Điều kiện chuyển hộ khẩu về thành phố

Thứ ba, 16 Tháng mười hai 2003, 05:32 GMT+7
  • Đầu tiên là phải thường xuyên sinh sống tại nơi muốn đăng ký hộ khẩu thường trú, người muốn được đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi mới đến phải có nhà ở hợp pháp. Điều kiện này bắt buộc đối với mọi địa bàn, không chỉ riêng đối với việc chuyển hộ khẩu về thành phố.

    Đăng ký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác định việc cư trú của công dân, bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững an ninh chính trị, an toàn xã hội. Do đó, để bảo đảm sự quản lý của Nhà nước, cũng như đảm bảo an ninh chính trị, an toàn xã hội, pháp luật quy định mỗi công dân chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú ở một nơi cư trú nhất định là nơi thường xuyên sinh sống.

    Trường hợp do điều kiện công tác hoặc sinh sống thường xuyên lưu động thì phải lấy nơi đóng trụ sở chính của cơ quan, đơn vị, bến gốc hoặc một nơi trước đó mà người đó cư trú để đăng ký hộ khẩu thường trú. Khi chuyển đến cư trú ở nơi mới phải thực hiện đầy đủ chế độ đăng ký, quản lý hộ khẩu lại theo quy định. Vì vậy, những người mà bản thân hiện đang sinh sống một nơi, lại có nguyện vọng nhập hộ khẩu về nơi khác (như nhập hộ khẩu theo cha, mẹ, vợ, chồng...) thì đều không được giải quyết.

    Điều kiện này không chỉ áp dụng trong việc chuyển hộ khẩu về thành phố mà áp dụng đối với mọi địa bàn.

    Không ở thành phố, muốn có hộ khẩu thành phố. Cần những điều kiện gì?

    Ngoài điều kiện đầu tiên là phải thường xuyên sinh sống tại nơi muốn đăng ký hộ khẩu thường trú, người muốn được đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi mới đến phải có nhà ở hợp pháp. Điều kiện này bắt buộc đối với mọi địa bàn, không chỉ riêng đối với việc chuyển hộ khẩu về thành phố. Tuy nhiên, khái niệm "nhà ở hợp pháp" để làm căn cứ đăng ký hộ khẩu không đồng nhất với khái niệm nhà ở hợp pháp thông thường mà có thể hiểu là nhà ở thuộc một trong các trường hợp sau:

    + Nhà thuộc sở hữu của người chuyển đến: Phải là nhà ở của bản thân người xin nhập hộ khẩu hoặc của một trong các thành viên của hộ gia đình đó, với đủ các yếu tố của quyền sở hữu là chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong trường hợp này phải xuất trình được giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà do cơ quan có thẩm quyền cấp. Trường hợp chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu thì phải có giấy thừa kế, cho, tặng, mua, bán nhà ở hoặc nhà tự làm. Các trường hợp này phải có chứng nhận của UBND xã, phường, thị trấn.

    + Nếu không có nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình thì nhà ở thuộc quyền sử dụng hợp pháp (là nhà ở không có quyền chiếm hữu, định đoạt) của bản thân người xin nhập hộ khẩu hoặc một trong các thành viên của hộ gia đình đó được phân phối hoặc hợp đồng để ở cũng có thể là căn cứ để đăng ký hộ khẩu. Trong trường hợp này, phải xuất trình đầy đủ giấy tờ hợp lệ như hợp đồng hoặc quyết định phân phối nhà...

    + Nhà được chủ hộ đồng ý cho ở nhà hợp pháp của mình. Tức là người chuyển đến không có nhà nhưng nếu được chủ hộ gia đình hoặc chủ nhà đồng ý cho ở nhờ thì cũng có thể được nhập hộ khẩu. Cần lưu ý, người đồng ý cho ở phải là chủ hộ (nếu người đó đã đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi đó) hoặc chủ nhà (nếu không có hộ khẩu thường trú tại nơi đó). Tuy nhiên, nhà này phải là nhà ở hợp pháp của chủ hộ, tức thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ hộ như đã nêu trên. Trong trường hợp này, phải xuất trình văn bản cam kết cho ở nhờ của chủ hộ (hoặc chủ nhà) và sổ hộ khẩu của chủ hộ hoặc giấy tờ nhà của chủ nhà.

    Các loại nhà này, dù có đủ giấy tờ nêu trên nhưng cũng không được giải quyết cho đăng ký hộ khẩu thường trú vào nhà đó nếu là nhà đang tranh chấp (có đơn khiếu nại, cơ quan có thẩm quyền đang giải quyết) hoặc nhà nằm trong vùng quy hoạch đã thông báo phải di chuyển (trừ trường hợp vợ, chồng, con, bố, mẹ đến ở với nhau).

    Những điều kiện khác

    Theo quy định tại Điều 12 Nghị định 51/CP ngày 10-5-1997 về đăng ký và quản lý hộ khẩu và Mục B Thông tư 06/TT- BNV ngày 20-6-1997 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định 51, ngoài điều kiện về cư trú và nhà ở hợp pháp, riêng những người đến đăng ký hộ khẩu thường trú ở thành phố, thị xã còn phải có thêm một trong các điều kiện sau:

    1. Là những người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều động, tuyển dụng vào làm việc ở địa bàn thành phố, bao gồm:

    + Công chức, viên chức được cấp có thẩm quyền điều động trong ngành hoặc khác ngành nhưng cùng nghề chuyên môn đến thay thế cho những công chức, viên chức được thuyên chuyển đi nơi khác, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, thôi việc hoặc được điều động đến công tác. Trong trường hợp này, cấp có thẩm quyền điều động, tuyển dụng phát là thủ trưởng bộ, ngành (nếu bộ, ngành ở Trung ương) hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nếu là cơ quan, tổ chức thuộc địa phương).

