Sống vì người khác

00:04 21/05/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Song vi nguoi khac
Ông Dung, bà Quế và hai đứa cháu của người em kết nghĩa
Có một người tên là Nguyễn Văn Dung đã dành cả cuộc đời mình để sống vì người khác. Ông đã nuôi vợ, con rồi cháu người đồng đội chỉ vì một lời hứa. Đây là một câu chuyện khó tin nhưng có thật ở thôn Yên Hòa, xã Hưng Đông, TP Vinh, tỉnh Nghệ An.

Vòng vèo mãi tôi mới tìm thấy căn nhà lè tè của ông Dung ở cái xóm xa nhất của TP Vinh. Nó thuộc thành phố nhưng cũng nghèo như những làng quê khác. Trên chiếc chõng tre cũ mọt trước hiên, ông Dung, đã 82 tuổi, lúc nào cũng ngồi trầm ngâm.

Tôi hỏi mãi, ông vẫn không nói gì, rồi cất giọng sang sảng của người xứ Quảng gọi: “Bà Quế ơi!”. Một bà già lưng còng sát đất lọ mọ mở cánh cửa ọp ẹp, đon đả: “Bác Dung nặng tai không nghe được mô. Hỏi chi cứ nhằm tui đây nè. Không có bác ấy đời mẹ con tui không biết sống chết ra răng”.

Bản lý lịch khổ đau

Ông Dung quê ở Điện Bàn, Quảng Nam. Hồi tóc để chỏm Dung đã theo cha làm cách mạng, nhét tài liệu vào bánh mì làm nhiệm vụ giao liên. 18 tuổi Dung chính thức đứng trong hàng ngũ Việt Minh. Năm 1944, trong một trận đánh tiêu diệt 11 lô cốt Pháp, Dung bị bắn nát chân trái. Năm 1948, cha hi sinh. Rồi liên tiếp em gái, em trai, anh trai (tổng số 7 người) của Dung lần lượt hi sinh dưới làn đạn tàn khốc của kẻ thù.

Năm 1952, trong trận đánh Gò Nổi - Điện Bàn, ông lại bị đạn pháo tiện đứt lìa chân phải. Lành vết thương, ông xuống tàu tập kết. Đúng lúc đó, bà Hai Lương, vợ ông, sinh một cậu con trai kháu khỉnh. Nỗi đau tận cùng ập đến đúng vào cái ngày ông chuẩn bị cùng vợ con ra Bắc: bố mẹ Hai Lương không cho cô đi theo Dung. Ông bố dọa: “Mi theo Việt cộng tao giết nốt cả mi”. Xa Dung, Hai Lương đau buồn treo cổ tự vẫn. Đứa con mới hai tháng tuổi khát sữa cũng chết theo mẹ.

Ra Bắc, sau một thời gian an dưỡng ở Ty thương binh Nghệ An, Dung được phân việc cán bộ tổ chức ở một công ty ăn uống. Lúc tránh bom Mỹ, Dung quen Hồ Kim Bản, bộ đội vừa tập kết ra Bắc, kém ông 10 tuổi, cùng quê Quảng Nam (huyện Thăng Bình). Hai người hợp nhau lại cùng cảnh nên chích máu hòa rượu uống nhận làm anh em kết nghĩa.

Bản ra quân, ông Dung khuyên Bản đi học. Bản miệt mài đèn sách rồi đỗ Đại học Nông nghiệp. Bản thiếu gì, Dung lo hết. Hè nào, tết nào Bản cũng về Vinh ở với anh Dung. Một lần, Bản muốn lấy vợ, liền ngỏ ý hỏi anh. Ông Dung bảo nên lấy con gái ở quê có tính chịu khó, chịu khổ sẽ hợp cảnh phận. Thế rồi hai anh em thay nhau đạp xe cọc cạch từ Vinh vượt 70km về Hương Sơn (Hà Tĩnh) để... tìm vợ cho Bản. Về xã Sơn Châu, được người quen giới thiệu cô gái tên Quế, đẹp người, đẹp nết, ông Dung hỏi ngay: “Mi có thích lấy chồng miền Nam không?”. Quế bẽn lẽn: “Em mới học lớp 8, còn nhỏ lắm. Học xong em mới tính”. Ông Dung bảo luôn: “Ừ thì nó chờ đến khi mi học xong”. Bản và Quế yêu nhau, hẹn ước thành vợ chồng.

Tốt nghiệp đại học, Bản được phân về Nông trường Tô Hiệu, tỉnh Sơn La. Ở đó một thời gian thì ông Dung đánh điện bảo về tổ chức cưới vì Quế đã học xong lớp 10 và bước sang tuổi 20.

Bản đạp một xe, ông Dung với cái chân gỗ cũng lọc cọc đạp một xe về Hương Sơn. Ông thay bố mẹ Bản làm lễ với họ mạc nhà gái. Rồi Bản đạp xe chở cô dâu về Vinh, ông Dung cần mẫn đạp theo sau. Tối mịt mới về đến nhà. Ông Dung lo đám cưới cho Bản từ cái chữ dán trên phông, đĩa bánh kẹo, ấm trà và cả bộ chăn chiếu mới cho đêm tân hôn.

