chuyển biến báo thế nào nếu như thầy làm ngơ, hoặc khi đổ bêtông thầy không trực tiếp có mặt? Chắc chắn vật liệu sẽ bị thất thoát. Thầy hiểu chứ. Thầy rõ từng đường đi nước bước của nó là thế nào chứ. Thầy chững lại. Trông đôi mắt thầy hôm nay mệt mỏi lờ đờ như vầng trăng quầng đêm qua.

    Thịnh ở đâu xuất hiện trước mặt thầy, nói vội như cố át đi những âm thanh chói chang của công trường:

    - Thưa thầy, em đã điều về được cả hai máy trộn bêtông. Một để dự phòng. Máy dùi đầm vận hành tốt. Em đã bố trí người chịu trách nhiệm từng công đoạn. Công việc thế là ổn. Em mời thầy ra kia làm chén nước cho đỡ mệt đỡ ồn.

    Vừa nói Thịnh vừa kéo tay thầy đi. Thầy miễn cưỡng nghe rồi cũng miễn cưỡng bước theo.

    Mới hơn bốn giờ chiều thầy đã về, bà giáo hỏi:

    - Sao hôm nay ông về sớm thế?

    Thầy trả lời gọn lỏn buồn tênh:

    - Xong rồi!

    Bữa cơm tối chả nghĩ gì đến ăn, thầy thừ ra rồi buông đũa. Bà giáo hiểu trong tâm thầy đang có chuyện không yên. Thầy đi nằm sớm. Phòng khách chỉ còn lại đứa cháu gái lên bốn ngồi trên chiếc xalông nan xem tivi một mình. Tiếng bà giáo từ dưới bếp vọng lên:

    - Cho nhỏ tiếng để ông nằm.

    Một lát có tiếng đứa cháu kêu lên:

    - Ông ơi bão lụt này, sợ quá! Ông dậy đi!

    Vẻ lo sợ của đứa bé qua tiếng gọi làm thầy nhỏm ngay dậy bước nhanh ra ngồi sát vào cháu. Đứa bé liền nép hẳn vào ông nội. Trên màn hình là một cơn bão lớn kèm theo mưa lũ đang hoành hành ở tỉnh Chiết Giang bên Trung Quốc. Gió rít gào. Cây cối nhà cửa vật vã trong cơn mưa mù mịt nước lũ tung bọt ầm ầm. Một dãy nhà đổ ụp bên kia đường quốc lộ. Những bóng người lảo đảo... Trời ơi, sao cứ như Ngũ Ngư năm ấy vậy! Thầy ôm choàng lấy đứa cháu khiến nó ngẩng lên ngạc nhiên nhìn mặt ông nội:

    - Ông cũng sợ à? Sao ông run thế? Bà ơi, ông cũng sợ bão lụt này.

    Bà giáo từ bếp lên lặng lẽ ngồi bên cạnh sờ lên trán ông:

    - Đầu ông ấm rồi đấy. Thôi ông đi nằm cho đỡ mệt, để tôi lấy dầu xoa cho ông.

    Xem xong cảnh bão lũ thầy nằm xuống giường tâm trạng cứ mơ mơ hồ hồ. Cái đầu luôn váng vất. Những hình ảnh dữ dội cứ lởn vởn ngay trước mặt. Đêm đã khuya mà thầy không tài nào chợp mắt. Tiếng gió, tiếng động vu vơ khe khẽ cũng làm thầy giật mình lo lắng. Một cảm giác bồng bềnh như bị cuốn trôi theo dòng lũ quét cuồn cuộn lạnh buốt tràn qua làng Ngũ Ngư năm nào khiến thầy rùng mình kéo vội chiếc chăn tận dưới chân giường đắp lên người. Gió như vẫn rít gầm đâu đây. Thầy lại ôm đầu xoay trở co duỗi không yên. Bỗng thầy bật dậy: “Không! Không thể thế! Đây là trường chuẩn...”. Nghe tiếng thầy, bà giáo bật điện hốt hoảng bổ sang:

    - Gì thế ông? Ông làm sao?

    Bà thốc màn lên, thầy đang ngồi thừ giữa giường, màn chiếu xô xốc xộc xệch. Thầy vội lắc đầu:

    - Không sao đâu. Bà cứ ngủ đi!

    Gần sáng thầy mới chợp mắt, mệt mỏi như vừa trải qua một trận bão lũ.

    Sáng thầy ra công trường sớm, gọi Thịnh vào trong lán trao lại chiếc phong bì. Thịnh ngạc nhiên:

    - Thế này là thế nào ạ?

    - Chú cầm lấy! Sai thì phải sửa. Chú cho dỡ ngay những cột bêtông mới đổ hôm qua buộc lại cốt thép cho đủ số lượng cho đúng qui cách. Sau khi tôi kiểm tra xong mới được đổ.

    - Kìa thầy! Nhưng...

    - Thôi! Chú làm lại đi. Đây là trường chuẩn quốc gia, chú hiểu không?

    Mặt Thịnh sa sầm. Biết không thể còn cơ hội nào trước con người được cả vùng này trọng nể, Thịnh đành ngậm đắng lựa lời:

    - Thế thì thầy cho chúng em chờ đến tối mới đập ra để còn...

    Thầy hiểu điều tế nhị trong lời đề nghị kia. Cũng còn phải giữ thể diện cho bên đối tác, thầy nhẹ nhàng:

    - Tối các chú đập ra cũng được. Sáng mai tôi kiểm tra xem cốt sắt bên trong như thế nào rồi mới được đổ nhé!

    + + +

    Lễ khánh thành ngôi trường chuẩn thật trang trọng. Thầy mặc bộ vét xám thắt chiếc càvạt đỏ đứng ở hàng ghế dành cho đại biểu. Vầng trán hói ngẩng cao trông càng rộng. Đôi mắt sáng niềm vui. Trông thầy vẫn thật kiêu hãnh như dáng đứng của ngôi trường chuẩn quốc gia trên mảnh đất Ngũ Ngư đồng bãi đầy gian lao này.

    Hơn một nghìn học sinh, thầy cô giáo và đại biểu các cấp trên sân trường chẳng ai biết được trong quá trình xây dựng có một công việc phát sinh bất ngờ vào cái đêm sau rằm tháng bảy ấy.

    Truyện ngắn của DƯƠNG VĂN TRUNG

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Ngôi trường chuẩn

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Ngôi trường chuẩn bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Ngoi truong chuan ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Ngôi trường chuẩn ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Truyện Ngắn của chuyên mục Thế Giới Giải Trí.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - THẾ GIỚI GIẢI TRÍ - TRUYỆN NGẮN