Nội dung chủ yếu về nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2005

Thứ năm, 21 Tháng mười 2004, 09:43 GMT+7
  • Theo dự kiến, ngày 25-10 này, tại Hội trường Ba Ðình, Hà Nội sẽ khai mạc Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XI. Xin giới thiệu cùng bạn đọc Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội.

    II. Về định hướng phát triển kinh tế - xã hội năm 2005:

    1. Về vị trí, yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch  năm 2005

    Năm 2005 là năm cuối cùng thực hiện Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ IX và Nghị quyết số 55/2001/QH10 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005. Ðây là năm có vai trò quyết định trong việc hoàn thành các mục tiêu của kế hoạch 5 năm, là năm có nhiều ngày kỷ niệm lớn của đất nước và chuẩn bị cho Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ X.

    Căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005, trên cơ sở kết quả thực hiện 4 năm qua, năm 2005 sẽ tập trung thực hiện 5 nhóm mục tiêu sau đây:

    Một là, phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững. Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển đất nước; tạo bước chuyển biến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm và của nền kinh tế. Ðẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giảm chi phí sản xuất để nâng cao chất lượng tăng trưởng.

    Hai là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cam kết và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện mạnh mẽ các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu đi đôi với khai thác tốt thị trường trong nước.

    Ba là, đổi mới mạnh hơn nữa các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa,  nâng  cao  chất  lượng.

    Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học công nghệ; phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện tốt chính sách xóa đói, giảm nghèo, cải thiện mức sống của dân cư, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.

    Bốn là, tiếp tục đổi mới về tổ chức và nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tăng cường công tác cải cách thể chế kinh tế; đẩy mạnh cải cách hành chính, chống tham nhũng, lãng phí, phát huy dân chủ cơ sở, tăng cường đối thoại giữa chính quyền địa phương với cộng đồng người dân, giữa các doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước. 

    Năm là, tập trung cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh, triển khai mạnh mẽ tiến trình sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh. Vận hành thị trường tài chính và bất động sản để tạo năng lực phát triển mạnh trong nền kinh tế.

    Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh biên giới và khu vực biển đông hải đảo.

    Năm nhóm mục tiêu trên được cụ thể hóa 10 nhiệm vụ chủ yếu với các chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội chủ yếu sau đây:

    (1) Các chỉ tiêu kinh tế:

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 8 - 8,5% so với năm 2004;

    Giá trị tăng thêm (GDP) của ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3,4 - 3,8% (giá trị sản xuất tăng 4,9 - 5,2%);

    Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp và xây dựng tăng 10,5 - 11,0%, (giá trị sản xuất tăng 15,5 - 16%);

    Giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ tăng 7,7 - 8,2%;

    Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 14 - 16%;

    Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 295 - 300 nghìn tỷ đồng, tăng 17,5 - 19,5% so với năm 2004, bằng 36,5% GDP;

    Tổng thu ngân sách nhà nước 179,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,7%; tổng chi ngân sách nhà nước 226,45 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9% so với ước thực hiện năm 2004; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 5% GDP.

    Giá tiêu dùng tăng thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế (khoảng 7%);

    (2) Các chỉ tiêu xã hội:

    Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đạt 80%.

    Tuyển mới đại học, cao đẳng tăng trên 8%; trung học chuyên nghiệp tăng 15%; đào tạo nghề tăng 12%.

    Giảm tỷ lệ sinh bình quân trong năm 0,4%o; quy mô dân số 83,2 triệu người, tăng 1,42%.

    Tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động, trong đó xuất khẩu lao động 7 vạn người. Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống 5,5%.

    Số hộ được nghe Ðài Tiếng nói Việt Nam đạt 95%; số hộ được xem Truyền hình Việt Nam đạt 90%.

    Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 7%.

    Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 24%.

    Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản xuống 80/100.000 ca.

    Cung cấp nước sạch cho 62% dân số nông thôn.

    Trong quá trình chỉ đạo, điều hành, để đạt mục tiêu 5 năm 2001 - 2005 là tăng trưởng (GDP) 7,5%/năm, thì năm 2005 cần phấn đấu tăng trưởng kinh tế đạt 8,8%, trong đó, ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng khoảng 4,2%, công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 11,5%, dịch vụ khoảng 8,5%.

    2. Về định hướng phát triển ngành và lĩnh vực:

    (1). Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn: Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng tạo ra vùng sản xuất hàng hóa, tập trung, chuyên canh, thâm canh có năng suất, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Tiếp tục quy hoạch vùng nguyên liệu để cung cấp đủ nguyên liệu cho các nhà máy, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản, mở rộng liên kết trên địa bàn nông thôn.

    Tích cực tìm kiếm và xúc tiến thị trường nhằm cải thiện điều kiện tiêu thụ sản phẩm. Giảm chi phí để tăng hiệu quả sản xuất, hỗ trợ phát triển ngành nghề. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch nuôi trồng, khai thác thủy sản, thực hiện nuôi trồng thủy sản an toàn, chống dịch bệnh. Ðổi mới quản lý ngành lâm nghiệp, tiếp tục thực hiện việc giao đất, khoán rừng cho hộ gia đình và cộng đồng. Có chính sách để người dân ở các vùng rừng phòng hộ, rừng tự nhiên có điều kiện tăng thêm thu nhập cao hơn.