    + Công chức, viên chức được cơ quan tổ chức cử đi học, đi công tác, đi biệt phái ở nơi khác nay được cơ quan có thẩm quyền quyết định trở lại công tác nơi thường trú cũ. Trong trường hợp này thì ngoài quy định như trường hợp trên còn có thể do thủ trưởng cơ quan cũ trực tiếp điều động trở lại.


    + Học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng trung học và dạy nghề được cơ quan có thẩm quyền cấp bộ (đối với cơ quan, tổ chức thuộc Trung ương) hoặc UBND cấp tỉnh (đối với cơ quan, tổ chức thuộc tỉnh, thành phố) ra quyết định tuyển dụng trong chỉ tiêu biên chế.

    2. Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân đang công tác ổn định tại địa bàn thành phố thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được đăng ký hộ khẩu gia đình riêng: Về ở với bố, mẹ, chồng, con đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố; nữ công an, quân đội đã thành lập gia đình hoặc có con; đã công tác liên tục tại địa bàn thành phố từ 3 năm trở lên; nghỉ hưu.

    3. Ngoài hai trường hợp nêu trên thì những người thuộc một trong các trường hợp sau đây cũng được chuyển hộ khẩu đến ở với người có hộ khẩu thường trú thuộc thành phố;

    + Công chức, viên chức đang làm việc ở các tỉnh, thành phố giáp ranh; hằng ngày về ăn ở với bố, mẹ (nếu chưa có vợ, chồng), vợ chồng, con đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố;

    + Những người hết tuổi lao động (hết tuổi 60 đối với nam, hết tuổi 55 đối với nữ), nghỉ hưu, về nghỉ mất sức xin chuyển đến ở với con hoặc anh, chị, em ruột (nếu không có vợ, chồng, con) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố;

    + Những người mất khả năng lao động (không tự lập nuôi thân được, phải sống nhờ vào người khác) bao gồm: Người tàn tật, mất trí, bệnh tật đến ở với bố, mẹ, con hoặc anh, chị, em ruột, chú, bác, cô, dì ruột hoặc người đỡ đầu (nếu không có bố, mẹ, không có vợ, chồng, con) đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

    + Người dưới 18 tuổi, không còn bố, mẹ (có thể bố, mẹ chết, mất tích) hoặc còn nhưng đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc do điều kiện hoàn cảnh đặc biệt không thể nuôi dưỡng con được, phải nhờ người khác nuôi hộ, đến ở với ông, bà, anh, chị, em ruột, chú, bác, cô, dì ruột hoặc người đỡ đầu, người giám hộ đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố;

    + Vợ xin về ở với chồng hoặc chồng xin về ở với vợ mà một trong hai người đang là nhân khẩu thường trú ở thành phố.

    + Người Việt Nam định cư ở nước ngoài hồi hương được cấp có thẩm quyền cho về cư trú ở thành phố;

    + Những người đã là nhân khẩu thường trú hoặc quê gốc ở thành phố (là nơi quê quán gốc gác của người đó ở từ nhiều đời trước, trong trường hợp này phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi đó là quê quán gốc gác của họ, nay trở về) đi nghĩa vụ quân sự, đi công tác, học tập, lao động... ở nơi khác (kể cả ở nước ngoài) nay trở về hợp pháp. Trong trường hợp này, nếu có người đi theo như bố, mẹ, chồng, con, ông bà hoặc những người mà người đó đang phải nuôi dưỡng cùng đăng ký chung một hộ khẩu cũng được chuyển theo.

    + Những người đã là nhân khẩu thường trú ở thành phố đi tù, đi thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại các trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, hết hạn trở về không thuộc diện cấm cư trú ở thành phố.

    Thủ tục đăng ký chuyển hộ khẩu

    Theo quy định hiện hành, người đến làm thủ tục đăng ký chuyển hộ khẩu phải có các giấy tờ sau:

    - Chứng minh nhân dân của bản thân. Nếu là quân nhân thì xuất trình chứng minh thư quân đội, nếu là công an xuất trình giấy chứng nhận công an nhân dân.

    - Khai phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu.

    - Nộp giấy chứng nhận chuyển đi của công an nơi thường trú cũ cấp trừ những người là lực lượng vũ trang sống trong doanh trại, người Việt Nam ở nước ngoài về, người đi tù, đi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh về thì phải có giấy khác thay thế).

    - Giấy tờ để chứng minh nhà ở hợp pháp (tùy từng trường hợp nhà ở, xuất trình những giấy tờ tương ứng).

    - Các giấy tờ khác liên quan đến từng trường hợp cụ thể cần có như: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, giấy khai sinh, quyết định điều động, tuyển dụng, phục viên, xuất ngũ...

    Kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cơ quan công an phải giải quyết xong trong thời hạn 20 ngày.

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Điều kiện chuyển hộ khẩu về thành phố

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Điều kiện chuyển hộ khẩu về thành phố bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Dieu kien chuyen ho khau ve thanh pho ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Điều kiện chuyển hộ khẩu về thành phố ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tư Vấn Pháp Luật của chuyên mục An Ninh - Pháp Luật.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - AN NINH - PHÁP LUẬT - TƯ VẤN PHÁP LUẬT