Tâm huyết của các nhà giáo dục - xin được nói thêm

21:27 14/09/2004
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Tam huyet cua cac nha giao duc xin duoc noi them

Giáo sư Hoàng Tụy vừa gửi cho Thủ tướng Chính phủ bản kiến nghị: "Chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục" của giáo sư và 22 nhà giáo, nhà khoa học, nhà văn hóa trong và ngoài nước trước vấn đề cực kỳ hệ trọng của quốc gia là giáo dục.

Tôi đọc các thông tin về bản kiến nghị này trên báo: Tâm huyết, khoa học và thực tế. Từ điểm xuất phát tư duy giáo dục, các tác giả đã lần lượt nêu lên những điểm cơ bản và chỉ khi được trang bị những điểm cơ bản ấy thì nền giáo dục nước ta mới "lột xác". Kiến nghị không chỉ đề cập những quan điểm cơ bản mà còn đi sâu vào một số biện pháp cụ thể.

Cứu nền giáo dục quốc gia là cứu quốc gia - một chân lý được chứng minh trong lịch sử thế giới và Việt Nam. Mục đích tối hậu của giáo dục là đào tạo con người, trước hết, con người lương thiện, trung thực, con người có ích cho xã hội, và vì chúng ta nói đến nền giáo dục Việt Nam, cho nên đó là con người Việt Nam với những đặc thù, không gian và thời gian riêng của chúng ta. Nói cho cùng, giáo dục là khắc phục những mặt non yếu và phát huy những mặt mạnh của người Việt Nam - không khắc phục mặt non yếu thì khó mà phát huy mặt mạnh. Non yếu là chuyện đương nhiên, dân tộc nào cũng có ưu và nhược, hơn thế nữa, Việt Nam là một nước nông nghiệp, chậm công nghiệp hóa, là nước nghèo và trách nhiệm lịch sử của con người Việt Nam, do sự tồn tại của nó, hun đúc tinh thần dân tộc ở độ cao, thành truyền thống, đồng thời cũng chính từ hoàn cảnh như thế nên không tránh khỏi những trì trệ trong quá trình hình thành nhân cách và trong quá trình thích ứng với sự chuyển động của thế giới. Truyền thống dân tộc có mặt ưu việt như niềm tự hào dân tộc, đồng thời quá khứ không phải không để lại những thói quen cản ngại cho sự phát triển đến đỉnh cao của quốc gia. Háo danh có nguồn gốc lịch sử. Nặng "trích cú tầm chương" là di sản của cả ngàn năm. Việt Nam không phải không có những nhà bác học thiên văn, địa lý, kinh tế, song phải nói rằng số ấy khá hiếm trong biểu nhân vật nước ta, ngay so với một số nước láng giềng đồng văn Đông Á. Rất tiếc, không kể những năm nước Việt Nam độc lập sơ sinh và kinh qua hai cuộc kháng chiến gian khổ, chỉ tính từ gần 30 năm giải phóng hoàn toàn, phương hướng đào tạo con người chưa được canh tân bao nhiêu, ca ngợi mặt tốt thì nhiều - dù chưa đủ - còn phê phán mặt yếu hầu như né tránh. Giáo dục vẫn tiếp tục nếp cũ, như học thuộc lòng, nặng trích dẫn kinh điển, chậm tiếp cận với thực tế, với ứng dụng, để con người không chỉ giỏi về nói mà giỏi về làm, và làm cụ thể. Lối học khoa cử còn đè nặng nền giáo dục nước ta. Bằng lòng với số lượng tú tài, cử nhân, tiến sĩ, còn những học vị ấy thi thố như thế nào thì chính sách giáo dục ít khi nhắc tới. Đó là sự ru ngủ nguy hiểm. Sức sáng tạo trong xã hội Việt Nam hiện nay chưa phải đã được khai thông đúng mức cần thiết.

