Qui định về giải tỏa, đền bù và hỗ trợ tái định cư ở TP Cần Thơ (tiếp theo)

11:42 25/05/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Bồi thường như thế nào đối với đất phi nông nghiệp là đất ở?

- Một số qui định cụ thể:

+ Diện tích đất ở là diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

+ Xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn ao:

Đất vườn, ao được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất có nhà ở trong khu dân cư.

Đối với trường hợp đất có vườn, ao được hình thành trước ngày 18-12-1980 và người sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì diện tích đất vườn, ao đó được xác định là đất ở.

Đối với trường hợp đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18-12-1980 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành và người sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất có vườn, ao được xác nhận theo giấy tờ đó.

Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18-12-1980 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà trong đó giấy tờ không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất có vườn ao được xác định như sau:

(Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định của UBND thành phố thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở của UBND thành phố.

(Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở theo qui định của UBND thành phố thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.

Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất qui định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai thì diện tích đất ở có vườn, ao được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhận theo quy định công nhận hạn mức đất ở của UBND thành phố.

- Việc bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở được qui định như sau:

+ Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

+ Diện tích đất bồi thường bằng giao đất ở mới cho người có đất bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất ở tại địa phương; trường hợp đất ở bị thu hồi có diện tích đất lớn hạn mức giao đất ở thì UBND thành phố căn cứ vào quỹ đất của địa phương và số nhân khẩu của hộ gia đình bị thu hồi đất xem xét, quyết định giao thêm một phần diện tích đất ở cho người bị thu hồi đất, nhưng không vượt quá diện tích đất ở bị thu hồi.

Xỷ lý một số trường hợp cụ thể về đất ở?

- Trường hợp diện tích đất ở còn lại cả người sử dụng đất sau khi nhà nước thu hồi nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo qui định của địa phương, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải hướng dẫn sử dụng theo qui hoạch chi tiết xây dựng đô thị và qui hoạch điểm dân cư nông thôn.

+ Nếu người bị thu hồi đất có yêu cầu Nhà nước thu hồi phần diện tích đất còn lại thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất để sử dụng theo quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn và phần diện tích còn lại được tính bồi thường theo giá trị quyền sử dụng đất như phần diện tích đất thu hồi trong qui định thống nhất theo chính sách chung.

+ Nếu diện tích còn lại ngoài chỉ giới giải phóng mặt bằng dưới hạn mức đất tối thiểu là 15m2 đối với đất đô thị là 100m2 đối với đất nông thôn hoặc lớn hơn 15m2 nhưng hình thể thửa đất không xây dựng được theo quy hoạch kiến trúc thì khuyến khích họ chuyển nhượng cho các hộ dân lân cận hoặc Nhà nước thu hồi toàn bộ để sử dụng vào mục đích khác và chủ sử dụng đất được bồi thường thống nhất theo chính sách chung.

- Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất thuộc đối tượng không bồi thường đất mà sau khi thu hồi xong không còn chỗ ở nào khác thì UBND thành phố xem xét giao đất ở mới đối với hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn: xem xét giao đất ở mới, cho mua nhà hoặc thuê nhà đối với hộ gia đình, cá nhân ở đô thị.

Người được thuê nhà hoặc mua nhà phải trả tiền mua nhà, thuê nhà, nộp tiền sử dụng đất theo qui định.

Bồi thường đất ở đối với người đang đồng quyền sử dụng đất?

Khi Nhà nước thu hồi đất mà giấy tờ về đất không xác định được diện tích đất thuộc quyền sử dụng riêng của từng tổ chức, từng hộ gia đình, cá nhân thì bồi thường chung cho các đối tượng có đồng quyền sử dụng đất, UBND quận, huyện hướng dẫn việc tiếp nhận và phân chia tiền bồi thường đất cho những người này đảm bảo nguyên tắc người được bồi thường trực tiếp nhận tiền bồi thường và tổng số tiền của từng tổ chức, từng hộ gia đình, cá nhân đang có đồng quyền sử dụng đất bằng tổng số tiền bồi thường cho toàn bộ diện tích đất đồng.

Bồi thường đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn?

