Gần 2 vạn Tiến sĩ và 1 sáng chế

Thứ tư, 22 Tháng hai 2006, 08:37 GMT+7
  • Công bố mới nhất của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cho biết, trong năm 2005, số đơn xin cấp bằng sáng chế của Việt Nam chỉ là 1, thấp hơn nhiều so với Thái Lan, Ma-lai-xi-a, những nước có số lượng nhân lực khoa học - công nghệ (KHCN) ít hơn ta vài lần. Câu hỏi được đặt ra là tại sao mỗi năm có hàng nghìn đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) nhưng số lượng sáng chế lại ít đến vậy?

     

    Bao nhiêu nghiên cứu khoa học được công bố mỗi năm?

    GS Nguyễn Xuân Hãn, ĐH Quốc gia Hà Nội phát biểu tại một hội thảo gần đây rằng, trong gần 9.000 tiến sĩ được điều tra, gần 70% giữ chức vụ quản lý và chỉ 30% thực sự làm chuyên môn... Nếu tỉ lệ này là thực thì trong gần 2 vạn tiến sĩ hiện nay, số người làm nghiên cứu chỉ khoảng 6.000. Như vậy, không khó hiểu để thấy rằng bằng cấp đang là thang bậc được nhiều người dùng làm điều kiện tiến thân chứ không hẳn là dành cho khoa học. Đây cũng là một phần nguyên nhân khiến nhiều công trình NCKH có chất lượng thấp, ít tiếp cận được trình độ khu vực và quốc tế.

     

    Theo Trung tâm Thông tin KHCN quốc gia, trong năm 2004, Việt Nam có 8.408 bài báo đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội nghị, hội thảo KHCN trong nước, tăng 9,6% so với năm 2003. Tuy nhiên, tỉ lệ tăng giữa các lĩnh vực không đồng đều. Trong khi số bài báo thuộc lĩnh vực y - dược có tỉ lệ tăng mạnh nhất là 41,5% thì hai lĩnh vực khác là khoa học tự nhiên và KHCN lại giảm lần lượt là 19% và 12,2%. Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn chiếm hơn một nửa số lượng những bài báo được đăng. Đáng ngạc nhiên nhất là lĩnh vực có ít bài báo nhất lại thuộc về khoa học tự nhiên, chỉ chiếm 8,4%. Điều này dẫn đến thống kê của Viện Thông tin khoa học quốc tế, vốn bao quát toàn bộ các bài báo khoa học của 178 nước trong giai đoạn 1981 - 2002, là  Việt Nam xếp thứ 82, với 3.962 bài báo, chiếm khoảng 0,02% tổng số bài báo của thế giới. Trong khi đó, vị trí của Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin lần lượt là 52, 54 và 66.

     

    Nếu như số lượng sáng chế thể hiện trình độ phát triển KHCN của quốc gia thì ngược lại,  ở nước ta nó lại là điểm yếu cố hữu. Năm 2004, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KHCN) nhận được 122 đơn đăng ký cấp sáng chế với đối tượng là người Việt Nam nhưng chỉ cấp được 22 văn bằng. Điều này phản ánh một thực tế là các hoạt động NCKH của ta thiếu yếu tố mới và sáng tạo, hoặc có thể do chủ sở hữu những sáng tạo không muốn làm thủ tục đăng ký bảo hộ.

     

    Trên mặt bằng chung, dù chưa có một thống kê chính thức nào nhưng theo nhận định của một số nhà khoa học đầu ngành, riêng lĩnh vực sáng chế kỹ thuật thì số có thể đưa vào áp dụng thực tiễn chỉ khoảng 10 - 30% tổng số sáng chế. Đó là chưa kể đến các nghiên cứu khoa học xã hội, thường kiến nghị nội dung chung chung là: cần tăng đầu tư, đổi mới cơ chế chính sách, giáo dục ý thức người dân và đẩy mạnh tuyên truyền...

     

    Số liệu trên phần nào cho thấy chất lượng của các công trình khoa học ở ta. Nó cũng minh chứng vì sao KHCN chưa thực sự trở thành động lực của sự phát triển đất nước trong những năm qua. Vậy đâu là nguyên nhân?

     

    Có phải do cơ chế?