    (2). Phát triển công nghiệp: Tập trung phát triển những sản phẩm có thị trường, có khả năng cạnh tranh cao để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, tăng kim ngạch xuất khẩu, đi đôi với việc giảm các chi phí bất hợp lý trong giá thành. Phát triển nhanh các sản phẩm công nghiệp sử dụng công nghệ cao, công nghiệp phục vụ nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến. Tổ chức tốt hệ thống kinh doanh một số sản phẩm thiết yếu. Từng bước hình thành và hoàn thiện cơ chế hợp đồng dài hạn giữa các doanh nghiệp chế biến công nghiệp với người sản xuất các cây nguyên liệu. Phát triển đồng bộ hệ thống dịch vụ tài chính, tín dụng, bảo hiểm, cơ sở hạ tầng cho phát triển công nghiệp. Thu hút đầu tư các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao hiện có.

    (3). Phát triển các ngành dịch vụ: Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có tiềm năng để phát huy ưu thế và khả năng cạnh tranh như du lịch, hàng không, vận tải biển, tài chính, ngân hàng. Nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ. Ðảm bảo quan hệ cung - cầu các hàng hóa thiết yếu. Phát triển thị trường trong nước theo hướng đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng của sản xuất và tiêu dùng. Hỗ trợ phát triển xuất khẩu. Nâng cao hiệu quả của dịch vụ ngân hàng. Mở rộng thị trường bảo hiểm. Tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, phấn đấu giảm phí nhằm giảm giá cước, tăng cường năng lực cạnh tranh, hội nhập quốc tế. Phát triển mạnh dịch vụ bưu chính-viễn thông theo hướng hiện đại hóa toàn ngành. Tiếp tục tập trung phát triển ngành du lịch, tăng cường thu hút khách từ thị trường  trong khu vực, Tây Âu, Bắc Mỹ; Ðông - Bắc Á; đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức quảng bá, tuyên truyền về du lịch Việt Nam. Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2005 tăng trên 14%.

    (4). Ðẩy mạnh xuất khẩu, thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế: Duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tập trung điều hành để tăng tối đa kim ngạch các nhóm hàng xuất khẩu mũi nhọn là thủy sản, dệt may, giày dép, dầu thô và các sản phẩm gỗ. Phát triển các mặt hàng mới có nhiều khả năng cạnh tranh và các mặt hàng có cơ hội tăng sản lượng và thị phần như sản phẩm chế biến, công nghiệp đóng tàu biển... Ðẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa chế biến sâu và có hàm lượng kỹ thuật cao. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý xuất nhập khẩu ổn định và phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Ðẩy mạnh xúc tiến thương mại, chú trọng phát triển các thị trường truyền thống, thị trường có tiềm năng lớn, đồng thời mở rộng thị trường mới.

    (5). Giáo dục và đào tạo: Phát triển quy mô giáo dục phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, củng cố kết quả thực hiện xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, đẩy mạnh phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng số tỉnh được công nhận đạt chuẩn lên 30 tỉnh. Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy ở tất cả các bậc học. Tiếp tục thực hiện chương trình về phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở các địa bàn khó khăn, đổi mới chương trình, sách giáo khoa, xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục.

    (6) Khoa học và công nghệ: Tập trung hỗ trợ việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các ngành sản xuất và dịch vụ nhằm nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Ðẩy mạnh các hoạt động tư vấn, dịch vụ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Ðẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ cao; sắp xếp các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp.

    (7) Tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững: Ðẩy nhanh tiến độ đo vẽ bản đồ địa chính cơ sở phục vụ cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong năm 2005. Tiếp tục đo vẽ bản đồ địa hình để phục vụ cho công tác quy hoạch đô thị. Ðảm bảo các điều kiện cần thiết để công tác phân giới, cắm mốc biên giới Việt - Trung thực hiện theo đúng tiến độ. Xây dựng và bổ sung một số cơ chế, chính sách về quản lý, khai thác, chế biến và sử dụng tài nguyên khoáng sản. Tập trung xử lý triệt để 52 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

    (8) Giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo: Hoàn thiện chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành nghề sử dụng nhiều lao động. Có giải pháp thiết thực giải quyết việc làm cho nông dân mất đất do đô thị hóa, khu công nghiệp và khu chế xuất. Tiếp tục phát triển mô hình thanh niên tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi. Phát triển các câu lạc bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư giúp nhà nông làm kinh tế giỏi. Phát triển thị trường lao động xuất khẩu. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo nhằm giảm tỷ lệ hộ đói nghèo đến cuối năm 2005 xuống dưới 7%.

    (9) Văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục, thể thao: Tăng cường quản lý nhà nước đối với các dịch vụ văn hóa, thông tin, báo chí... Thực hiện tốt công tác văn hóa, thông tin ở vùng đồng bào thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Nâng cao chất lượng, thời lượng các chương trình phát thanh. Tiếp tục đa dạng hóa hình thức cung cấp thông tin, phù hợp với từng loại đối tượng sử dụng tin. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, hoàn thiện cơ chế khoán thu- chi trong lĩnh vực thông tin, báo chí. Ðẩy mạnh công tác bảo tồn, thừa kế và phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt nhịp với sự phát triển của thời đại. Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế chính sách đối với đội ngũ vận động viên, huấn luyện viên. Ðẩy mạnh giáo dục đạo đức, phong cách thể thao đẹp; tăng cường chống tiêu cực trong thể thao.