- Khi Nhà nước thu hồi đất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn thì thực hiện bồi thường, hỗ trợ.

- Trường hợp Nhà nước không thu hồi đất thì đất nằm trong phạm vi hành lang an toàn được bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất như sau:

+ Làm thay đổi mục đích sử dụng đất

Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất ở sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở), từ đất ở sang đất nông nghiệp thì bồi thường bằng tiền theo mức chênh lệch giữa đất ở với giá đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở), giữa giá đất ở với giá đất nông nghiệp.

Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) sang đất nông nghiệp thì bồi thường bằng chênh lệch giữa giá đất phi nông nghiệp (không phải đất ở) với giá đất nông nghiệp

+ Không làm thay đổi mục đích sử dụng đất (nhà ở, công trình đủ điều kiện tồn tại trong hành lang an toàn bảo vệ của công trình), nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng thì được bồi thường bằng tiền theo mức thiệt hại thực tế.

Mức bồi thường bằng diện tích đất bị hạn chế sử dụng với chênh lệch giá giữa giá đất tại thời điểm trước trừ giá đất tại thời điểm sau khi có quyết định thu hồi đất để xây dựng công trình.

Mức cụ thể do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án trình UBND thành phố phê duyệt phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, nhưng mức độ bồi thường tối đa không quá 50% giá đất tại thời điểm trước khi có quyết định thu hồi đất để xây dựng công trình.

+ Khi hành lanh bảo vệ an toàn công trình chiếm dụng một khoảng không trên 70% diện tích đất sử dụng có nhà ở, công trình của một chủ sử dụng đất thì phần diện tích đất còn lại cũng được bồi thường theo quy định tại thời điểm như nêu ở trên.

+ Các loại đất sau đây không được bồi thường, hỗ trợ:

Đất được nhà nước cho thuê, đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng, đất phi nông nghiệp được giao không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc nộp tiền sử dụng đất bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

Đất không đủ điều kiện được bồi thường theo qui định.

+ Nhà ở, công trình xây dựng và các tài sản khác nằm trong phạm vi hành lang an toàn:

Nhà ở, công trình xây dựng và các và các tài sản khác bị tháo dỡ, di chuyển toàn bộ được bồi thường theo hạn mức thiệt hại thực tế theo quy định ở phần sau.

Nhà ở, công trình xây dựng có trước khi hành lang bảo vệ an toàn công bố, có đủ các điều kiện được tồn tại trong hành lang, không bị thiệt hại nhưng bị hạn chế khả năng sử dụng thì được hỗ trợ như sau:

Nhà lầu (sàn bêtông) là 10% phần giá trị nhà ở, công trình tính trên diện tích nằm trong hành lang bảo vệ an toàn.

Nhà còn lại và công trình phụ độc lập là 30% giá trị phần nhà ở, công trình tính đến diện tích nằm trong hành lang bảo vệ an toàn.

Nhà ở công trình không đảm bảo các điều kiện an toàn, phải tháo dỡ một phần hoặc thực hiện các biện pháp sửa chữa, cải tạo để đảm bảo các điều kiện tồn tại trong hành lang an toàn thì được bồi thường phần bị tháo dỡ, cải tạo sửa chữa nhà ở, công trình.

Ngoài ra, nếu nhà, công trình và các tài sản khác bị hạn chế khả năng sử dụng thuộc đối tượng được hỗ trợ trên thì được tính cho toàn bộ diện tích của nhà, công trình.

Nhà, công trình không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định nguyên tắc bồi thường tài sản thì phải phá dỡ và không được bồi thường, hỗ trợ.

Nhà, công trình sau khi chủ đầu tư đã thực hiện chính sách bồi thường và hỗ trợ mà có đủ điều kiện tồn tại trong hành lang bảo vệ an toàn, nếu chủ nhà, công trình có nguyện vọng di chuyển ra khỏi hành lang an toàn thì tự thực hiện việc di chuyển, không được nhận thêm một khoản chi phí bồi thường, hỗ trợ nào khác.

Trường hợp nào khi tổ chức bị thu hồi đất nhưng không được bồi thường?

