Luật pháp và sự phát triển

15:01 02/12/2007
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Khi ban bố luật pháp, chính quyền muốn đưa ra một khuôn khổ để mọi người dân hoạt động trong vòng đó. Trong phạm vi cá nhân, có ba yếu tố tác động đến khuôn khổ này của mỗi người: chính họ (người bị điều chỉnh); chính quyền đặt ra khuôn khổ (người điều chỉnh) và sự phù hợp giữa khuôn khổ với khả năng thích ứng của mỗi người.

Ba yếu tố ấy tương tác với nhau để phục vụ một nhu cầu căn bản nằm sâu dưới khả năng thích ứng kia mà mỗi người cần. Đó là sự “ổn cố và tiên đoán được”. Chỉ khi ấy người ta mới làm việc, để dành và đầu tư.

Cái cuối làm cho kinh tế phát triển với ý nghĩa là giải quyết nhu cầu cuộc sống (ăn no mặc ấm) rồi nâng chất lượng cuộc sống (ăn ngon mặc đẹp). Thoạt đầu người ta đầu tư thì không phải là cho đất nước mà là cho chính họ và con cháu; nhưng lợi tức để dành được giao cho người khác (ngân hàng, chứng khoán…) và cái sau làm cho nền kinh tế phát triển. Chúng ta sẽ nhìn tác động của luật pháp trong bối cảnh trên.

Người bị điều chỉnh

Người bị điều chỉnh tác động đến khuôn khổ mà người điều chỉnh lập ra khá nhiều. Thường thường khi nhận xét về luật pháp, người ta có khuynh hướng chỉ trích luật bó chặt, bất cập… mà quên mất người bị điều chỉnh. Họ tuân thủ luật pháp như thế nào? Khi mà người bị điều chỉnh lập công ty ma, mua hóa đơn đỏ, rồi bán cho nhau để được bồi hoàn thuế VAT thì khó có thể có một luật cởi mở, hoặc không mở ra rồi thắt lại.

Bàn đến việc tuân thủ luật pháp của người bị điều chỉnh thì việc ấy tùy thuộc vào một yếu tố khác, sâu xa hơn, ấy là trong những con người kia, đạo đức nhân bản của họ có nhiều hay ít; hay họ có đạo đức cá nhân không. Đạo đức nhân bản hướng dẫn hành động của họ; nên làm hay không làm, họ tự quyết định; chứ không phải vì sợ người khác phê bình, hay sợ bị phạt. Các đức tính ấy là công bằng, trách nhiệm, liêm khiết, lòng nhân ái… Trước khi biết tuân thủ luật pháp, họ phải được dạy dỗ về các đức tính này. Vậy sống trong gia đình họ có được dạy dỗ không; ngoài xã hội các đức tính đó có được củng cố không?

Vậy đối với người bị điều chỉnh, chỉ có luật pháp không thôi thì chưa đủ để nó buộc người ta phải tuân thủ; mà phải do chính người ấy tự nguyện tuân giữ, không bị tùy thuộc vào người khác. Sự tự nguyện kia bắt nguồn từ đạo đức nhân bản. Bởi thế cho nên, khi chúng ta được người ngoài khen ngợi là phát triển thì cần nhìn đến đạo đức nhân bản của xã hội ta để xem sự phát triển kia có thật không và có bền vững không. Nó sẽ không bền khi đạo đức nhân bản của các thành viên xã hội kém. Thí dụ nói phát triển mà ra đường thì bị kẹt xe, vì không ai nghĩ đến chuyện nhường ai.

Người điều chỉnh

Người điều chỉnh phải cân bằng giữa: (1) các điều mình muốn người bị điều chỉnh giữ và (2) nhu cầu cần ổn cố và tiên đoán được của họ. Muốn người ta chấp hành thì phải để cho họ biết trước và quen dần (luật thuế thu nhập cá nhân bàn từ năm nay, đến 2009 mới áp dụng là một ví dụ). Luật ấy đang được tạo lập dựa trên sự đáp ứng nhu cầu nhân bản này. Chính quyền muốn tạo lập sự công bằng đó là mục đích khi ra luật; nhưng phải cho người dân “tiên đoán được để họ ổn cố”.