    (10) Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: Hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở. Phấn đấu cuối năm 2005 có 30% số xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Nhân rộng các mô hình xã hội hóa chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng. Bảo đảm trên 40% nhu cầu thuốc được cung ứng cho chăm sóc sức khỏe từ nguồn sản xuất trong nước. Thực hiện thí điểm để mở rộng bảo hiểm y tế bắt buộc đối với số lao động khu vực doanh nghiệp tư nhân và phát triển các hình thức bảo hiểm y tế tự nguyện. Ðiều chỉnh chính sách viện phí đi đôi với thực hiện chính sách trợ cấp cho người nghèo. Nâng cao chất lượng phục vụ của các cơ sở y tế, đặc biệt là các cơ sở y tế nhà nước.

    (11) Công tác dân số, gia đình, trẻ em và an sinh xã hội:  Kết hợp công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình với bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em và phong trào xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng và văn minh. Năm 2005, phấn đấu tăng thêm 2% trẻ em đi học đúng độ tuổi ở các cấp học phổ thông; tăng 5% số trẻ em ở lứa tuổi 3-5 được đi nhà trẻ, mẫu giáo; giảm tỷ lệ tử vong trẻ em dưới một tuổi và dưới 5 tuổi, giảm 20% trẻ em lang thang kiếm sống. Ðẩy mạnh phong trào xây dựng Quỹ Ðền ơn, đáp nghĩa. Chú trọng các chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình, có chính sách công bằng trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản.

    (12) Ổn định và nâng cao đời sống dân tộc ít người: Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135). Bảo đảm về cơ bản các xã có đủ các công trình thiết yếu. Phát triển cơ sở hạ tầng, các trung tâm cụm xã, quy hoạch bố trí lại cụm dân cư, đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp. Từng bước thu hẹp khoảng cách về đời sống vật chất và tinh thần giữa các nhóm dân tộc. Thực hiện tốt công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất, nâng cao đời sống của các đồng bào dân tộc ít người phù hợp với tập quán của từng dân tộc. Bảo đảm thực hiện tốt chính sách đất đai cho đồng bào Khmer, đồng bào các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên. 

    (13) Công tác phòng chống tệ nạn xã hội: Phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng trong thực hiện chương trình hành động phòng chống ma túy, mại dâm. Ðẩy mạnh công tác xây dựng xã, phường trong sạch, vững mạnh, không có tệ nạn xã hội gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư".

    (14) Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội: Tăng cường công tác quản lý biên giới, trên đất liền và trên biển; cụ thể hóa đề án phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng kinh tế - quốc phòng, các địa bàn trọng điểm góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và định canh định cư phát triển kinh tế tại vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống tư pháp.

    (15) Ðịnh hướng phát triển kinh tế - xã hội các vùng

    Triển khai thực hiện các Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển các vùng kinh tế, chú trọng đầu tư phát triển các vùng nghèo; vùng miền núi, Trung du Bắc Bộ, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền trung, vùng Tây Nguyên. Tiếp tục đẩy nhanh tốc độ phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành và các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm, giữa các vùng kinh tế trọng điểm với các vùng khác để phát huy hiệu quả đầu tư, tạo điều kiện cho các vùng kinh tế trọng điểm có sự tăng trưởng nhanh, làm đầu tàu lôi kéo các vùng khác phát triển.

    Tiếp tục phát triển hợp lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và cụm công nghiệp, tạo động lực cho quá trình phát triển các vùng kinh tế trọng điểm. Phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ cao và công nghệ sinh học. Ðẩy mạnh phát triển các dịch vụ chất lượng cao. Hiện đại hóa mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, hoàn thành và đưa vào sử dụng các tuyến trục chính; nâng cấp hệ thống cảng biển; cải tạo và phát triển hệ thống đường sắt.

    3. Về một số cơ chế, chính sách chủ yếu để thực hiện các mục tiêu kế hoạch năm 2005:

    Các giải pháp, cơ chế, chính sách năm 2005 tiếp tục kế thừa những cơ chế, chính sách kinh tế đang phát huy hiệu quả trong năm 2004. Mục tiêu của các cơ chế, chính sách trong năm 2005 là cải thiện rõ rệt môi trường sản xuất kinh doanh, thu hút nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế, từng bước nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Sau đây là một số giải pháp định hướng về các cơ chế, chính sách: 

    (1). Cải thiện mạnh mẽ hơn môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thúc đẩy các đơn vị kinh tế nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh.

    - Nghiên cứu sửa đổi, ban hành các văn bản để tạo điều kiện thông thoáng cho các tổ chức, cá nhân thực sự bình đẳng trong quá trình tiếp cận với các yếu tố phục vụ cho sản xuất kinh doanh như đất đai, vốn, lao động, khoa học công nghệ...

