Lương thực cho đồng bào Rục - Bài toán khó

Thứ sáu, 20 Tháng mười 2006, 09:06 GMT+7
  • Luong thuc cho dong bao Ruc Bai toan kho
    132/171 hộ ngườI Rục đã được cấp nhà khang trang

    - Sau khi các báo đưa tin bà con người Rục ở vùng cao tỉnh Quảng Bình hết gạo ăn đã 3 tháng, Sở Lao động-Thương binh-Xã hội tỉnh Quảng Bình trong một báo cáo mới nhất đã cho biết: “Việc thiếu gạo là tình trạng chung của đồng bào dân tộc thiểu số vùng miền núi của tỉnh, nơi có tỉ lệ hộ đói, nghèo còn cao, trong đó vùng đồng bào Rục, lương thực chủ yếu là sắn và ngô”.

    Lãnh đạo tỉnh Quảng Bình trao đổi với báo chí cũng nhấn mạnh: “Lương thực chính của người Rục là sắn và ngô nên thiếu gạo không thể gọi là đói, là đứt bữa được”. Chúng tôi không tham gia tranh biện về khái niệm đói, mà chỉ kêu gọi giải pháp hiệu quả và lâu dài về lương thực cho đồng bào Rục.


    “Người con út” của đại gia đình Việt Nam


    Các nhà dân tộc học đã gọi thân ái người Rục như vậy vì đây là dân tộc được phát hiện cuối cùng trong đại gia đình các dân tộc ở Việt Nam. Gần 50 năm trước, vào tháng 8/1959, các chiến sĩ đồn biên phòng Cà Xèng mới phát hiện 34 người Rục (thuộc nhóm dân tộc Chứt bao gồm Sách, Mày, Rục, A Rem, Mã Liềng, nói tiếng Nguồn) sống trong hang đá Cà Rưng. Lúc ấy, người Rục đang đứng bên bờ thảm họa diệt vong. Nhóm người ít ỏi này sống lẩn khuất giữa đại ngàn, như hai nhà nghiên cứu người Pháp là A. Cheon và T. Guignard đã từng nhận xét vào những năm đầu thế kỷ 20: “Người Rục không thích giao tiếp người lạ, sống gần như người nguyên thủy, lấy hang đá làm nhà, che thân bằng vỏ cây sui, lương thực là bột lấy từ củ cây nhút, là thịt thú rừng và cá cua ở khe suối...”.Đến nay, trong bữa ăn của người Rục vẫn có món “truyền thống” gọi là bồi. Nguyên liệu chính của bồi là bột sắn ráo nước trộn thêm bột ngô. Chế biến đơn giản: hấp cách thủy. Gia vị cũng đơn giản: chấm muối ớt. Đôi khi ăn kèm với măng rừng. Với điều kiện sống du canh du cư, xa cách các dân tộc phát triển, gần như tách biệt hoàn toàn thế giới bên ngoài, đúng là trước tháng 8.1959 người Rục không thể biết hạt gạo là gì.


    Nửa thế kỷ giữa cộng đồng Việt


    Nhưng ngay sau khi phát hiện “người con út” của đại gia đình Việt, nhà nước đã có chính sách bảo tồn dân tộc Rục, đầu tư tổ chức đời sống định canh định cư ở bản Mo Ó, Ồ Ồ và bản Ón, thuộc xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình. (Theo tiếng Nguồn, Mo Ó nghĩa là khe suối, Ồ Ồ là tiếng nước chảy và Ón nghĩa là mới, ý chỉ nơi mới định cư). Đến nay, từ 34 con người giữa đại ngàn nguyên thủy, người Rục đã phát triển thành một cộng đồng khoảng 500 người.


