Nghề bóng cua và những cuộc đời trôi nổi...

16:08 22/05/2004
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Nghe bong cua va nhung cuoc doi troi noi
Chuẩn bị vớt bóng.

Nếu không để ý thì người dân Đà Nẵng chẳng bao giờ lưu tâm đến những chiếc ghe nhỏ đang xuôi ngược trên sông Hàn. Và nếu không tìm hiểu, hẳn mọi người nghĩ rằng đó là những ghe đang làm nghề bủa cá. Thực ra, đó là một nghề rất độc đáo: nghề bóng cua.

Hiện nay, có khoảng 47 chiếc ghe đang làm nghề bóng cua, trên sông Hàn 15 chiếc và Quảng Nam 32 chiếc, chia ra 15 chiếc ở Bình Giang (Thăng Bình), 15 chiếc ở Duy Vinh (Duy Xuyên) và 2 chiếc ở Núi Thành. Một điều rất đặc biệt là chỉ những người trong họ Trần - Bình Giang (Thăng Bình, Quảng Nam) sinh sống bằng nghề này. Trên sông Hàn, trong 15 chiếc ghe đang hành nghề thì gia đình ông Trần Văn Đỡ đã góp đến 9 chiếc...

Cách đây hơn 200 năm, từ cuộc mưu sinh trên sông nước, một nhóm người tộc Trần sinh sống trên sông Bình Giang, đã phát hiện trên sông có rất nhiều cua nhưng nếu bủa như cá sẽ không hiệu quả. Mày mò, họ đã chế ra một dụng cụ để bắt cua gọi là bóng. Bóng cua đan bằng tre giống lờ bắt cá nhưng có cần để khi cua bò vào sẽ sập xuống. Không bao giờ nghề này được truyền ra ngoài và có rất nhiều mẹo nhưng bí quyết cuối cùng nằm ở cần bật cua nên người làm nghề là phải biết đan bóng. Tuy nhiều người lăm le ăn cắp nghề nhưng chưa lần nào thành công và đã hơn 2 thế kỷ qua, tộc Trần vẫn độc quyền nắm giữ. Sau nhiều năm xuôi ngược sông Trường Giang, đến năm 1975, tất cả dừng hẳn lại ở sông Duy Vinh. Ông Trần Văn Non - năm nay đã 60 tuổi - nhớ lại: ”Thời đó, cuộc sống cứ lênh đênh trên sông nước, cả dòng tộc không có một người biết chữ và kiếm đủ cái ăn đã là may mắn. Lọt lòng ở trên sông nên từ nhỏ xíu, tôi đã thành thạo nghề bóng cua”. Ông Trần Văn Đỡ tiếp lời: ”Vào mùa đông, dù ghe được cắm ở chỗ kín gió vẫn bị mưa bão quất tơi bời. Nhờ biết bơi nên đàn ông ít chết chứ đàn bà và con nít cứ thường bị rớt xuống sông chết đuối. Cứ có người chết là bó xác trong chiếu, chờ đêm xuống để ngang qua, dừng lại cồn cát nào đó rồi len lén vùi xác vội vàng, chỉ kịp làm dấu để sau này đi ngang thắp cho người thân một nén hương. Vô phước nếu để người sống trên bờ thấy được thì sẽ bị bắt đào xác lên lại. Thủa ấy, đúng là chúng tôi không có một miếng đất để cắm dùi”.

Nghe bong cua va nhung cuoc doi troi noi

Nghề vớt bóng, quanh năm lênh đênh trên sông nước.

Vào năm 1976, tất cả dân làm nghề bóng cua được đưa đi kinh tế mới ở Đắc Lắc. Cả đời chưa sống trọn một ngày khỏi cảnh sông nước nhưng giờ phải kiếm ăn trên đất liền, dân bóng cua như cá mắc cạn. Cuối năm 1978, họ chạy về Duy Vinh đóng ghe sống lại với nghề. Do chính quyền quản lý hộ khẩu nên dân bóng cua cắm vội, cắm vàng những cái chòi trên bãi đất bồi ven sông, đăng ký hộ khẩu để... lênh đênh tiếp. Anh Trần Văn Sanh cười nói: ”Đúng là nhờ cách mạng nên dân bóng cua hôm nay đã có nhà, có hộ khẩu, chứ thời ông cha bọn tôi đến cái tên cúng cơm cũng không được ai công nhận”. Mặc cảm đeo đẳng dân bóng cua tự bao đời nhưng bây giờ, nỗi vui, niềm tự hào hiện rõ trong câu nói của họ khi được xã hội công nhận là một công dân thực sự. Tôi đoan chắc, niềm vui này chắc rất lạ lẫm với những người chưa từng thấm thía cuộc sống ngoài-vòng-pháp-luật của dân bóng cua...

