Bài 2: Hai điểm yếu cơ bản tạo nên nguy cơ lớn

Thứ năm, 25 Tháng năm 2006, 01:14 GMT+7
  • “Nền kinh tế nào muốn cất cánh cũng phải xuất phát từ mặt đất, nghĩa là từ chỗ thấp nhất nó đang đứng, nhưng con đường cất cánh thì hình như chỉ có một: Phát huy lợi thế so sánh mình đang có, rồi chuyển sang phát huy lợi thế cạnh tranh, từng bước cải thiện lợi thế ấy. Là nước đi sau, chúng ta lại càng phải tìm cách đi sáng tạo trên con đường này nếu không muốn thường trực quẩn quanh trong nghèo nàn lạc hậu”.

    > Bài 1: Cuộc chiến xóa bỏ “số kiếp” nước nghèo!

    Chúng ta mất 10 năm đầu trong nền kinh tế bao cấp nên không quan tâm đến lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh. Trong 20 năm đổi mới, chúng ta ý thức nhiều hơn đến lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh. Song phải nói chiến lược phát triển đất nước nói chung, chiến lược CNH-HĐH nói riêng trong những năm đổi mới còn nặng về định hướng xã hội chủ nghĩa với nội dung chưa xác định được thật rõ ràng – trên thực tế là mang nhiều nét bảo hộ, bao cấp và hướng nội - theo tinh thần quốc doanh là chủ đạo và hạn chế các thành phần khác.

    Bai 2 Hai diem yeu co ban tao nen nguy co lon
    Ông Nguyễn Trung

    Hàm lượng công nghệ thấp: tỷ suất lãi thấp!

    Khi nói đến phát huy lợi thế so sánh, trước hết có nghĩa là ưu tiên thu hút và phân bổ các nguồn lực đầu tư - kể cả FDI và các nguồn lực bên ngoài khác - vào việc phát huy các lợi thế đất nước sẵn có bên trong (như nguồn nhân lực, đất đai, thị trường, vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu, một số tài nguyên nhất định, sự ổn định chính trị…), đồng thời thực hiện các quyết sách cần thiết cho yêu cầu này.

    Hiện nay ở nước ta, lượng xuất khẩu tương đương trên 60% GDP, nhưng xuất khẩu chủ yếu nhờ tận dụng lợi thế so sánh, nói lên tiềm năng lợi thế so sánh của nước ta rất lớn. Thế nhưng các chính sách ban hành, các thể chế hiện hành, các chính sách thu hút FDI (còn nhiều dấu ấn bảo hộ và hướng nội).., và nhất là việc phân bổ các nguồn lực đầu tư lại không ưu tiên nhằm phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, phát triển các dịch vụ, cải tiến các thể chế, những ưu đãi khuyến khích khoa học và công nghệ… nhằm phục vụ cho yêu cầu phát huy lợi thế so sánh.

    Phải chăng vì những nguyên nhân nói trên tỷ lệ lãi giành được trong mỗi sản phẩm nhìn chung thấp? - chủ yếu do tiêu thụ nhiều lao động và nguyên liệu, nhưng hàm lượng công nghệ thấp. Phải chăng vì thế nền kinh tế nước ta chậm chuyển sang phát huy được lợi thế cạnh tranh – nghĩa là chưa thực hiện được bao nhiêu các liên kết, liên doanh với bên ngoài để làm ra các sản phẩm dưới dạng giữ nguyên thiết kế chế tạo gốc của chính hãng (original equipment manufacturing – OEM), tiến xa hơn nữa là làm ra các sản phẩm của liên kết, liên doanh nhưng tự mình thiết kế lấy (own design manufacturing – ODM). Và cuối cùng là tiến tới khai thác liên kết, liên doanh để làm ra các sản phẩm có thương hiệu riêng của mình (own brand manufacturing – OBM) như nhiều nước đã làm được.

    Thời luận 3

    Rõ ràng, để hội nhập giành thắng lợi, phải tự giác phát huy mạnh mẽ lợi thế so sánh của nước ta, và tích tụ mọi điều kiện để chuyển nhanh sang phát huy lợi thế cạnh tranh, cạnh tranh quyết liệt có khi đến mức mất còn.