Có những lĩnh vực mới luật pháp phải điều chỉnh ngay như quản lý blog (nếu có), chữ ký điện tử, chuyển giao công nghệ… thì luật có thể có hiệu lực sau 15 ngày đăng công báo. Lý do là vì chúng là những lĩnh vực mới phát sinh và bắt nguồn từ sự phát triển của công nghệ đã xảy ra trong cuộc sống; hơn nữa số người bị điều chỉnh không nhiều. Ngoài ra họ muốn hưởng dụng ngay vì cần cho công việc. Khi đã muốn thì họ đã “tiên đoán được”. Luật ban hành mà không đáp ứng nhu cầu căn bản này của họ thì họ sẽ tìm cách tránh né.

Khi hai người thông đồng với nhau thì họ sẽ qua mặt luật pháp (thí dụ cán bộ trại giam mở cửa cho phạm nhân nam nữ gặp nhau). Luật pháp khắt khe đến nỗi dân phải a tòng thì khi ấy đã vô tình tạo ra một thế giới ngầm và trở thành “những dòng chữ chết”. Tương tự, án lệ ở trong hệ thống luật pháp của các nước khác là nhằm đáp ứng nhu cầu nhân bản này của công dân họ; chứ không phải tại vì… ý thức hệ mà hệ thống của ta phải nhất quyết bác bỏ.

Ngoài ra còn hai điểm quan trọng mà người điều chỉnh phải nhận thức. Một là, chính quyền là người mạnh, ở thế thượng phong; cho nên khi giao tiếp với công dân thì chấp nhận chịu thiệt thòi trước, giống như doanh nhân họ làm ăn với nhau: cơ hội có, mỗi bên nhường nhau một tí để cơ hội mang lại lợi ích cho cả hai.

Có người bảo nền hành chính nên hoạt động như một doanh nghiệp; nhưng không biết đến tinh thần này! Bởi vậy, khi có 10 người vi phạm một quy định nào đó còn 90 người không; thì chính quyền không nên sửa đổi luật chỉ để đối phó với 10 người kia; khiến cho 90 bị thiệt vì bị coi là người xấu. Hơn nữa, đối với 10 người kia, chỉ cần bắt một người, phạt đúng người đúng tội và thật nặng là số còn lại sẽ e dè ngay. Đó là gốc rễ của sự hữu hiệu của luật pháp; và cũng là cách làm cho cái thiện được củng cố, người thiện trong xã hội gia tăng.

Hai là, người điều chỉnh phải thực tế, nắm bắt tâm lý và nhu cầu của người bị điều chỉnh để giữ họ trong khuôn khổ mình muốn; chứ không nên ban hành luật để chỉ phục vụ lợi ích của mình, mặc kệ họ. Điều này dẫn đến điểm sau cùng.

Sự phù hợp của khuôn khổ

Khuôn khổ mà luật ấn định không thích ứng với khả năng thích nghi của người bị điều chỉnh thì sẽ không làm kinh tế phát triển; vì không đáp ứng nhu cầu của họ. Tôi xin nêu một bằng chứng. Đó là luật đất đai (LĐĐ). Luật này đã tạo nên nhiều phen ngậm ngùi vì “đợi chờ không nguôi” cho người bị điều chỉnh lẫn người đi điều chỉnh.

LĐĐ được xây dựng trên chủ trương gì và cho mục đích nào chúng ta đã biết. Để thực hiện chủ trương đó luật đã đề ra bốn nguyên tắc: (i) chỉ cho dân quyền sử dụng đất để thu tiền sử dụng đất và tiền thuê đất; (ii) cấp đất theo mục đích sử dụng; (iii) không cho chuyển nhượng và (iv) đất tăng giá thì nhà nước lấy.

Theo nguyên tắc thứ nhất, thì về mặt quản lý rất kém. Quản lý đất mà không lập sổ bộ! Đất không kiểm mà lại đi kiểm người ra vào khu đất! Phải mất 16 năm mới nhận ra điều này, từ 1987 - 2003. Khi nhận ra thì cũng không biết khó khăn của việc ấy; nên ra lệnh ba năm phải xong! Sự thật không như thế và bây giờ Quốc hội cho gia hạn đến 2010. Liệu xong vào dịp đó không? Đến 30/7/2007 này mới có 37 tỉnh xong 70%. Lý do không nghĩ đến việc lập sổ bộ có thể là (i) các sự xáo trộn về đất do các cuộc cải tạo gây ra; (ii) nghĩ rằng đất là của mình thì cần gì phải làm sổ bộ; kể cả chuyên gia! Thất bại thê thảm về mặt quản lý. Nó kéo dài hơn 30 năm, và còn nữa, nên nhạt nhòa theo ngày tháng dần trôi, ta không nhận ra!