    Sớm hình thành khung pháp lý chung về điều kiện và chi phí trong đầu tư và kinh doanh cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Soạn thảo để ban hành  Luật Ðầu tư, Luật doanh nghiệp chung (bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài).

    Về tài chính: Tiếp tục tập trung thực hiện tốt 3 luật thuế mới (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt) và những nội dung sửa đổi, bổ sung của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; tăng cường các biện pháp quản lý thu ngân sách, chống thất thu thuế. Nghiên cứu xây dựng luật thuế tài sản, luật thuế thu nhập cá nhân. Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc kê khai nộp thuế. Sửa đổi, bổ sung những cơ chế chính sách về thu, quản lý và sử dụng nguồn thu khu vực sự nghiệp có thu.

    Thực hiện nhất quán lộ trình cắt giảm thuế quan theo hiệp định AFTA và các cam kết quốc tế của Chính phủ; kiên quyết chỉ bảo hộ qua thuế đối với một số ít sản phẩm quan trọng.

    Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Luật Ngân sách (sửa đổi) và công khai ngân sách ở mọi cấp, coi đó là một trong những biện pháp quan trọng để đấu tranh với nạn tham nhũng và lãng phí. Xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách, gây thất thoát, lãng phí hoặc sử dụng kém hiệu quả ngân sách nhà nước.

    Nghiên cứu xây dựng kế hoạch chi tiêu ngân sách trung hạn 3 - 5 năm để chủ động trong chi ngân sách hàng năm và phù hợp với thực hiện các mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra.

    Tiếp tục hoàn thiện hệ thống định mức chi tiêu ngân sách; tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra trong cả nước về việc mua sắm, sử dụng ô-tô con, điện thoại di động, xây dựng trụ sở, tiếp khách, quà biếu, quà tặng... để phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

    Sửa đổi, bổ sung Nghị định 10/2002/NÐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu; đồng thời sớm sửa đổi, bổ sung chế độ thu một số phí, lệ phí. Tập trung chỉ đạo để từ năm 2005 áp dụng cơ chế giao quyền chủ động cho đơn vị sự nghiệp cả về nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức; tiếp tục mở rộng khoán chi hành chính và biên chế đối với cơ quan quản lý nhà nước.

    Hoàn thiện các tiêu chí và điều kiện hỗ trợ từ Trung ương cho địa phương, bảo đảm đúng mục tiêu và công bằng giữa các địa phương.

    Nghiên cứu chuyển phương thức lập dự toán chi tiêu ngân sách từ các tiêu chí đầu vào sang các chương trình, dự án và kết quả đầu ra, chuyển từ cơ chế chi tiêu ngân sách cho các hoạt động sự nghiệp công sang cơ chế chi ngân sách hỗ trợ theo số lượng và chất lượng dịch vụ đầu ra.

    Quản lý chặt chẽ nguồn thu từ sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm khuyến khích sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để tăng nhanh nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng ở địa phương.

    Tăng cường quản lý nợ, nhất là nợ nước ngoài. Hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính, tiền tệ nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, kiểm soát các luồng vốn, các khoản vay nợ, trả nợ, mở rộng các hình thức công khai tài chính. Mở rộng hoạt động kiểm toán; khuyến khích hình thành và phát triển các công ty kiểm toán tư nhân và nước ngoài.

    Về tiền tệ: Thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng để kiểm soát giá cả trong tầm dự toán đồng thời hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tổng phương tiện thanh toán, nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay nền kinh tế đều tăng khoảng 23 - 24% so với năm 2004.

    Nâng cao hiệu quả sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ, nhất là các công cụ gián tiếp. Tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế tiếp cận được với tín dụng của nhà nước. Nâng cao vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực điều hành, quản lý tiền tệ, giám sát các hoạt động tín dụng.

    Thực hiện đúng tiến độ chương trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước. Hạch toán đúng, đủ theo chuẩn quốc tế các khoản nợ xấu, trích lập đầy đủ quỹ dự phòng rủi ro, giảm thấp tỷ lệ nợ quá hạn.

    Tiếp tục lành mạnh hóa các ngân hàng thương mại cổ phần. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại cổ phần hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, đào tạo nâng cao trình độ quản lý, tham gia vào thị trường tiền tệ thứ cấp, nghiệp vụ tái cấp vốn và hệ thống thanh toán của Ngân hàng Nhà nước.

    Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả và thực hiện các cam kết song phương và đa phương trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng.

    Chủ động bình ổn giá cả để tạo môi trường đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Tập trung sản xuất các sản phẩm có nhu cầu tiêu dùng lớn để cân bằng cung - cầu, áp dụng linh hoạt các chính sách thuế và chính sách tiền tệ; thực hiện các biện pháp hành chính - kinh tế đối với các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu trong các thời điểm cần thiết.


    Nghiên cứu, triển khai điều hành chính sách tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn để động viên các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu. Ðảm bảo cơ cấu dự trữ ngoại hối hợp lý; tiếp tục mua ngoại tệ để tăng quỹ dự trữ ngoại tệ. Sớm nâng cao khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam.

    - Ðẩy mạnh phát triển đồng bộ các loại thị trường, chuyển mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế thị trường.