    Lấy Trung Quốc làm ví dụ, chúng ta thấy Trung Quốc lúc đầu thu hút FDI để làm các sản phẩm lắp ráp, gia công theo thiết kế chế tạo gốc (OEM), sau đó thông qua liên kết, liên doanh chuyển sang sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ cao giữ nguyên thương hiệu gốc của các tập đoàn nước ngoài nhưng được sản xuất tại Trung Quốc (ODM); tiến lên một bước nữa gần đây Trung Quốc làm ra nhiều sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ cao nhờ các liên kết, liên doanh nhưng do TQ tự thiết kế và mang thương hiệu riêng của TQ (OBM). Ai cũng thấy ngày nay sản phẩm Trung Quốc thôn tính thị trường thế giới như thế nào – từ ô-tô, máy điện toán cao cấp..., đến đồ chơi trẻ con và… vân vân. Trên thế giới chỗ này chỗ khác tại các nước phát triển đã có những xí nghịêp hoặc thậm chí cả một thành phố nhỏ phải đóng cửa vì hàng rẻ của Trung Quốc…

    Xin lưu ý, quyết định chiến lược nào, thể chế nào, chính sách thu hút FDI nào, chính sách hợp tác như thế nào, thì tạo ra sản phẩm ấy, hiệu quả ấy. Không phải cứ duy ý chí và quyết tâm cao là giành được thắng lợi mong muốn. Ở nước ta, nếu không tìm cách sớm thoát khỏi tình trạng “nền kinh tế đắt”, nếu không có các chính sách và những thể chế thân thiện và khuyến khích thoả đáng FDI, nếu không phát huy tốt hơn nữa nguồn nhân lực và nâng cao khả năng quản lý đất nước, tất cả để phát huy tốt hơn nữa lợi thế so sánh và dần dần chuyển sang phát huy lợi thế cạnh tranh, tất yếu hội nhập kinh tế thế giới sẽ không đạt được mục đích. Điều này sẽ có nghĩa khoảng cách tụt hậu so với thế giới bên ngoài rộng mãi, khó mà nghĩ đến đuổi kịp ai.

    Sức cạnh tranh thấp: CNH-HĐH có nguy cơ thất bại!

    Điều nổi bật là nước ta tiếp tục công nghiệp hoá - hiện đại hoá vào lúc châu Á nói chung và Đông Á nói riêng trở thành khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, có nhiều thể chế song phương, đa phương đã đi vào hoạt động, nổi bật nhất hiện nay là xu thế hình thành các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) bên cạnh các Hiệp định Thương mại song phương (BTA), đã và đang hình thành các khung khổ hợp tác ASEAN + 1 (thêm Trung Quốc), ASEAN + 2 hay ASEAN + 3 (thêm Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật), và rộng hơn nữa là APEC.

    Vào một tương lai không xa nước ta cũng phải đi theo xu thế ký kết những FTA… Trong tình hình đó, ngoài sự cạnh tranh của các nền kinh tế năng động trong khu vực, sự xuất hiện của Trung Quốc với tính cách là công xưởng sản xuất của thế giới về nhiều loại sản phẩm - càng tác động mạnh mẽ vào quá trình CNH ở nước ta, đồng thời cũng tác động vào các thị trường trên thế giới mà sản phẩm của nước ta đi tới.

    Thời luận 4


    Quá trình CNH của nước ta hiển nhiên không thể đứng ngoài sự vận động của kinh tế khu vực, nhất là đứng trước thực tế cạnh tranh quyết liệt của sản phẩm Trung Quốc và các nước ASEAN 4 (Thái Lan, Indonesia, Philippines), cạnh tranh quyết liệt ngay trên thị trường nội địa của nước ta.

    Thực tế hiện nay là: Trừ một số nông phẩm, nguyên liệu và một số mặt hàng công nghiệp gia công (như may mặc, giày dép, một số rất ít mặt hàng công nghiệp khác…) nhìn chung lợi thế cạnh tranh của nước ta rất thấp. Không xử lý được vấn đề khả năng cạnh tranh thấp, quá trình CNH-HĐH của nước ta có nguy cơ thất bại – ví thử sản xuất chỉ để tiêu dùng trong nước thì sản phẩm của nước ta cũng không thể trụ được, trong khi đó việc mở cửa thị trường nước ta theo những thể chế của WTO và những thể chế song phương và đa phương khác ta đã ký kết là bắt buộc.

    Trong bối cảnh hội nhập như vậy, lại đứng giữa một khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, tiếp tục quá trình CNH-HĐH với mục đích là mang về lãi và những nguồn lực khác để phát triển kinh tế đất nước và hoàn thành sự nghiệp này vào năm 2020, trước hết có nghĩa là phải tìm cho ra những “kẽ lách” mới (niches) và xây dựng được chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh. Chúng ta đã ý thức được đòi hỏi khách quan mang tính sống còn này hay chưa? Đã tập trung mọi nỗ lực của chúng ta vào hướng cạnh tranh?

    Câu trả lời của chúng ta hình như mới chỉ là những lời kêu gọi hạ quyết tâm, song còn thiếu nhiều quyết sách và hành động đem lại hiệu quả mong muốn.

