THPT phân ban: Quanh co, quanh co, quanh co...

09:33 28/06/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

- Cuối cùng, lần đầu tiên ngành GD và ĐT cũng làm được cái việc mơ ước lâu nay: chính thức triển khai đại trà mô hình THPT phân ban . Nhưng có lẽ vẫn hồi hộp theo dõi sự “thí điểm” những ý tưởng, những chủ trương mà “hậu vận” của nó còn rất quanh co, quanh co, quanh co…

Chỉ còn hơn hai tháng nữa thôi, khi năm học mới 2006-2007 khai giảng, sẽ có hàng vạn học sinh lớp 10 cả nước ta bước vào mô hình giáo dục mới - THPT phân ban, chấm dứt những tranh cãi tưởng như bất tận, phân ban hay không phân ban, bỏ hay không bỏ, lạc hậu hay tiên tiến?

Sau hơn chục năm thí điểm, điều chỉnh rồi lại thí điểm, kéo theo sự tốn kém hàng trăm tỷ đồng cho cơ sở vật chất, chương trình, sách giáo khoa (SGK), sách giáo viên, bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ, mua sắm thiết bị... Cuối cùng, lần đầu tiên, ngành GD và ĐT cũng làm được cái việc mơ ước lâu nay, đó là chính thức triển khai đại trà mô hình THPT phân ban theo ba ban: ban Cơ bản, ban Khoa học Tự nhiên, ban Khoa học Xã hội và Nhân văn.

THPT phan ban Quanh co quanh co quanh co
Chọn ban nào ư?

Triển khai đại trà mô hình THPT phân ban trong thực tiễn, nhưng ở góc độ khoa học, có lẽ, ngành GD và ĐT vẫn hồi hộp, phấp phỏng theo dõi sự “thí điểm” những ý tưởng, những chủ trương mà “hậu vận” của nó của nó còn rất “quanh co, quanh co, quanh co...”. Quanh co... như chính thân phận mô hình giáo dục phân ban.

“Phú quý giật lùi”

Khởi đầu, cách đây hàng chục năm, với ý tưởng khoa học dựa trên nguyên tắc phân hoá của giáo dục, dựa trên năng lực; nguyện vọng sở trường của học sinh, tạo nguồn đào tạo “dân trí; nhân lực; nhân tài”, mô hình THPT phân ban được thiết kế khá lý tưởng: ban A ( Khoa học Tự nhiên), ban B (Khoa học Kỹ thuật), ban C (Khoa học Xã hội). Với mô hình phân ban đầu tiên ấy, nếu như ban A thiết kế chương trình; SGK dự định đáp ứng nhu cầu cho những học sinh có năng lực, thiên hướng về các môn khoa học tự nhiên, thì chương trình; SGK ban C đáp ứng nhu cầu học sinh có năng lực, thiên hướng các môn khoa học xã hội. Còn lại, ban B, chương trình; SGK thiết kế cho những học sinh không có cả hai thiên hướng, năng lực, sở trường nói trên, sẽ đi vào kỹ thuật, công nghệ.

Nhưng cái “còn lại” này mới là điều đáng nói. Tỷ lệ ban B, ngành GD và ĐT dự kiến chủ quan khoảng 70% số học sinh. Tuy nhiên rất nhạy cảm, xã hội, các bậc cha mẹ và học sinh nhanh chóng nhận ngay ra rằng con đường đi của ban B sớm muộn sẽ chỉ là con đường vào các trường chuyên nghiệp, trường dạy nghề, là con đường “làm thợ”.

Ở một xứ sở như nước ta, truyền thống hiếu học cũng luôn gắn với một khát vọng, như dòng chảy ngầm trong huyết mạch mỗi làng quê nghèo khó, mỗi dòng họ, mỗi gia đình từ xa xưa, là học để có tấm bằng danh giá, để đi “làm quan”, mấy ai học để làm thợ?.