    Lý giải vấn đề phần lớn các kết quả nghiên cứu, sáng chế của nhà khoa học bị “dội” thực tiễn, hầu hết nhà quản lý và nhà chuyên môn đều nhận định rằng, các đề tài khoa học còn có khoảng cách nhất định với cuộc sống. Khi đặt đề bài, nhà quản lý không lường hết những yếu tố có thể phát sinh. Người thực hiện vì nhiều lý do nên khảo sát thực tế chưa kỹ, thiếu sâu sát. Quá trình thử nghiệm diễn ra trong điều kiện lý tưởng, bỏ qua nhiều tình tiết đời thường nên nhiều sản phẩm tạo ra không có cơ hội “sống sót”. Không ít kết quả nghiên cứu tạo ra còn “tiến bộ” hơn đề bài nhưng lại không thể áp dụng trong sản xuất. Các thành viên hội đồng nghiệm thu hoàn toàn biết việc này nhưng không thể không nghiệm thu vì so với nhiệm vụ đặt ra thì nó đã “tròn vai”. Cái khó là ở điểm này!


     

    Số đơn xin cấp bằng sáng chế của một số nước Đông Nam Á trong năm 2005 : Xin-ga-po  438, Phi-líp-pin 34, Ma-lai-xi-a 33, Bru-nây 13, In-đô-nê-xi-a 12, Thái Lan 10.

    Nguồn: WIPO

    Bản thân người viết bài, trong khoảng 6 tháng, đã chứng kiến 3 buổi nghiệm thu 3 đề tài khoa học có nội dung chính là nghiên cứu về môi trường Hà Nội. Trong số đó, có 2 đề tài thông qua tuyển chọn công khai. Theo đúng quy trình, các kết quả này sẽ phải được chuyển giao cho một đơn vị nào đó để áp dụng. Nhưng với những gì được đề cập trong nội dung nghiên cứu, không đơn giản, dễ thuyết phục để các nhà quản lý môi trường và doanh nghiệp áp dụng... Điều này cho thấy việc đề xuất ý tưởng, thực hiện và áp dụng các kết quả NCKH vào thực tiễn ở ta vẫn là vấn đề nan giải và chưa có hồi kết.          

     

    Trong bối cảnh như vậy, ý kiến của TS Nguyễn Quốc Bình, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học TP Hồ Chí Minh đăng trên Tuổi trẻ số ra gần đây rất đáng lưu ý. Ông Bình cho rằng, việc quản lý ngân sách trong khoa học đối với các đề tài tuyển chọn cần có bước đột phá. ở các nước phát triển, để được nghiệm thu, chủ nhiệm đề tài không cần phải nói trước họ phải đạt được cái gì. Đơn giản là vì người ta không thể dự đoán trước rằng sẽ đạt được những kết quả cụ thể như thế nào. Thường, người ta hay đặt ra mục tiêu cao hơn cái có thể đạt được, nhằm phát huy tối đa khả năng nghiên cứu. ở ta, để bảo đảm cho việc nghiệm thu suôn sẻ, chủ nhiệm đề tài thường đưa ra những kết quả dự báo thấp hơn khả năng. Điều này vô hình trung đã giới hạn sáng tạo của nhà khoa học và gây lãng phí. Do vậy, cách quản lý kinh phí cho các đề tài khoa học của chúng ta đang tạo nguy cơ tự lừa dối mình bằng những kết quả chưa chắc đã thực sự đúng hay cần thiết. Nên chăng, cần quản lý theo kết quả được đặt ra trước chứ không theo kinh phí. Đã là khoán sản phẩm thì họ có quyền hưởng những sự chênh lệch khi làm tốt...

     

    Thời gian qua, Chính phủ, Bộ KHCN đã có nhiều văn bản quan trọng nhằm khai thông những khiếm khuyết trong quản lý ngành. Gần đây nhất là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm với các tổ chức KHCN. Nó được kỳ vọng sẽ làm “thay máu” công tác NCKH vốn tồn tại nhiều lỗ hổng hiện nay. Chỉ có điều, để có “khoán 10” ấy, chúng ta đã phải đi một chặng đường dài, đủ để tạo sức ì trong một bộ phận không nhỏ giới khoa học...

     

    HNM

    VietBao.vn
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Gần 2 vạn Tiến sĩ và 1 sáng chế

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Gần 2 vạn Tiến sĩ và 1 sáng chế bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Gan 2 van Tien si va 1 sang che ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Gần 2 vạn Tiến sĩ và 1 sáng chế ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Tổng Hợp của chuyên mục Công Nghệ.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - CÔNG NGHỆ - TIN TỔNG HỢP