    Tiếp tục tập trung thực hiện các cơ chế, chính sách nhằm hoàn thiện và mở rộng hoạt động của thị trường chứng khoán. Thực hiện cổ phần hóa và đưa vào niêm yết cổ phiếu, trái phiếu của một số doanh nghiệp nhà nước lớn. Khẩn trương hướng dẫn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cổ phần hóa và các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ðồng thời, xây dựng và phát triển thị trường giao dịch trái phiếu, trước mắt là trái phiếu Chính phủ. Sớm thành lập Công ty đầu tư tài chính của nhà nước, trước hết thí điểm thành lập công ty tài chính ở một số địa phương có nhiều doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa.

    Tăng tính cạnh tranh và lành mạnh hóa thị trường tài chính - tín dụng. Tiếp tục đổi mới và lành mạnh hệ thống tài chính, ngân hàng.

    Phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản. Khẩn trương xây dựng và ban hành Luật Kinh doanh bất động sản nhằm bảo đảm nhà nước quản lý và điều tiết được các hoạt động kinh doanh này. Nhanh chóng ban hành các văn bản xóa bao cấp về đất đai; đồng thời xây dựng các cơ chế, chính sách cụ thể về đất đai đối với các dự án thực hiện xã hội hóa.

    Phát triển mạnh thị trường lao động, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các chính sách về sử dụng lao động theo hướng mở rộng quyền cho các doanh nghiệp trong việc tuyển dụng lao động, đặc biệt là lao động nước ngoài. Ðẩy mạnh đào tạo nghề để nâng cao chất lượng lao động cung cấp cho các khu công nghiệp và cho xuất khẩu lao động. Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động và chấn chỉnh công tác xuất khẩu lao động.

    Tăng cường năng lực cho các trung tâm giới thiệu việc làm, trước hết là xây dựng thí điểm 3 trung tâm giới thiệu việc làm ở 3 miền (bắc, trung, nam) để cung ứng lao động cho các vùng kinh tế trọng điểm quốc gia.

    Phát triển thị trường khoa học công nghệ, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển.

    Xây dựng cơ chế, chính sách đặc biệt ưu đãi và khuyến khích đầu tư của mọi thành phần kinh tế trong nước và các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài cho nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ sản xuất kinh doanh, đặc biệt là chính sách phát triển công nghệ cao.

    Từng bước chuyển các tổ chức nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ sang tổ chức hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp.

    Xây dựng Ðề án đổi mới công nghệ trong các ngành kinh tế - xã hội nhằm nâng cao trình độ công nghệ của các ngành sản xuất và dịch vụ chủ yếu, tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ.

    (2). Tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế; nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thoát và lãng phí trong đầu tư.

    Tiếp tục tăng nhanh đầu tư phát triển trong toàn xã hội, phát huy nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, đồng thời tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng để nâng cao hiệu quả đầu tư, đặc biệt từ  nguồn vốn của Nhà nước:

    - Tiếp tục rà soát, cập nhật và nâng cao chất lượng quy hoạch phát triển

    Tổ chức rà soát, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh các quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, vùng kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố; quy hoạch phát triển một số ngành quan trọng, một số sản phẩm chủ yếu, đặc biệt là các sản phẩm đang có tốc độ tăng trưởng nhanh, có thị trường tiêu thụ để hỗ trợ phát triển. Thực hiện công khai, minh bạch, thu hút rộng rãi ý kiến đóng góp, tranh thủ sự giám sát thực hiện của cộng đồng. Công bố rộng rãi các chiến lược và quy hoạch để các doanh nghiệp tự quyết định lựa chọn hình thức đầu tư, kinh doanh thích hợp. 

    - Ðẩy mạnh huy động vốn đầu tư của tất cả các thành phần kinh tế

    Sớm ban hành một số chính sách mới tạo môi trường thông thoáng để kinh tế tư nhân phát triển mạnh, không hạn chế về quy mô.

    Bãi bỏ các thủ tục, quy định không cần thiết và tạo nên sự liên kết giữa các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết các thủ tục, vướng mắc liên quan đến việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp (đăng ký kinh doanh, thủ tục khắc dấu và đăng ký sử dụng dấu; đăng ký mã thuế, thuê đất làm mặt bằng kinh doanh, điều kiện tiếp cận các nguồn vốn tín dụng).

    Có các biện pháp hành chính và tổ chức đủ mạnh để ngăn chặn sự phát triển trở lại của các loại giấy phép. Nghiên cứu thí điểm việc chuyển cấp chứng chỉ hành nghề từ cơ quan công quyền sang một số hội nghề nghiệp đủ năng lực.

    Ban hành quy chế phối hợp giữa ba cơ quan liên quan đến bước khởi sự gia nhập thị trường là cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan quản lý việc khắc dấu và cơ quan thuế. Phấn đấu đến cuối năm 2005 bằng mức thời gian tối đa dành cho việc đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. 

    Ðẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình được duyệt.