Tâm lý xã hội ấy, cùng với nhiều chính sách, chế độ, cơ chế quản lý, thiết chế vận hành và ứng xử đã khiến cho những người trẻ tuổi, chỉ hướng tới một con đường duy nhất, một cánh cửa duy nhất, đó là con đường dẫn đến cánh cửa trường ĐH. Cho nên có rất nhiều em học sinh, học lực làng nhàng, không rõ ràng thiên hướng, sở trường, nhưng dứt khoát không chịu học ban B. Cộng với sự đầu tư thả nổi, đầu voi đuôi chuột của ngành GD và ĐT, ban B dần dần giống như một chàng thợ trẻ khoẻ, nhưng bẽ bàng nơi chốn thị thành, chốn công đường, dần còm cõi, suy dinh dưỡng, teo tóp.

Sau bảy năm thí điểm mô hình THPT phân ban đầu tiên phải khép lại. Thất bại, nhưng trong thế trót “cưỡi lưng hổ”, không thể xuống, cũng không thể tiếp tục, để yên dân, xoa dịu dư luận xã hội sau thất bại đầu tiên, đột ngột, ngành GD và ĐT “trình làng” mô hình phân ban mới mà một cán bộ nghiên cứu khoa học giáo dục có tầm cỡ, đã nửa đùa nửa thật thanh minh: “Mô hình này không phải của chúng tôi! (?)”. Với mô hình giáo dục mới này, phân ban chỉ có hai ban. Không nói ra, nhưng mục tiêu đáp ứng khát vọng ĐH của tuổi trẻ là rất rõ ràng: ban A (Khoa học Tự nhiên), và ban C (Khoa học Xã hội). Nhưng cấu trúc và thiết kế chương trình của hai ban A và C một lần nữa khiến những người am hiểu giáo dục không sao hiểu nổi, vì thiếu cả căn cứ khoa học lẫn căn cứ thực tiễn ở mục tiêu đào tạo. Lượng kiến thức các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hoá, (ban A), Văn, Sử, Địa (ban C) được thiết kế “nhô” lên 20% so với chương trình cơ bản. Cái mô hình phân ban cứng nhắc, khiên cưỡng một lần nữa làm đảo điên các địa phương, trường học, không may rơi vào diện thí điểm. Với tỷ lệ bình quân 70/30 ( ban A/ ban C), nhiều trường học, nhiều địa phương rơi vào cảnh khốn khổ và lúng túng. Điều chuyển ra sao với đội ngũ giáo viên KHXH bỗng thừa ra, mà với năng lực thực tế rất hạn chế, họ làm sao có thể dạy kiêm nhiệm, dạy chéo môn KHTN mà bỗng nhiên thiếu đột ngột người dạy?

So với mô hình phân ban đầu tiên, mô hình THPT phân ban lần hai là một khúc quanh tệ hại nhất, lạc hậu nhât, xa rời mục tiêu tạo nguồn đào tạo nhân lực, xa rời khái niệm phổ thông, giáo dục toàn diện vốn đã rất hời hợt, phản chiếu một sự bế tắc trong tư duy giáo dục, trong tiến trình phát triển, một khúc quanh kiểu “phú quý giật lùi”.

Mô hình mới: liệu có khả thi?

Áp lực xã hội, cùng với sự thúc bách sau lưng của Luật Giáo dục 2005, sau nhiều phen “vò đầu bứt trán”, cuối cùng ngành GD và ĐT cũng tìm được lối thoát cho sự bế tắc của loại hình phân ban.

Quá tam ba bận, mô hình phân ban mới ra đời, với thiết kế mới gồm ba ban: ban Cơ bản, ban Khoa học Tự nhiên, ban Khoa học Xã hội và Nhân văn. Điểm khác biệt lớn nhất của mô hình này so với mô hình phân ban lần hai là mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, có tính khả thi và thực tiễn hơn. Ban KHTN đáp ứng yêu cầu cho những học sinh có thiên hướng, năng lực, sở trường về các môn toán, lý, hoá, sinh. Tương tự, ban KHXH và NV đáp ứng yêu cầu cho những học sinh có thiên hướng, năng lực, sở trường về các môn văn, sử, địa, ngoại ngữ. Đáng chú ý nhất là ban Cơ bản, dành cho học sinh có học lực “tầm tầm”, nhưng bù lại, việc thực hiện nguyên tắc phân hoá mềm dẻo trong dạy học chính là ở chỗ, ban Cơ bản có tới tám tài liệu, chuyên đề tự chọn: toán, lý, hoá, sinh, văn, sử, địa, ngoại ngữ, cho học sinh có thể tự chọn và học nâng cao trình độ. Điểm khác biệt lớn thứ hai, sau hai cuộc tập dượt thí điểm mệt mỏi, mô hình THPT phân ban lần thứ ba không phải trải qua thí điểm, mà sẽ triển khai đại trà ngay, vào năm học mới 2006-2007.

