Từ một nghiên cứu về việc quản lý đất công thời thuộc Pháp - vài kiến nghị

15:11 17/07/2004
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TTCN - Hình thức quản lý đất hoang được trình bày ở đây là hình thức nhượng đất, lập đồn điền chủ đạo được thực hiện suốt từ khi bắt đầu cuộc chinh phục thuộc địa đến năm 1945 ở Bắc kỳ...

Đất hoang và hình thức nhượng đất, lập đồn điền

Vào cuối thế kỷ 19, ước tính trên cả Bắc kỳ có ít nhất 250.000-300.000ha đất bị bỏ hoang, cần phải phục hóa và khai khẩn.

Trước hết, chính quyền thuộc địa, bằng các văn bản pháp qui, đã từng bước ép Nam triều phải “chuyển nhượng” quyền quản lý và sử dụng đối với các loại đất này. Rồi, do không thể tự bỏ vốn và tiến hành việc khai thác, chính quyền thuộc địa đã dựa vào vốn và sáng kiến của các cá nhân, tức là các nhà thực dân để tổ chức việc khai thác. Giống như ở các thuộc địa khác, phương thức quản lý chủ yếu là cấp nhượng cho các cá nhân, các liên doanh điền chủ, hay là các công ty tư bản để lập ra các đồn điền.

... Dưới đây là một số điểm chính của các qui chế chi phối công cuộc nhượng đất khẩn hoang lúc bấy giờ.

Qui chế nhượng đất chung cho các “công dân, thần dân và dân bảo hộ Pháp”

Đây là hình thức đầu tiên và là hình thức chính trong chính sách nhượng đất, khẩn hoang ở Bắc kỳ, bắt đầu từ 1887 kéo dài đến 1945, trên cơ sở các sắc lệnh, nghị định được ban hành từ 1888 - 1942.

Chúng tôi trình bày một cách tóm tắt cách thức quản lý đối với những vùng đất hoang thuộc công điền, công thổ của thực dân Pháp tại Đông Dương. Mục đích chỉ ra những gì người Pháp đã từng làm trong lĩnh vực này, với cả những thất bại và thành công để rút ra những kinh nghiệm nên hoặc không nên tiếp thu.
Phạm vi của bài viết này nhấn mạnh đến “Việc nhượng đất, khẩn hoang ở Bắc kỳ trong giai đoạn cận đại”, bởi việc nghiên cứu đã hoàn tất. Hơn nữa, về việc quản lý và khai thác đất đai trên những nét đại thể, có thể tìm thấy những điểm chung cho cả ba xứ: Bắc, Trung và Nam kỳ.

Văn bản đầu tiên là nghị định 5-9-1888 của toàn quyền Đông Dương về việc nhượng đất Bắc kỳ. Với ngụ ý canh chừng tình trạng đầu cơ đất của các nhà thực dân, nghị định này tỏ ra dè dặt trong việc chỉ cho phép cấp nhượng diện tích tối đa 100ha cho mỗi điền chủ. Thế nhưng, nghị định này đã bị giới điền chủ phản đối quyết liệt và nghị định 24-5-1895 đã xóa bỏ giới hạn 100ha để các nhà thực dân tha hồ xin đất, diện tích bao nhiêu cũng được, kể cả không đủ khả năng khai thác.

Liền theo đó, nghị định 18-8-1896 lại được ban hành, giải phóng mọi điều kiện của việc nhượng đất, mở toang cửa Bắc kỳ cho sự chiếm đoạt của người Pháp. Hậu quả là hàng trăm đồn điền được thiết lập và hàng trăm ngàn hecta đã được đem cấp nhượng cho các điền chủ mà chủ yếu không phải là các nhà canh nông, gây ra tình trạng đầu cơ đất, sự mất cân đối giữa đất nhượng và đất được khai thác và những cuộc đấu tranh triền miên của những người nông dân bị mất đất và thiếu đất.

Để chữa trị tình trạng này, ngày 27-12-1913, Toàn quyền Đông Dương đã ban hành một nghị định khác áp dụng cho toàn Đông Dương và được áp dụng ở Bắc kỳ bằng nghị định 6-3-1914, bổ sung bằng nghị định 8-5 và 26-11-1918 và 19-6-1920.

Nghị định 27-12-1913 tạo ra một bước ngoặt trong chính sách nhượng đất, khẩn hoang của người Pháp, để tăng cường thêm thu nhập cho ngân sách và hạn chế việc bao chiêm bừa bãi của các điền chủ, lần đầu tiên chính quyền thuộc địa đưa ra hình thức bán đấu giá và bán theo giá thỏa thuận đối với những diện tích từ trên 50ha trở lên (được sửa đổi thành 300ha bằng nghị định 26-11-1918).