Bởi vậy, tôi nghĩ cần thêm vào kiến nghị của các học giả cái khoảng rộng mà công tác giáo dục nước ta đang chịu sức ép rất lớn. Đành rằng giáo dục - ta nói nền giáo dục xét chung, mà trách nhiệm lớn nhất là ở cơ quan phụ trách giáo dục - thật ra chưa phải là đáp án toàn diện. Chương trình và phương pháp giáo dục dù cố gắng đến đâu nhưng sự điều hành xã hội cuối cùng sẽ quyết định xu hướng giáo dục. Giáo dục là tạo ra con người có ích. Song cơ chế tuyển chọn con người mà xuất phát từ những nguyên tắc khác thì giáo dục đâu thể nào cáng đáng nổi trọng trách. Người giỏi không được sử dụng, lương không đủ sống, sáng kiến không được tiếp nhận. Nếu cứ phải tính cho đủ năm tháng theo ngạch trật thì càng cải cách giáo dục sẽ càng tạo thêm mâu thuẫn trong xã hội. Ba mươi năm đã đủ dài cho một chuyển đổi có chiều sâu. Bộ máy lãnh đạo và quản lý đất nước thời kỳ liền sau giải phóng đương nhiên gồm những người dính với quá khứ vào sanh ra tử. Lý lịch có vai trò của nó, đừng phủ nhận sự tất yếu. Thời kỳ giữa, số người do kháng chiến cử đi học; học trong nước và ở nước ngoài, nay thành tài, về đảm đương những trách nhiệm chuyên môn. Đương nhiên, đó là những người có kiến thức và cần thiết cho bộ máy lãnh đạo và quản lý - nhất là quản lý. Tuy nhiên, khoa học không giậm chân tại chỗ. Những người chịu trách nhiệm quản lý vào đầu thế kỷ XXI mà với kiến thức khoa học kỹ thuật của những năm 80, 90 thế kỷ trước, thật khó chu toàn trách nhiệm. Cái tất yếu trên lẽ ra phải được chỉnh sửa từng bước, điều khiển quốc gia hiện nay đa số là những người được trang bị kiến thức hiện đại. Chúng ta còn nhớ một thời kỳ khá buồn, những người chuyển động cơ ô tô chạy xăng sang ô tô chạy dầu được xem như một sáng tạo. Thời kỳ đó kéo dài cũng hàng chục năm. Bây giờ, kỹ thuật đi xa hơn, song chỉ nhìn hệ thống giao thông đường bộ báo động hằng ngày, chúng ta đã thấy giáo dục chưa cung ứng được những người đủ trình độ quản lý về chuyên môn ngành giao thông. Tôi hiểu còn có yếu tố đạo đức, còn sự rèn luyện thường xuyên hết sức quan trọng, nhưng không thể thay cho kiến thức, đặc biệt, kiến thức về khoa học kỹ thuật hiện đại. Đã có một số nhà lãnh đạo giáo dục nước ta chỉ ra rất đúng rằng bớt đi - hay chỉ để ở một số cơ sở đào tạo - các "chương trình hàn lâm" mà chuyển hẳn giáo dục vào đáp ứng nhu cầu "đại trà" của xã hội. Điện cứ tắt cháy "tùy ý", điện thoại di động cứ nghẽn mạch, đường cứ đào lên đào xuống... mà "tuyên ngôn tuyên cáo" những câu long trọng một cách nhạt nhẽo thì khó đưa đất nước tiến lên lắm.

Chia sẻ với Giáo sư Hoàng Tụy và các bạn của ông, tôi muốn nêu thêm khía cạnh khác của vấn đề. Phát triển mạnh theo tư duy xã hội hóa toàn diện thì công cụ giáo dục mới phát huy được vai trò. Chúng ta thấy gì khi chuyện thừa và thiếu trong số tốt nghiệp cử nhân, kỹ sư hằng năm - cái cần vẫn thiếu và cái không cần vẫn thừa ? Chỉ với một lăng kính nhìn đủ các mặt chúng ta mới có thể thực hiện một cuộc cải cách giáo dục có hiệu quả...

Tháng 9/2004

Trần Bạch Đằng

Việt Báo
contentlength: 8951
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Khách hàng bắt hai nhân viên cây xăng quỳ gối trước khi dùng cốc và ấm trà đập rách mặt
00:00 / --:--

TIN Xã Hội NỔI BẬT

Bơ vơ nỗi đau con trẻ sau đại tang 13 người chết ở Lương Điền

Chưa qua một giấc ngủ, hàng chục đứa trẻ thôn Lương Điền (xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) bỗng chốc mang thân phận mồ côi, đón tin dữ cha, mẹ tử vong sau vụ TNGT thảm khốc tại Quảng Nam