Nhưng các mô hình phân ban, càng về sau, càng có một điểm chung, đó là mọi con đường phân ban, dù gì gì đi nữa, đều sẽ chỉ dẫn đến con đường và cánh cửa trường... Đại Học.

Nhìn tổng thể, nếu xét về phương diện mục tiêu đào tạo, gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội, trên tiến trình CNH - HĐH đất nước, công bằng, phải nói rằng mô hình THPT phân ban đầu tiên thiết kế đẹp nhất, đúng đắn nhất, mà các mô hình thiết kế sau này, càng thiết kế càng xa rời quỹ đạo. Hay nói cách khác, theo cách nói của cha ông ta: “Trong ba cái dở, thì đó là cái đỡ dở nhất”. Nhưng tiếc thay, mô hình phân ban đó đã không thể thành hiện thực bởi mới ra đời, nó đã vấp phải sự thách thức nội tại ngay từ hệ thống, mặt khác lại đơn độc chịu những cú va đập của ngoại lực.

Thứ nhất, không có một hệ thống GD quốc gia nào lại “đứt gãy” ngay tại khúc dạy nghề. Chính sự đứt gãy này góp phần không nhỏ làm yếu đi bộ máy liên thông vận hành và quản lý đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật từ thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ đến cơ chế chính sách quản lý...

Thứ hai, bản thân ngành GD và ĐT ứng xử với mô hình phân ban này cũng theo kiểu “đầu voi đuôi chuột”, thậm chí “đem con bỏ chợ”. Theo thiết kế, ban B sẽ có một số ngành, nghề kỹ thuật, công nghệ. Nhưng thực tế, các trường diện thí điểm có ban B chỉ được ngành GD và ĐT đầu tư ban đầu một số máy vi tính chất lượng kém, thế là hết!. Chính cách đầu tư kiểu này khiến các trường mới ở diện thí điểm, nhất là tại các vùng khó khăn loay hoay dở khóc, dở mếu.

Thứ ba, mọi con đường học vấn, với tuổi trẻ, cuối cùng là việc làm. Việc làm, việc làm và việc làm. Mọi mô hình GD muốn thành công hay không phải gắn được với “đầu ra”. Trong bối cảnh tuổi trẻ đang cần rất nhiều việc làm, thì điểm tựa đầu tiên, và chắc chắn hơn cả vẫn phải là có tấm bằng đại học, mà nếu học ban B thì sẽ rất khó đi tới cánh cửa này.

Những thách thức hữu hình và vô hình đó đã khiến mô hình THPT phân ban đầu tiên tưởng đâu đầy sức sống hoá thành chết yểu, tưởng đâu rất đẹp mà hoá thành vô duyên, tưởng đâu là tất yếu bỗng thành đứt đoạn. Một đại biểu Quốc hội, nguyên là một nhà giáo đã nhận xét có lý rằng, phân ban muốn thành công phải có được những giải pháp kinh tế - xã hội, chứ không thuần tuý chỉ là giải pháp giáo dục. Hàng trăm tỷ đồng đã mất cho những cuộc thí điểm đầy điều tiếng. Còn chất lượng con người lại chưa có cơ quan giáo dục chức năng nào kiểm chứng được. Bài học thất bại của mô hình phân ban đầu tiên chắc chắn sẽ còn là kinh nghiệm bổ ích cho ngành GD và ĐT khi sắp tới đây, ngành triển khai chủ trương phổ cập bậc trung học.

Còn chăng một điệp khúc ... quanh co?

Nhưng liệu mô hình THPT phân ban sắp tới, đáp ứng nhu cầu và mục tiêu thi ĐH của tuổi trẻ khá là rõ ràng, liệu có xuôi chèo mát mái như hy vọng của ngành GD và ĐT, của những chuyên gia thiết kế?.