Đối với những diện tích dưới 50ha (sau đó, dưới mức 300ha) có thể vẫn được nhượng dưới hình thức cho không (à titre gratuit). Cũng như vậy, để xoa dịu mâu thuẫn trong dân chúng xung quanh vấn đề nhượng đất và lấy lòng tầng lớp thượng lưu “bản xứ” và nghị định này nới rộng đối tượng nhượng đất với một số người bản xứ với tư cách là: “công dân, thần dân và dân bảo hộ Pháp”.

Sắc lệnh  4-11-1928 được ban hành trong bối cảnh sự phát triển ồ ạt của các đồn điền trồng cây công nghiệp do sự tăng giá của một số mặt nông phẩm nhiệt đới, nhất là cao su, chè, cà phê, sau chiến tranh. Đã có những đơn xin đồn điền lên tới 50.000ha. Để tránh nạn đầu cơ, sắc lệnh 4-11-1928 buộc các điền chủ phải lệ thuộc vào sự kiểm soát chặt chẽ hơn của chính quyền và phải chịu nhiều nghĩa vụ mới, đặc biệt là qui định về khả năng tài chính của người xin.

1. Thẩm quyền xét cấp nhượng đất

Đất hoang, vô chủ được gọi là đất công nông nghiệp là một bộ phận thuộc công sản Đông Dương.

Trước 1903, khi tài sản ở Đông Dương chưa được tổ chức lại, đất công bao gồm đất hoang và đất vô chủ được xếp vào khu vực tài sản thuộc địa do các nghị định 22-12-1899 và 5-2-1902 về tổ chức tài sản ở Đông Dương chi phối. Vì thế hầu như tất cả  những gì liên quan đến việc cấp nhượng đều phải do toàn quyền xem xét, quyết định.

Nghị định 15-1-1903 về tổ chức lại tài sản ở Đông Dương đã chấm dứt tình trạng trên. Theo nghị định này tài sản ở Đông Dương được chia thành bôn khu vực: tài sản công, tài sản nhà nước, tài sản thuộc địa và tài sản cấp xứ. Mỗi khu vực thuộc quyền  quản lý của một cấp hành chính khác nhau.

 Từ đây, đất hoang và đất vô chủ được chuyển từ khối tài sản thuộc địa sang tài sản cấp xứ và chịu chung những qui định của khối tài sản này. Theo qui định của nghị định 15-1-1903, tài sản cấp xứ có thể được di nhượng và sản phẩm thu về thuộc vào ngân sách cấp xứ.

Thế nhưng, mọi việc cấp nhượng đều phải thông qua người đứng đầu liên bang, tức toàn  quyền Đông Dương. Mãi đến nghị định 27-11-1918, thống sứ Bắc kỳ mới được phép cấp các đồn điền có diện tích không quá 1.000ha. Những đồn điền vượt quá giới hạn này vẫn do toàn quyền phê chuẩn việc cấp nhượng. Thế nhưng, ngay cả quyền hạn của toàn quyền cũng ngày càng bị giới hạn.

Chính phủ Pháp với dần tay tới loại đất này. Từ sắc lệnh 4-11-1928 trở đi: công sứ chủ tỉnh có quyền cấp các đồn điền không quá 10ha, thống sứ có quyền nhượng những đồn điền cho không, từ 300ha trở xuống và những đồn điền phải trả tiền tới 1.000ha. Toàn quyền có quyền cấp những đồn điền từ 1.000 - 4.000ha. Các đồn điền từ trên 4.000ha phải do tổng thống Pháp ban cấp một sắc lệnh thông qua ý kiến của Bộ thuộc địa và đề nghị của toàn quyền Đông Dương.

2. Về đối tượng được nhượng đất

Trước năm 1913, người Pháp giành độc quyền trong việc nhượng và khai thác đất hoang. Sau thời điểm này, đối tượng được nhượng đất được mở rộng hơn. Tuy nhiên sự mở rộng ấy cùng lắm mới chỉ tới được  những người bản xứ, từ nghị định 27-12 - 1913, với tư cách là công dân, thần dân và dân bảo hộ pháp. Người nước ngoài, trước sau đều bị gạt ra khỏi đối tượng được nhượng đất, lập đồn điền ở Đông Dương. Đôi với người Hoa phải đến năm 1927, qua nghị định 19-10 họ mới được xin nhượng dưới hình thức hợp đồng thuê có thời hạn với diện tích không quá 50ha.

Về đối tượng được nhượng đất, một vấn đề được tranh cãi là nên hay không nên nhượng đất hoang cho các viên chức trong hệ thống hành chính thuộc địa.