Bà Quế nhớ rành rẽ: “Đêm tân hôn ông Bản cứ ngồi ôm tui khóc. Gặng hỏi mãi ông ấy mới nói: Em ơi, anh có ngày hôm nay, lại lấy được em là nhờ anh Dung cả đấy. Em phải quí trọng anh ấy, phải khắc dạ ghi tâm biết ơn anh ấy cả đời nghe không!”. Mấy ngày đó, ông Dung mang chăn chiếu lên cơ quan ngủ nhờ.

35 năm thầm lặng

Sau tuần trăng mật tại nhà anh kết nghĩa, Bản dắt vợ lên Sơn La làm công nhân ở Nông trường Tô Hiệu. Năm 1964, vợ chồng anh sinh con vào đúng ngày tết độc lập nên đặt tên con là Hồ Độc Lập, với ước vọng đất nước sớm được hòa bình.

Năm 1965, Mỹ leo thang chiến tranh ra Bắc, Bản gác công việc nông trường xin đi B. Trước khi hành quân vào Nam, Bản ghé qua Vinh gặp anh Dung dặn dò: “Quảng Nam chiến sự ác liệt, em đi không biết có ngày trở ra. Em còn vợ và con nhỏ ở Sơn La, em có mệnh hệ chi anh ra ngoài đó đón mẹ con nó vô. Nếu còn sống em sẽ trở về hậu tạ anh. Nếu em chết khổ thân anh lại phải đèo bòng”.

Ông Dung vỗ vai người em kết nghĩa an ủi: “Chú cứ an tâm chiến đấu. Chú đã là em tôi, có nghĩa cũng là con của gia đình có truyền thống cách mạng. Chú có hi sinh vì Tổ quốc cũng xứng đáng, tôi và Tổ quốc này sẽ không bỏ rơi vợ con chú đâu”. Ông Dung quay đi với dòng nước mắt lã chã. Ông biết rằng vùng đất Phước Sơn, Quảng Nam khi đó vô cùng ác liệt, mười người đi giỏi lắm chỉ có một người về.

Đầu năm 1971, bà Quế viết thư cho ông Dung bảo rằng bà chờ thư ông Bản nhưng nửa năm chẳng thấy. Linh cảm có điều chẳng lành, mặc bom đạn như bão lửa dọc dải miền Trung, ông tìm vào chiến trường thì biết Bản đã hi sinh. Mãi năm 1977 mới có giấy báo tử.

Ông Dung tức tốc lên Sơn La tìm vợ con Bản đưa về Nghệ An. Ông xin cho Quế đi học trung cấp thống kê ở Hà Tây. Mình ông nuôi Lập, đứa con độc nhất của Bản. Khi Quế học xong, ông Dung lại xin cho cô vào làm ở Ty nông nghiệp Nghệ An.

Để mẹ con Quế có chỗ ở, ông Dung miệt mài ngày đêm cuốc đất lấp những hố bom sâu hoắm trước nhà, rồi cơi nới thêm căn lều rách của mình. Bà Quế bảo: “Mảnh đất đang ở đây trước là đồng hoang và chi chít hố bom. Tôi và bác Dung phải đào bới quần quật mấy năm trời mới cải tạo được đấy. Bác ấy chân què nhưng đôi tay làm được mọi việc”. Cũng chính đôi tay ấy đã cứu sống mẹ con bà Quế trong một lần hầm bị trúng bom. Ông Dung phải cào đến tứa máu hai bàn tay mới moi được mẹ con Quế lên khi cả hai đã xám ngoét.

Thời kỳ khổ sở nhất với ông Dung bắt đầu từ năm 1983, khi bà Quế đổ bệnh lao cột sống phải nằm liệt giường. Bà chết đi sống lại ở Bệnh viện lao Nghi Lộc suốt 10 năm trời, từ năm 1983-1992. Để có điều kiện chăm sóc bà Quế, ông Dung xin nghỉ hưu sớm. Sáng nào ông cũng tập tễnh đạp xe từ 5 giờ mang cơm đến viện đút cho bà ăn, tâm sự cho bà vơi bớt nỗi buồn. Dù sức khỏe không dồi dào song ông làm mọi việc: cuốc đất thuê, trồng rau, nuôi lợn, nấu rượu... để có tiền nuôi mẹ con bà Quế.

Sau khi Lập tốt nghiệp Trung học Lương thực Đà Nẵng, ông xin cho anh về làm ở Công ty Lương thực Vinh.

Năm 1992, chưa dành dụm được đồng nào, mẹ đang nằm viện mà Lập lại đòi lấy vợ. Bà Quế kể chuyện ông Dung cưới vợ cho con mình mà nước mắt rưng rưng. Bản thân ông chôn chặt nỗi đau về vợ con mình, chẳng dám đi bước nữa từ mấy chục năm nay, nhưng lại hai lần cưới vợ cho cả bố con người em kết nghĩa. Hôm đó, Lập dẫn người yêu tên Nguyễn Thị Nguyệt về trình diện ông Dung. Ông Dung bảo Nguyệt: “Mi nghĩ kỹ đi, lấy thằng Lập khổ đấy. Tao đã già, lại chỉ còn một chân, mẹ hắn thì bệnh tật”.