    Thực hiện tốt Luật Ðất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, đặc biệt tập trung làm tốt công tác quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất, đẩy mạnh giải phóng mặt bằng và xây dựng kết cấu hạ tầng dùng chung trong các khu công nghiệp, dịch vụ, chủ động đáp ứng mặt bằng đất đai cho các nhà đầu tư, khắc phục cơ bản tình trạng dự án chờ đất, giải quyết nhanh chóng, thuận lợi các thủ tục về giao đất, cho thuê đất và các giao dịch về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

    Xây dựng hệ thống cung cấp thông tin về doanh nghiệp cho ngân hàng, phục vụ nghiệp vụ cho vay của ngân hàng. Xây dựng thí điểm dịch vụ chuẩn đoán doanh nghiệp để hỗ trợ ngân hàng khi ra quyết định cho doanh nghiệp vay. 

    Tiếp tục huy động vốn cho đầu tư phát triển thông qua việc đẩy mạnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu đô thị. Tổng kết, rút kinh nghiệm và đẩy mạnh hoạt động thị trường chứng khoán ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

    Nghiên cứu sửa đổi Nghị định 77/CP ngày 18-6-1997 về Quy chế đầu tư theo hình thức BOT trong nước.

    Sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách tạo chuyển biến cơ bản trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhất là thu hút vốn từ các tập đoàn xuyên quốc gia. Mở rộng danh mục được đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực thương mại, tín dụng, bảo hiểm, viễn thông, quảng cáo, đào tạo nguồn nhân lực... phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Xây dựng chiến lược và danh mục quốc gia kêu gọi vốn FDI; xây dựng quy hoạch các khu công nghiệp.

    Tiếp tục cải tiến và công khai hóa các quy trình, thủ tục hành chính để đơn giản hóa thủ tục đầu tư. Rút ngắn thời gian thẩm định, cấp phép đầu tư.  

    Ðẩy nhanh lộ trình áp dụng cơ chế một giá và cắt giảm một số chi phí sản xuất nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và xóa bỏ phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

    Ðổi mới, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác vận động, xúc tiến đầu tư cả về nội dung và phương thức theo một chương trình chủ động, có hiệu quả phù hợp với từng địa bàn, loại hình doanh nghiệp.

    Xây dựng quy hoạch thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cho thời kỳ

    2006 - 2010. Bổ sung và sửa đổi các văn bản pháp quy liên quan đến quản lý và sử dụng ODA, trước hết là Nghị định 17/2001/NÐ-CP của Chính phủ. Hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ để tinh giản và hài hòa các quy trình và thủ tục ODA, thúc đẩy giải ngân ODA.

    - Nâng cao hiệu quả đầu tư, chống lãng phí, thất thoát vốn từ ngân sách nhà nước.

    Nâng cao trách nhiệm của người ra quyết định và thẩm định các dự án đầu tư; chỉ ra quyết định đầu tư khi xác định rõ nguồn vốn và trong phạm vi nguồn vốn được phân cấp, tránh việc phê duyệt vốn đầu tư dự án vượt quá khả năng cân đối vốn. Phải cân nhắc thận trọng khi quyết định một dự án đầu tư về các mặt mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư và lựa chọn công nghệ, thời gian và địa điểm đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả của một dự án đầu tư, tránh sai sót từ chủ trương đầu tư (sai sót này sẽ gây lãng phí rất lớn).

    Rà soát lại chủ trương đầu tư và hiệu quả đầu tư đối với những dự án lớn đang có nhiều ý kiến khác nhau và kịp thời xác định hướng xử lý.

    Kiên quyết không bố trí vốn đầu tư cho các dự án không chấp hành đầy đủ các thủ tục về đầu tư xây dựng theo quy định. Không bố trí vốn cho các dự án nhóm B, C kéo dài quá thời gian đầu tư được quy định (nhóm B từ khởi công đến hoàn thành không quá 4 năm, nhóm C không quá 2 năm).

    Ðẩy mạnh công tác hướng dẫn, kiểm tra giám sát và đánh giá đầu tư; các bộ, ngành, địa phương thực hiện giám sát ngay từ khâu bố trí vốn đầu tư, đảm bảo tuân thủ theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt, thực hiện giám sát trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư.

    Tách một số tổ chức giám sát và thi công trực thuộc cùng một cơ quan quản lý nắm giữ lượng vốn lớn của nhà nước (giao thông, thủy lợi, xây dựng dân dụng) để hình thành những tổ chức giám sát độc lập. Việc đánh giá thất thoát dựa trên cơ sở quy định hiện hành của Nhà nước.

    Quy định rõ trách nhiệm cá nhân, đơn vị liên quan đến chất lượng sản phẩm, công trình như chủ đầu tư, tổ chức tư vấn, đơn vị khảo sát, thiết kế và đơn vị thi công trong từng khâu công việc từ khảo sát, thiết kế, thi công, thực hiện các quy chế đấu thầu đến kiểm tra và giám sát công tác thi công công trình.

    Thực hiện công tác thanh tra kế hoạch và đầu tư, tiếp tục kiện toàn và hoàn thiện tổ chức thanh tra ở tất cả các tỉnh, thành phố, hoàn chỉnh quy chế tổ chức và hoạt động thanh tra kế hoạch và đầu tư; tiến hành tổ chức thanh tra, kiểm tra định kỳ việc thực hiện kế hoạch và đầu tư của các bộ, ngành, địa phương. Phối hợp với các nhà tài trợ thanh tra các dự án ODA. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước. Nâng cao vai trò các Bộ chủ quản và địa phương trong công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực đầu tư.