Để tránh nhượng đất cho những người không đủ khả năng về thời gian, cũng như về tài chính để khai thác đất nhượng, đồng thời là tình trạng tích tụ đất theo kiểu các điạ chủ “Bản sứ” , thông tư ngày 10-6-1904 của toàn quyền Beau cấm ngặt các viên chức người “bản xứ” còn đương chức được trở thành sở hữu chủ đất tại nơi đang làm việc, nghĩa là không được nhượng đất để lập đồn điền. Nghị định 28-3-1929 của toàn quyền Beau Pasquier không cho phép các viên chức và nhà binh, nói chung cả người Pháp lẫn người Việt đang tại chức xin đất, lập đồn điền, nhưng nếu những người này về hưu thì có thể được làm việc đó.

3. Các hình thức cấp nhượng

Như trên đã nói, trước năm 1913, tất cả đất hoang thuộc công điền công thổ đều được cấp nhượng dưới hình thức cho không với giá 1fr/ha và diện tích cho không là vô hạn.
Từ nghị định 27-12-1913, đồn điền cho không trở thành ngoại lệ, nguyên tắc nhượng phải trả tiền qua việc bán đấu giá hay thuận mãi.

Đồn điền cho không chỉ được áp dụng với những diện tích dưới 50ha (và 300ha từ 1918). Trên nguyên tắc, chỉ có chủ gia đình mới được xin đồn điền cho không và người này chỉ được xin cái thứ hai cũng là cái cuối cùng khi đã khai thác hết 4/5 diện tích cái thứ nhất.

4. Khả năng tài chính của người xin

Sau nhiều năm nhượng đất cho các điền chủ, sau nhiều cuộc tranh luận trong chính phủ thuộc địa, cũng như trong giới điền chủ, phải mãi đến nghị định 19-9-1926 điều này mới chính thức được qui chế hóa. Trước đó, những người xin đất hoàn toàn không phải chứng minh về số vốn có thể ứng ra để xin và khai thác đất. Vậy nên, mới có hiện tượng là đất nhượng thì nhiều mà đất được khai thác chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ (39,17% trong giai đoạn 1888 - 1918 ở Bắc kỳ).

Nghị định 17-10-1929 qui định rõ về khả năng tiền vốn cần có của những người xin đất, thống nhất cho tất cả các vùng nông nghiệp tính theo đơn vị hecta và đồng Đông Dương.

5. Các hình thức sở hữu đồn điền

Bất kỳ đồn điền nào, dù là đồn điền nhượng không mất tiền, hay phải trả tiền đều phải trải qua hai giai đoạn: tạm thời và vĩnh viễn.

Thời hạn đồn điền tạm thời được qui định trong các nghị định 5-9-1888, 18-8-1896 và 6-3-1914 là năm năm kể từ khi ký nghị định nhượng đất. Trong các văn bản ký từ năm 1920 trở đi, thời hạn tạm thời tùy thuộc vào từng loại đồn điền, có thể kéo dài đến 15 năm, được ghi trong sổ nghĩa vụ và chừng nào đồn điền chưa được cấp vĩnh viễn thì có nghĩa vẫn còn là tạm thời, đất nhượng không được đăng ký vào sổ địa bộ, tức là chưa được công nhận quyền sở hữu.

6. Thuế, tô

Chính quyền thuộc địa ngay từ đầu đã chú ý tới thuế và tô. Ngoài việc đây là nguồn thu nhập đôi với ngân sách, còn là sự nhắc nhở đối với các điền chủ về nghĩa vụ trong việc khai thác đất.

Theo qui định trong các văn bản thì để có thể được sử dụng đất, ngay từ khi đồn điền được nhượng tạm thời, điền chủ phải nộp thuế cho ngân sách cấp xứ.
Nghị định 5-9-1888 đánh thuế đối với toàn bộ đồn điền từ năm thứ ba trở đi.
Nghị định 18-8-1896 qui định là điền chủ phải nộp thuế đối với toàn bộ đồn điền từ năm thứ năm trở đi. Trong năm năm đó, điền chủ phải nộp một khoản địa tô là 1fr cho một đồn điền, không kể diện tích là bao nhiêu.

Cách thức giao nộp thuế và thuế suất được qui định cụ thể hơn trong các nghị định 2-6-1897; 21-11-1905; 4-1-1910; 20-12-1913; 28-10-1915. Những nghị định này được áp dụng cho đến những năm 1940. Theo đấy, thuế được đánh theo từng loại đất và cây trồng.

Tuy nhiên, việc nhượng đất ồ ạt, trong khi chưa có một qui chế nhượng đất hoàn chỉnh và không phải cho những nhà canh nông chuyên nghiệp, cũng như những người có vôn và có mục đích nghiêm túc đã gây những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và xã hội: nhiều đất nhượng bị bỏ hoang, ngăn trở việc khai khẩn của những người có nhu cầu về đất, nhất là đối với nông dân. Nạn đầu cơ, mua bán, trao đổi đồn điền giữa các điền chủ trở thành phổ biến.