Câu trả lời là chưa chắc, bởi GD và ĐT ở đất nước này từ lâu đã đầy yếu tố bất ngờ. Ngành GD và ĐT dường như chưa bao giờ kiểm soát được quy trình, quá trình cùng chất lượng sản phẩm GD và ĐT. Mô hình giáo dục phân ban mới với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học đòi hỏi có phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm thực hành cùng thiết bị giáo dục, chưa kể yêu cầu day môn tin học như môn chính khoá, mà mỗi trường ít nhất phải có 25 máy tính,

Một ví dụ nhỏ, tỉnh Nam Định, đất học nổi tiếng, mới đây dựa trên thống kê nguyện vọng của học sinh, cho thấy toàn tỉnh có 461 lớp 10, học sinh đăng ký vào ban Cơ bản tới 413 lớp, chiếm tỷ lệ 89%, ban KHTN có 40 lớp, còn lại ban KHXH và NV chỉ có 8 lớp, tỷ lệ 0,018%. Một tỉnh vùng đồng bằng phía bắc, các điều kiện giáo dục đỡ khó khăn hơn nhiều nơi, chất lượng giáo dục lại luôn hàng “top ten” của cả nước, mà tới 89% số lớp thuộc ban Cơ bản. Vậy ở những tỉnh khó khăn vùng Tây bắc, Tây nguyên, Tây nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long... sẽ ra sao? So sánh vậy để thấy mục tiêu phân ban cầm chắc là... quanh co (!).

Cũng có tiếng nói của một số cán bộ quản lý cho rằng, dù không đạt mục tiêu phân ban, ngành vẫn có thể đạt yêu cầu mục tiêu phân hoá, vì ban Cơ bản được thiết kế có tới 8 môn, hoặc chuyên đề tự chọn cho học sinh lựa chọn. Nhưng lý luận như vậy, xin hỏi, ngành GD và ĐT thiết kế và triển khai mô hình phân ban để làm gì, nếu đã có tài liệu tự chọn?. Chỉ biết có một điều chắc chắn, hiện tượng học thêm, luyện thi sẽ vẫn tiếp tục tiếp diễn, thậm chí có thể còn nặng hơn.

Cũng để thực hiện nguyên tắc mềm dẻo, linh hoạt, bảo đảm quyền lợi của học sinh, tại Hội nghị giao ban Giám đốc các Sở GD và ĐT mới đây, ngành GD và ĐT chủ trương không nhất thiết các tỉnh, các trường đều triển khai ba ban, mà tuỳ tình hình thực tiễn, có thể triển khai các phương án phân ban cho phù hợp, thậm chí nơi khó khăn có thể chỉ có một ban - ban Cơ bản, và học sinh sẽ được đăng ký nguyện vọng lựa chọn hình thức phân hoá để sắp xếp các loại lớp.

Nhưng đây lại chính là vấn đề nhiều địa phương cho rằng khó thực hiện, vì thiếu cơ sở vật chất, đội ngũ chưa đáp ứng được, cán bộ quản lý chưa có kinh nghiệm, đặc biệt là gắn với kế hoạch dạy học chắc chắn sẽ rất đa dạng, đòi hỏi mềm dẻo, linh hoạt trong thiết kế và phân công giáo viên. Liệu ngay cả cái ban Cơ bản này trong thực tế có thành hiện thực, hay rồi sẽ “teo“ dần, trở thành “không ban”, nhất là với những trường khó khăn còn phải học hai ca? Câu hỏi đó còn treo lơ lửng, chờ cho tới năm học mới 2006-2007, mới hạ hồi phân giải.

Chính vì thế, mà số phận mô hình THPT phân ban lần này, chắc gì sẽ không còn lập lại cái điệp khúc... quanh co.

  • Kim Dung

Ý kiến bạn đọc phản hồi:

Việt Báo
contentlength: 20413
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Nhân viên cây xăng bị đánh chảy máu mồm vì nghi đổ thiếu
00:00 / --:--

TIN Xã Hội NỔI BẬT

Bơ vơ nỗi đau con trẻ sau đại tang 13 người chết ở Lương Điền

Chưa qua một giấc ngủ, hàng chục đứa trẻ thôn Lương Điền (xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) bỗng chốc mang thân phận mồ côi, đón tin dữ cha, mẹ tử vong sau vụ TNGT thảm khốc tại Quảng Nam