    (3). Ðẩy mạnh tiến trình sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

    -  Hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ để doanh nghiệp nhà nước nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Sửa đổi bổ sung cơ chế, chính sách về đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước như tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê, giải thể doanh nghiệp nhà nước.

    Nghiên cứu chuyển sang thực hiện bán doanh nghiệp nhà nước theo hình thức đấu giá, đấu thầu. Thực hiện cơ chế đấu thầu, đặt hàng sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích cho mọi đối tượng doanh nghiệp, không phân biệt sở hữu. Tiếp tục thực hiện đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện đề án theo đúng lộ trình đã đề ra.

    - Mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nước lớn cần cổ phần hóa, bao gồm cả một số Tổng công ty và doanh nghiệp lớn trong các ngành điện lực, luyện kim, cơ khí, hóa chất, phân bón, xi măng, xây dựng, vận tải đường bộ, đường sông, hàng không, hàng hải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm.

    Sửa đổi Nghị định 64/2002/NÐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần theo hướng việc mua bán cổ phiếu doanh nghiệp được thực hiện công khai trên thị trường, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ, nhất là hạn chế số lượng mua cổ phần, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài.

    Thực hiện tính toán, xác định giá trị tài sản doanh nghiệp nhà nước sẽ cổ phần hóa (gồm cả giá trị sử dụng đất) theo giá thị trường.

    Thực hiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp đối với Tổng công ty lớn.

    Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết công tác cổ phần hóa; rút kinh nghiệm, uốn nắn những lệch lạc, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện ngày càng tốt hơn. Thực hiện việc thay đổi nhân sự chủ chốt của doanh nghiệp nhà nước đối với những doanh nghiệp không chịu cổ phần hóa và công ty hóa, những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trên 2 năm. Các bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố nâng cao trách nhiệm quản lý các hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước.

    (4). Ðẩy mạnh xuất khẩu và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

    Hỗ trợ và hướng dẫn các doanh nghiệp tiếp tục triển khai các giải pháp mở rộng thị trường, đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu nhằm tăng nhanh khối lượng hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu, tăng tỷ trọng hàng xuất khẩu đã qua chế biến.

    Nhà nước có biện pháp hỗ trợ thông tin thị trường để sử dụng tối đa hạn ngạch xuất khẩu dệt may; hướng dẫn các doanh nghiệp vận dụng Chương trình CEPT/AFTA để chủ động trong việc xuất khẩu vào thị trường ASEAN, mở rộng thị trường xuất khẩu.

    Mở rộng khả năng thâm nhập vào các thị trường mới, thị trường truyền thống; đa dạng hóa các loại hình xuất khẩu gạo (xuất thương mại, xuất theo hợp đồng của Chính phủ, đổi hàng, xuất trả chậm).

    Quản lý chặt chẽ nhập khẩu đối với từng nhóm hàng để hạn chế nhập siêu. Khuyến khích các doanh nghiệp, nhà thầu sử dụng, mua sắm thiết bị trong nước; áp dụng các biện pháp tiết kiệm trong sử dụng nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu.

    Tiếp tục thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Mở rộng các quan hệ song phương và đa phương, tạo dựng và củng cố khuôn khổ pháp lý và tin cậy lẫn nhau cho sự phát triển và ổn định quan hệ hữu nghị và hợp tác lâu dài với các đối tác khác nhau, nhằm trọng tâm là nâng cao hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

    Năm 2005 phải có bước đi mạnh mẽ hơn, với quyết tâm cao về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Ði đôi với việc thực hiện cam kết về lộ trình tham gia khu vực mậu dịch tự do Ðông - Nam Á (AFTA) và phát triển các quan hệ kinh tế song phương, đẩy mạnh đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với phương án thích hợp để trở thành thành viên của tổ chức này trong thời gian sớm nhất.

    Sửa đổi, bổ sung hệ thống thể chế và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện thể chế, đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước và phù hợp với quy định chung của WTO; đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp có biện pháp cụ thể giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của từng sản phẩm, xây dựng thương hiệu... để hoạt động có hiệu quả khi dỡ bỏ hàng rào bảo hộ.

    (5). Một số giải pháp trong lĩnh vực xã hội

    Ðẩy mạnh xã hội hóa trong một số lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo. Huy động nhiều nguồn lực từ Nhà nước, cộng đồng và chính bản thân người nghèo, hạn chế bao cấp, chống tư tưởng ỷ lại của một số địa phương và người nghèo, tập trung có trọng tâm, trọng điểm vào vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao. Tăng cường các hình thức tạo việc làm, nhất là đối với khu vực nông thôn, chú trọng công tác xuất khẩu lao động. Chuyển dần hình thức xuất khẩu lao động phổ thông thu nhập thấp sang xuất khẩu lao động có chuyên môn kỹ thuật, thu nhập cao, tạo thêm nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế và xóa đói, giảm nghèo.

    Nghiên cứu mở rộng diện bảo hiểm y tế, có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển ngành y tế (như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách đất đai, thuế, các điều kiện pháp lý...)

    Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia trong lĩnh vực phát triển sự nghiệp phát thanh, truyền hình, thông tin đại chúng.