Cả các điền chủ và chính quyền cấp đất đã không thực hiện đúng những qui định đã ban hành về nhượng đất. Nhiều đồn điền không được khai thác, nhưng trong nhiều năm không bị kiểm tra và thu hồi. Điều đó làm cho tình trạng thiếu đất trong nông dân ngày càng trầm trọng thêm, mâu thuẫn xã hội xung quanh vấn đề ruộng đất ngày càng quyết liệt.

Do đất nhượng chủ yếu không phải cho những điền chủ chuyên canh nông làm cho phần lớn đã sử dụng lối khai thác của người “bản xứ”, tức là phát canh thu tô. Điều này tạo ra sự trì trệ lớn trong nông nghiệp và gia tăng sự bóc lột của các điền chủ đối với nông dân.

Vài kiến nghị

Chúng tôi đã trình bày về qui chế quản lý đối với đất hoang thông qua một hình thức nhượng đất, lập đồn điền tiêu biểu ở Bắc kỳ, thời kỳ cận đại. Từ đó, chúng tôi mạo muội đưa ra một vài ý kiến trong việc quản lý đối với khu vực đất công, đối tượng được giao cho các tập thể, cá nhân khai thác hiện nay.

* Để đảm bảo việc giao đất có hiệu quả, nghĩa là đất giao cấp phải được đưa vào sử dụng và tránh tình trạng đầu cơ, nên có những qui định về đối tượng được giao chứ không giao cấp tràn lan.

* Việc giao đất cho các tập thể, công ty hay các cá nhân không nên khoán trắng mà nên có sự giám sát của Nhà nước dưới hình thức những qui chế và những biện pháp hành chính và tài chính... Điều này đảm bảo đất được khai thác đúng mục đích, theo một định hướng chung, theo một qui chế thống nhất về cây trồng, vật nuôi, phù hợp với nhu cầu của thị trường và điều kiện sản xuất.

* Tránh cho không, mà nên thực hiện dưới hình thức “nhượng phải trả tiền”, hoặc là bằng việc bán đấu giá, hoặc bán theo giá thỏa thuận. Điều này vừa tránh thất thu ngân sách, lại có thể loại những người không có ý định nghiêm túc trong việc xin và khai thác đất. Giá cả ruộng đất phải dựa trên sự phân loại đất: theo năng suất từng loại cây trồng được đăng ký và thực hiện trên đất được giao cấp...

* Một yếu tố quan trọng đảm bảo cho đất cấp phát được đưa vào khai thác là khả năng tài chính của người xin. Khả năng này phải đảm bảo để người được giao đất có đủ tiền để mua, đủ tiền để khẩn hoang, đủ tiền để tiến hành sản xuất.

* Việc giao đất nhất thiết phải qua hai giai đoạn: tạm thời và vĩnh viễn. Trong giai đoạn tạm thời, người được giao phải thực hiện việc khai thác theo tỉ lệ nhất định (chẳng hạn 1/5 diện tích trong một năm, nếu không đất sẽ bị thu hồi), để phải hoàn thành việc khai thác toàn bộ trong thời hạn năm năm. Hết hạn tối đa này, chỉ những khoảnh đất đã được khai thác có hiệu quả mới được giao cấp lâu dài, diện tích không được khai thác sẽ bị thu hồi.

* Vì đất hoang có hạn và khả năng khai thác của người xin cũng không phải là vô hạn, cho nên cần qui định giới hạn tối đa về diện tích giao cấp cho mỗi cá nhân, công ty, tập thể.

* Cần tập trung việc giao cấp đất theo lô, theo khu vực để có thể kết hợp giữa việc khẩn hoang với việc qui hoạch về nông nghiệp, không nên manh mún, phân tán. Nghĩa là nên lưu ý đến mối quan hệ giữa việc giao đất với việc lập ra những vùng nông nghiệp thương phẩm lớn ngay từ khi giao đất.

* Trong việc quản lý đất hoang, rất nên có một chế độ thuế hợp lý để khuyến khích người khai thác.

* Trong việc giao đất cần quan tâm đến mối quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình khai thác đất, nghĩa là việc sử dụng nhân công trong khu vực đất giao cấp để chọn ra phương thức thích hợp, trên quan điểm tiến bộ xã hội. 

TS TẠ THỊ THÚY (Viện sử học)

Việt Báo
contentlength: 20688
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Clip: Nhìn lại những pha truy đuổi cướp gay cấn, đầy hiểm nguy của các "hiệp sĩ" đường phố
00:00 / --:--

TIN Xã Hội NỔI BẬT

Bơ vơ nỗi đau con trẻ sau đại tang 13 người chết ở Lương Điền

Chưa qua một giấc ngủ, hàng chục đứa trẻ thôn Lương Điền (xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) bỗng chốc mang thân phận mồ côi, đón tin dữ cha, mẹ tử vong sau vụ TNGT thảm khốc tại Quảng Nam