Tổ chức bị thu hồi đất mà không được bồi thường theo quy định ở khoản 2 trong Quy định về việc bồi thường với đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp; nếu phải di dời đến cơ sở mới thì được hỗ trợ bằng tiền theo dự án đầu tư được cấp thẩm quyền phê duyệt; mức hỗ trợ tối đa không quá mức bồi thường đất bị thu hồi do tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chi trả, cụ thể như sau:

- Các tổ chức là cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc đã nộp tiền sử dụng đất bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo hướng dẫn tại khoản 3 mục giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu tiền đầu tư không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước).

Trường hợp phải di chuyển đến cơ sở mới thì được hỗ trợ bằng tiền để thực hiện dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt; mức hỗ trợ tối đa không quá mức bồi thường cho đất bị thu hồi do người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chi trả.

- Tổ chức bị thu hồi đất được sử dụng số tiền này để đầu tư tại cơ sở mới theo dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nếu số tiền này không sử dụng hết cho dự án đầu tư tại cơ sở mới, thì phải nộp số tiền còn lại vào ngân sách nhà nước theo qui định của Luật ngân sách nhà nước.

- Tổ chức không thuộc đối tượng trên thì được hỗ trợ di dời theo qui định do Thủ tướng Chính phủ qui định.

Những nguyên tắc bồi thường tài sản khi Nhà nước thu hồi đất

- Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà đất bị thiệt hại thì được bồi thường.

- Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà đất đó thuộc đối tượng không được bồi thường thì từng trường hợp cụ thể được bồi thường hoặc hỗ trợ tài sản.

- Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất công bố mà không cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép xây dựng thì không được bồi thường.

- Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau ngày 1-7- 2004 mà tại thời điểm xây dựng đã trái với mục đích sử dụng đất đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xét duyệt thì không được bồi thường.

- Tài sản gắn liền với đất được tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất được công bố thì không được bồi thường, bao gồm cả cây trồng trên đất.

- Hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất có thể tháo dời và di chuyển được thì chỉ được bồi thường các chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt và thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt; mức bồi thường do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án đề xuất UBND thành phố xem xét, quyết định phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và thực tế ở địa phương.

Bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất như thế nào?

- Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ xây dựng ban hành.

Giá trị bồi thường = Diện tích sử dụng (m2) x Đơn giá (đồng/m2)

- Đối với nhà ở, công trình xây dựng khác không thuộc qui định trên được bồi thường theo mức sau:

+ Giá trị bồi thường = Diện tích sử dụng (m2) x Đơn giá (đồng/m2) x tỉ lệ (%) chất lượng sử dụng còn lại.

+ Tỉ lệ (%) chất lượng sử dụng còn lại của nhà, công trình được xác định theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng.

+ Đối với công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, mức bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn của kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành; nếu công trình không còn sử dụng được hoặc thực tế không sử dụng thì Nhà nước thu hồi không được bồi thường.

- Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, mà phần còn lại không còn sử dụng được thì được bồi thường cho nhà, công trình; hoặc nhà, công trình xây dựng bị phá dỡ làm ảnh hưởng đến các công trình khác trong cùng một khuôn viên đất nhưng vẫn không tồn tại, song không thể xây dựng được theo thiết kế, quy hoạch xây dựng ban đầu thì được bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình:

Trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ. Ngoài ra còn được hỗ trợ chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ, cụ thể như sau:

Nhà lầu: 3 triệu đồng/ hộ.

Nhà trệt (vách tường): 2 triệu đồng/hộ.

Nhà còn lại: 1 triệu đồng/hộ.

- Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp qui định tại các khoản 4, 6, 7 và 10 Điều 38 Luật Đất đai thì được bồi thường, cụ thể như sau:

+ Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất

+ Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:

Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm

Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo qui định của Luật Đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm.

+ Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế

+ Đất được nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn.

- Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp qui định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 9, 11 và 12 Điều 38 Luật Đất đai 2003 thì việc xử lý tài sản thực hiện theo qui định tai Điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.

>> Qui định về giải tỏa, đền bù và hỗ trợ tái định cư ở TP Cần Thơ (phần trước)

PV

Việt Báo
contentlength: 21365
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Cách kéo dài tuổi thọ đơn giản nhờ ăn trứng
00:00 / --:--