    Có các chính sách đầu tư cho các di tích lịch sử, văn hóa. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử. Sớm xóa bỏ bao cấp trong các hoạt động kinh doanh điện ảnh, biểu diễn nghệ thuật. 

    Hỗ trợ các địa phương có khó khăn đầu tư mở rộng các trung tâm cai nghiện để tăng nhanh số người được cai nghiện ma túy, tăng cường kiểm soát việc buôn bán ma túy qua biên giới, thực hiện các giải pháp hữu hiệu để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS. Tăng cường kiểm soát và hạn chế sự lây lan của các bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm.

    Ðẩy mạnh phát triển các trường ngoài công lập, xây dựng đề án chuyển một số cơ sở đào tạo công lập ra ngoài công lập, tiến đến xóa bỏ hệ bán công trong hệ thống giáo dục. Khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo cơ chế và điều kiện để các trường đại học và các trường dạy nghề chuyển mạnh sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Xây dựng cơ chế chính sách thu hút nguồn lực ngoài xã hội đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt từ các doanh nghiệp, các nhà đầu tư.

    Tiếp tục thực hiện các chính sách ưu đãi về cho vay đầu tư; tín dụng đầu tư, ưu đãi đầu tư về đất đai, thuế... để xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất các trường ngoài công lập. Tháo gỡ những bất cập trong chính sách hiện hành về giao đất xây dựng trường, về vay vốn tín dụng đầu tư phát triển (lãi suất, thời gian vay, chính sách thuế).

    Ðổi mới căn bản cơ chế kế hoạch hóa khoa học và công nghệ, thực hiện phương pháp kế hoạch hóa theo chương trình mục tiêu đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ tiến tới phương thức nhà nước chỉ xác định mục tiêu, chính sách và biện pháp thực hiện còn việc triển khai các nội dung và hoạt động cụ thể do các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp chịu trách nhiệm thực hiện.

    Ða dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững. Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ cán bộ chuyên môn cho các cơ quan làm nhiệm vụ điều tra cơ bản, bảo vệ môi trường và quản lý thực hiện chương trình phát triển bền vững.

    Mở rộng cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cung cấp dịch vụ về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, đào tạo, giải trí... Nhà nước chỉ tập trung quản lý về chuyên môn, chất lượng, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động theo định hướng chung và hỗ trợ cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho những đối tượng không thể tiếp cận với các dịch vụ công ngoài xã hội (chăm sóc sức khỏe cho người nghèo).

    Hạn chế và tiến tới chấm dứt sự tồn tại của dịch vụ thu tiền đồng thời với các dịch vụ công trong một đơn vị sự nghiệp. Thực hiện đấu thầu kinh doanh các dịch vụ công.

    Xây dựng phương pháp đánh giá chất lượng của các hoạt động xã hội. Tăng cường điều tra xã hội học để kịp thời nắm bắt đúng nhu cầu, nguyện vọng và những đánh giá của nhân dân về các vấn đề xã hội, trên cơ sở đó xây dựng các chính sách phù hợp và có tính khả thi cao trong cuộc sống.

    (6). Tiếp tục cải cách hành chính, đặc biệt đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng.

    Ðẩy mạnh việc phân cấp, phân công quản lý theo Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị. Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt theo chức năng đã được phân công. Nâng cao hơn tính hiệu quả của bộ máy hành chính, tính trách nhiệm và minh bạch của các cơ quan công quyền và pháp quyền. Bảo đảm cung cấp thường xuyên về cơ chế, chính sách, kế hoạch phát triển cho người dân, thông tin về dịch vụ, tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin dễ dàng và thuận lợi.

    Hiện đại hóa nền hành chính nhà nước, đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước.

    Tăng cường triển khai các biện pháp chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, cải tiến chế độ bao cấp phương tiện cho bộ máy nhà nước và cán bộ công chức, nhất là vấn đề xe công; bảo đảm tính minh bạch trong quản lý ngân sách; đẩy mạnh công tác kiểm toán trong các cơ quan hành chính sự nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước.

    Nâng cao đạo đức và ý thức chấp hành kỷ luật của cán bộ, công chức nhà nước. Xây dựng cơ chế để kiểm soát thu nhập, thực hiện triệt để việc kê khai tài sản và thu nhập cá nhân đối với cán bộ, công chức nhà nước, đặc biệt là người có chức, có quyền. Tăng cường công tác giáo dục, kiểm tra và xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất. Tập trung làm trong sạch các cơ quan bảo vệ pháp luật.

    Tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong việc thực hiện chế độ công vụ của cán bộ, công chức. Sớm ban hành một văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra công vụ. Ðẩy mạnh việc tổ chức kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của nhà nước, của cá nhân, tổ chức và cơ quan.

    Theo Nhân dân

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Chủ đề liên quan: Nội dung chủ yếu về nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2005

    Nhận xét tin Nội dung chủ yếu về nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2005

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Nội dung chủ yếu về nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2005 bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Noi dung chu yeu ve nhiem vu phat trien KT XH nam 2005 ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Nội dung chủ yếu về nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2005 ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Tức của chuyên mục Chính Trị.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - CHÍNH TRỊ - TIN TỨC