Nguyên tắc thứ ba là sự chối bỏ thực tế. Người có đất và người cần đất đã chuyển “quyền” cho nhau bằng giấy tay; họ đã tránh thuế được. Quá trình ấy đã tạo ra bao nhiêu là lạm dụng ở cấp chính quyền địa phương. Đến độ, gần đây tỉnh Tây Ninh phải kiểm tra viên chức nào có trên 10ha đất. Gớm, họ nắm đất rộng như vậy mà chính quyền không biết rõ! Phải mất 16 năm với bốn lần thay luật, nhà soạn luật mới công nhận thực tế và cho chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong nội dung bảy quyền. Tưởng là phong phú và là một sáng kiến; thật ra nó chỉ là quyền định đoạt nằm trong quyền sở hữu vốn chỉ có ba quyền là giữ, dùng và định đoạt.

Nguyên tắc bốn là một phản ứng chứ không phải là một biện pháp vì nó có nhiều phản ứng phụ. Nhiều năm nhà nước không thu được bao nhiêu tiền; vốn thấp vì chú trọng việc đền bù khi đất bị giải tỏa cho một lợi ích chung của chính quyền (chỉ nghĩ cho mỗi mình thôi). Vì đã không thu được mấy thì nay phải lấy bù lại. Do vậy, LĐĐ 2003 sau khi chấp nhận cho chuyển nhượng thì ấn định giá đất mới và nói rằng tương đương giá thị trường; lại còn cho định lại từng năm (giá đất tăng chính quyền lấy là vậy).

Giá đất chính thức đưa ra năm 2004 là giá đầu cơ đang thịnh hành; chứ không phải giá thị trường; bởi vì không có thị trường bất động sản! Giá đầu cơ là giá mà người bán muốn thu lại một lần và cao hơn lúc mua. Giá thị trường là giá mà người mua chỉ có thể lấy lại sau vài năm kinh doanh (qua khấu hao và làm ăn lời lãi). Hậu quả là giá đất tăng vượt khỏi khả năng thu lại vốn của nhà đầu tư cũng như số tiền để dành của người cần nhà ở. Thị trường bất động sản đóng băng ngay lập tức! Một hai lần sôi động lại chỉ là ở một hai địa điểm và do lời lãi chứng khoán.

Vốn cũng là một lợi tức ngắn hạn. Đất đai, vì thiếu địa bộ, nên chưa trở thành tư bản (vốn) để chuyển từ người nọ sang người kia dễ dàng. Giá quá cao nên nó vẫn đứng ngoài nền kinh tế. Kinh tế phát triển là nhờ vào niềm tin giữa con người với nhau: một tờ giấy trở nên có giá (chứng khoán) là vì người ta tin với nhau như thế; tài sản hình thành trong tương lai là dựa trên nhà cửa sẽ xây trên đất. Tình trạng đất đai như thế làm gì có tài sản hình thành trong tương lai để bảo đảm cho niềm tin. Xin phép phải mất hàng năm; khi xây cũng mất thời gian. Sự phát triển kinh tế tùy thuộc vào thời gian kia. Nó sẽ phát triển nhanh chóng, chúng ta có thể thấy; với điều kiện đừng lạc quan tếu.

Luật pháp chỉ là phần nổi của một tảng băng. Sự phát triển kinh tế mà nó mang lại tùy thuộc vào… phần băng chìm.

Theo NGUYỄN NGỌC BÍCH
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

contentlength: 13381
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Video: Khoảnh khắc hiệp sĩ Sài Gòn hét "Cướp, cướp" trước khi gục xuống
00:00 / --:--

TIN Xã Hội NỔI BẬT

Bơ vơ nỗi đau con trẻ sau đại tang 13 người chết ở Lương Điền

Chưa qua một giấc ngủ, hàng chục đứa trẻ thôn Lương Điền (xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) bỗng chốc mang thân phận mồ côi, đón tin dữ cha, mẹ tử vong sau vụ TNGT thảm khốc tại Quảng Nam