Nguyệt quyết đồng ý, ông đèo Nguyệt đến bệnh viện hỏi ý kiến bà Quế. Bà Quế gật đầu. Ông Dung lại hỏi Nguyệt: “Hai đứa cưới nhưng không có gì thì làm sao?”. Nguyệt thú thật: “Bác cho con đôi dép, cái nón và bộ quần áo mới là đủ”. Ông Dung đi vay được 200.000 đồng đưa cho Nguyệt một trăm để sắm sửa, một trăm còn lại ông mua cân chè xanh, bao thuốc và mấy gói kẹo mời bà con chòm xóm. Buổi rước dâu của cái đám cưới nghèo ấy còn in đậm trong lòng người dân làng Yên Hòa. Ông Dung chống nạng khập khễnh đi trước. Lập đi đôi dép rách quai, chiếc quần khâu ngang vá dọc. Bà Quế lưng còng teo tóp được hai người khiêng đi ngay sau chú rể.

Bà Quế không đi viện, nhưng ông Dung vẫn kiếm thuốc cho bà uống đều đều, rồi kiên trì dìu bà tập đi suốt cả năm trời. Vậy mà căn bệnh lao quái ác cứ lui dần. Tuy giờ tấm lưng vẫn còng rạp nhưng bà có thể nhấp nhểnh ra vườn hái rau được.

Ngày vợ chồng Lập sinh bé Ngô Kim Quang có lẽ là ngày hạnh phúc nhất trong ngôi nhà tin hin ở xóm Yên Hòa này. Ông Dung dồn hết lương, vay mượn thêm mổ con lợn 50kg, 10 con gà và mấy chục cân cá to khao cả làng. Ông làm như thế để bớt thấy mang lỗi với người em kết nghĩa của mình khi không tổ chức cưới xin đàng hoàng được cho Lập.

Tưởng rằng từ nay hạnh phúc và tiếng cười mãi rộn rã trong ngôi nhà bé tẹo ấy, nào ngờ cơ quan Lập làm ăn không ra sao, anh phải nghỉ việc không lương. Vậy là cả cái gia đình ấy lại phải sống nhờ lương hưu của bác Dung. Không có cách nào khác, vợ chồng Lập bỏ xứ vào Ninh Thuận kiếm sống. Ông Dung lại cắt một miếng đất bán lấy tiền cho vợ chồng Lập làm vốn. Hai đứa con của Lập để lại Vinh cho ông Dung nuôi. Lâu lắm rồi vợ chồng Lập vẫn không ra Bắc vì không có tiền. Hè nào ông Dung cũng cấp tiền cho bà Quế đưa hai cháu vào Ninh Thuận thăm bố mẹ. Vợ chồng Lập vẫn làm thuê làm mướn và sống nghèo khổ trong căn lều rách ngoài biển.

Niềm vui lớn nhất của ông Dung là hai đứa cháu đều học rất giỏi. Năm nào Quang cũng thi học sinh giỏi toàn thành phố. Đặc biệt năm 2002, em được giải nhất cuộc thi học sinh giỏi thành phố khối lớp 4. Vinh cũng học rất giỏi, các năm đều đạt danh hiệu học sinh nghèo vượt khó của tỉnh Nghệ An.

Điều ông Dung day dứt nhất là không biết người em kết nghĩa giờ nằm ở đâu. Mấy năm trước ông dành dụm tiền cho bà Quế vào Kontum tìm mộ theo giấy báo tử, nhưng bà đi mấy lần không thấy. Sau này đồng đội của ông Bản ở Nam Đàn tìm đến kể: ông Bản và 17 người khác khi chiến đấu bảo vệ kho đạn ở Phước Sơn thì kho đạn bị trúng pháo nổ rung trời. Cả 18 người đều tan thành cát bụi.

Giờ đây, cả bốn miệng ăn, tiền học phí của hai đứa trẻ đều trông vào đồng lương 1,5 triệu, lương hưu và lương thương binh hạng một của ông Dung. Nếu một mình ông Dung hưởng thì sống sung túc, nhưng nuôi bốn miệng ăn lại chẳng thấm vào đâu. Ông Dung phóng ánh mắt nhăn nheo lên tận trời xanh nói với tôi giọng sang sảng: “Tui chết thì hết, nhưng rồi không hiểu bà cháu nhà nó sống ra răng. Bà ấy khổ, hai đứa cháu khổ, tui xuống suối vàng gặp ông Bản khó nói lắm”.

PHẠM NGỌC DƯƠNG

Việt Báo
contentlength: 14207
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Xã Hội NỔI BẬT

Bơ vơ nỗi đau con trẻ sau đại tang 13 người chết ở Lương Điền

Chưa qua một giấc ngủ, hàng chục đứa trẻ thôn Lương Điền (xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) bỗng chốc mang thân phận mồ côi, đón tin dữ cha, mẹ tử vong sau vụ TNGT thảm khốc tại Quảng Nam

Bài viết khác

Xem tiếp >>