Tuy chỉ cần 4 giờ chạy ghe máy, từ sông Hàn đã về tới Duy Vinh nhưng do ngày đêm mải miết trên sông, phải đến cả tháng trời, những người làm nghề bóng cua mới về thăm nhà. Ngay cả những đứa trẻ cũng theo cha mẹ sống trên ghe, đến 6 tuổi, mới gởi về nhà để đi học. Lúc này, 2 tàu giã cao tốc đang thử máy quần liên tục trên sông làm những chiếc ghe lắc lư, chao đảo như muốn lật úp. Vậy mà, cháu bé chưa đầy 1 tuổi, con của anh Đông, vẫn ngồi chơi bình thản. Sống cạnh con cái như vậy nhưng dân bóng cua chẳng có mấy thời gian chăm bẳm khi từ 7 giờ, họ bắt đầu bỏ mồi và đến 11 giờ thì kéo bóng lên bắt cua và thay mồi khác. Vào 17 giờ, họ kéo bóng một lần nữa để đến 4 giờ sáng hôm sau, họ có lần kéo bóng cuối cùng. Và cứ thế, công việc kéo dài từ ngày này sang tháng khác ! Giữa những khoảng thời gian ấy, họ lại hì hục vót tre đan bóng mà nếu làm giỏi, cũng chỉ đan được 10 bóng mỗi ngày. Mùa hè khi có gió nam là lúc cua ăn mồi nhiều nhất nhưng 400 bóng cũng bắt được chừng 40 con cua. Còn bình thường, một lần kéo bóng chỉ bắt được khoảng 7-10 con và có lúc, 400 bóng kéo lên chỉ vỏn vẹn...1 con. Tuy giá cua khoảng 40-80 ngàn đồng/kg nhưng để có được 1 kg cua, chẳng phải đơn giản ! Song vì cuộc mưu sinh, những con người làm nghề bóng cua vẫn mải miết trên những dòng sông khi từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau (theo âm lịch), họ làm ở sông Hàn và từ tháng 4 đến tháng 7, họ xuôi về sông Bàn Thạch (Duy Vinh). Khoảng thời gian còn lại trong năm là những ngày tháng rong ruổi trên sông Hội An hay sông Tam Kỳ.

Nghe tôi hỏi về con cái, không khí chùng hẳn, nhất là những người đàn bà, khi họ đang nghĩ về những đứa trẻ. Do đặc thù của nghề, hầu như những người làm nghề bóng cua đều sống gần hết thời gian trong 1 năm trên sông. Gởi con lại cho người thân nuôi dưỡng, chăm sóc, tất cả đều mong con cái được học cái chữ để đổi đời. Vẫn quý nghề ông cha để lại nhưng trong sâu thẳm họ không muốn đời sau lặp lại cuộc sống buồn tủi, cơ cực và không kém phần nguy hiểm này. Năm ngoái, khi nước nguồn đổ về, chiếc ghe của vợ chồng anh Trần Văn Đi bị gió làm lật úp. Cả hai phải cố bám vào chân cầu Nguyễn Văn Trỗi và may mắn được vớt lên kịp thời, còn chiếc ghe trôi xuống tận Thuận Phước và bị mất. Rồi “họa vô đơn chí” khi vừa chạy vạy tiền đóng ghe mới để làm nghề lại thì nghe tin con bị đau nặng, anh vội vã mượn xe máy về thăm con và chính anh gặp phải tai nạn. Không có 5 triệu đồng để phẫu thuật, hiện giờ, anh phải nằm nhà để hy vọng, sau đận này, những rủi ro sẽ không còn đeo bám mình lần nữa. Còn anh Trần Văn Long không giấu được những bức bối: ”Chúng tôi là dân nghèo, làm ăn lương thiện nhưng có một số người cứ tìm cách ngăn trở. Một ghe thả được 400 cái bóng mà những người này đang tâm bóp nát tất cả. Một số còn cố tình áp thuyền máy để dây bóng mắc vào chân vịt rồi chạy ra xa vứt hết. Mong sao chính quyền ở các phường, các quận dọc sông Hàn giúp đỡ để chúng tôi yên ổn làm nghề”.

Khi tất cả đều nhiệt tình mời tôi về nhà thăm chơi, ngoài sự chân chất của những con người sống cùng sông nước, họ vẫn muốn mọi người tin vào một điều rất đỗi bình thường “Tụi em làm nghề ở hoài trên sông nhưng đều có nhà, có hộ khẩu đàng hoàng ở Duy Vinh cả”. Dù tự hào về một nghề độc quyền của cha ông để lại, chắc rằng, trong tiềm thức mỗi người vẫn không dễ gột rửa mặc cảm đã có tự bao đời. Có thể, mai sau, lớp con cháu của dân bóng cua được học hành tử tế và sẽ có một lối rẽ khác tốt đẹp hơn, sáng sủa hơn nhưng rồi nghề bóng cua sẽ mai một, vẫn cảm thấy không ít tiếc nuối. Rồi mai đây, nếu ai biết đã từng có nghề bóng cua, sẽ có dịp kể cho con cháu nghe như một câu chuyện cổ tích rằng, ngày xửa, ngày xưa... có một tộc Trần ở Bình Giang chuyên sống trên sông làm nghề bóng cua. Họ không có một tấc đất và khi có người chết, phải lấy chiếu bó xác, chờ đêm đến để vùi lấp trên một bãi sông...

Thu Hà

Việt Báo
contentlength: 10750
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Xã Hội NỔI BẬT

Bơ vơ nỗi đau con trẻ sau đại tang 13 người chết ở Lương Điền

Chưa qua một giấc ngủ, hàng chục đứa trẻ thôn Lương Điền (xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) bỗng chốc mang thân phận mồ côi, đón tin dữ cha, mẹ tử vong sau vụ TNGT thảm khốc tại Quảng Nam