    Trong gần nửa thế kỷ sống trong cộng đồng Việt, đồng bào Rục liên tục nhận được sự quan tâm và đầu tư của nhà nước, đoàn thể xã hội, những chương trình tài trợ quốc tế... Những ngôi nhà ngói khang trang đã được dựng lên, trẻ con được đến trường, người lớn được hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, được dạy cách mua bán... Tất nhiên, “bề dày kinh nghiệm” ở rừng sâu không dễ gì thay đổi ngay, cộng với những yếu kém của cán bộ trong công tác tuyên truyền, hướng dẫn, nên quá trình chuyển hóa để vươn tới cuộc sống văn minh, văn hóa của người Rục vô cùng khó khăn. Không ít bà con đã năm lần bảy lượt rời bỏ cái nhà để quay lại cái hang sau khi ăn hết gạo trợ cấp, tiêu hết đồng tiền trợ cấp mà không thể “an cư lạc nghiệp”. Nhưng nhà nước vẫn kiên trì, đã năm lần bảy lượt đón bà con trở lại với cộng đồng. Gần đây nhất, mộåt dự án 32 tỷ đồng thực hiện trong 3 năm (2003-2005) với mục tiêu thu hẹp khoảng cách giữa 171 hộ đồng bào Rục với xã hội bên ngoài, nghĩa đen lẫn nghĩa bóng:96,55% số hộ có điện sinh hoạt, mỗi bản đều có trường học, trạm y tế, nhà văn hóa. 132/171 hộ được cấp nhà kiên cố lợp ngói. Và quan trọng hơn cả là một con đường bê-tông dài 10 cây số nối quốc lộ 12A đến tận “trung tâm Rục”. Người Rục giờ đây chỉ cần 2 tiếng đồng hồ đi bộ trên con đường phẳng phiu mang tên “đường Rục” ấy là đến huyện lỵ Minh Hóa.



    Còn nhiều bài toán nan giải


    Thế nhưng, trong báo cáo mới nhất, Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Bình thừa nhận: “Tình hình thiếu lương thực ở đây vẫn xảy ra do một bộ phận bà con chưa quen với sản xuất nông nghiệp (do ở vùng núi cao nên không có đất làm lúa nước, chỉ làm lúa rẫy, trồng ngô, sắn, đậu đỗ, nhưng lại thiếu kinh nghiệm chăm bón, thâm canh và bảo vệ, trong lúc đó tập quán chăn nuôi trâu bò lại thả rong phá hoại mùa màng) nên đến kỳ giáp hạt thường bị thiếu đói và vẫn trông chờ vào trợ cấp của nhà nước...”. Ở một góc nhìn khác, báo cáo cho thấy các chương trình, các dự án (ngốn những khoản kinh phí không nhỏ) dành cho bà con người Rục không có hiệu quả bao nhiêu. Ở vùng này, hộ nào đủ ăn ngay cả lúc giáp hạt là đã được xem “sản xuất giỏi”. Tháng 4/2005,anh Cao Tiến Thuỳnh, một người Rục bản Mò O, được đánh giá cao trong Hội nghị biểu dương đại biểu các dân tộc thiểu số sản xuất kinh doanh giỏi vì đã khai hoang được 2 ha đất để trồng lúa, bắp và sắn. Tuy nhiên anh vẫn là người có thu nhập thấp cách biệt so với các đại biểu trong hội nghị.


    Có thể nói kế sách điều chỉnh cơ chế kinh tế cho cộng đồng người Rục gần nửa thế kỷ đã trở lại bằng không khi chưa thể coi gạo là lương thực chính, khi không có gạo ăn vẫn được xem là chưa bị đói. Bởi một trong những thay đổi quan trọng của người Rục kể từ cuối năm 1959 là trong bữa ăn của họ đã có cơm, bên cạnh bắp, sắn. Hãy nhớ rằng những đứa trẻ người Rục đầu tiên được bộ đội biên phòng Cà Xèng cho nếm vị ngọt thơm của hạt gạo đến nay đã trên 50 tuổi.

    Bảo Chương

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Lương thực cho đồng bào Rục - Bài toán khó

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Lương thực cho đồng bào Rục - Bài toán khó bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Luong thuc cho dong bao Ruc Bai toan kho ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Lương thực cho đồng bào Rục - Bài toán khó ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Xã Hội của chuyên mục Xã Hội.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - XÃ HỘI - TIN XÃ HỘI