    Hãy liên kết – liên doanh với các tập đoàn mạnh nước ngoài!

    Ngày nay nước ta muốn tiếp tục công cuộc CNH-HĐH đất nước thì chỉ có một con đường là nâng cao khả năng mọi mặt của đất nước để phát huy lợi thế cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.

    Nhưng bằng cách nào?

    Trước hết cần xác định, dù là tìm ra được kẽ lách nào trên thị trường thế giới và trong nước ta, nhất thiết nó phải là kẽ lách cho những sản phẩm có nhiều hàm lượng công nghệ và có tỷ suất lãi cao. Chỉ có kẽ lách đáng mong muốn này mới có ý nghĩa đối với công cuộc CNH-HĐH của đất nước ta. Thấy sâu sắc được đòi hỏi này, mới có hướng đi tìm câu trả lời.

    Thời luận 5

    Nền kinh tế nước ta hiện nay đang yếu cả trên 2 phương diện : khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế; và chính sách thu hút FDI với yêu cầu tạo ra những liên kết, liên doanh khả dĩ giúp nền kinh tế nước ta rút ngắn các cung đoạn sản phẩm OEM-ODM-OBM.

    Đặc điểm nổi bật của sản phẩm công nghiệp nước ta dành cho xuất khẩu là gia công, phát huy lợi thế lao động rẻ và một số nguyên liệu nào đó sẵn có trong nước; sản phẩm may mặc chiếm tới khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu (trong đó trên 80% giá trị xuất khẩu là dành cho nhập nguyên liệu và máy móc), sản phẩm xuất khẩu các máy móc chỉ chiếm khoảng 8% tổng kim ngạch xuất khẩu (trong đó khoảng 50-70% giá trị xuất khẩu là dành cho nhập các linh kiện, máy móc và phụ tùng…). Trong hều hết mọi ngành sản xuất, công đoạn lắp ráp có giá trị gia tăng thấp nhất và hàm lượng công nghệ thấp nhất. Nếu không có sự chuyển dịch sang những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, toàn bộ quá trình CNH-HĐH không thể phát triển năng động. Việc mở thị trường mới và chiếm thêm nhiều thị phần cũng khó khăn. Toàn bộ quá trình này cắt nghĩa vì sao nền kinh tế nước ta có nguy cơ tụt hậu kéo dài.

    Các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách ở nước ta chắc hiểu rất rõ phải làm gì để khắc phục hai yếu kém nói trên để điều chỉnh chiến lược CNH-HĐH của đất nước cho phù hợp.

    Đã xuất hiện thực tế là một số doanh nghiệp công nghiệp nước ta (hầu hết là ngoài quốc doanh) không chờ đợi các quyết sách của Đảng và Nhà nước cho 2 vấn đề trọng đại này. Đứng trước tình hình tràn ngập hàng rẻ Trung Quốc ở mọi nơi, họ đã tự đề ra cho mình phương châm “sống chung với lũ để vượt lũ”. Họ tận dụng mọi chính sách và thể chế hiện có, tự tìm các đối tác liên kết liên doanh theo chiều sâu, huy động các nguồn lực để tự làm lấy khâu nghiên cứu - triển khai (R&D) và làm ra sản phẩm mới với thương hiệu riêng (OBM), cạnh tranh được ngay trên thị trường nước ta và xuất được vào thị trường Trung Quốc. Đấy là hàng may mặc cao cấp, đồ điện và điện tử dùng trong gia đình, trang bị nội thất, vật liêu xây dựng cao cấp, một số mặt hàng khác như ống nước nhựa cao cấp, dây dẫn điện, đồ uống… vân vân.

    Tuy còn khiêm tốn về chủng loại mặt hàng, về kim ngạch đạt được, song những nỗ lực “sống chung với lũ để vượt lũ” như vậy là những con chim én báo hiệu mùa xuân một phong cách kinh doanh mới với triển vọng mới. Đó là những gợi ý tốt và phong phú cho các nhà nghiên cứu và họach định chính sách ở nước ta.

    • Nguyễn Trung

    Bài 3: Điều cốt tử của cuộc chơi- biết người biết ta!

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Bài 2: Hai điểm yếu cơ bản tạo nên nguy cơ lớn

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Bài 2: Hai điểm yếu cơ bản tạo nên nguy cơ lớn bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Bai 2 Hai diem yeu co ban tao nen nguy co lon ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Bài 2: Hai điểm yếu cơ bản tạo nên nguy cơ lớn ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Tức của chuyên mục Chính Trị.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - CHÍNH TRỊ - TIN TỨC