Làng xã khép kín và giấc mộng tiểu nông

12:48 03/12/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Đất nước chậm phát triển chính là do con người chưa vượt lên được chính mình. Ngại mở cửa hội nhập sẽ làm mất địa vị và lợi ích của cá nhân vốn chỉ biết “ta về ta tắm áo ta", không đủ bản lĩnh vươn xa ra biển lớn. GS Tương Lai tiếp tục nhìn lại những bài học quá khứ để có bước đột phá mới trên tinh thần "tỉnh táo, biết mình, biết người để chủ động và dũng cảm đón nhận thử thách, biến thử thách thành vận hội".

Làng xã khép kín và giấc mộng tiểu nông

Lang xa khep kin va giac mong tieu nong
Ảnh: vneconomy.com.vn

Hệ thống làng xã khép kín và tự trị vốn có tác dụng trong tổ chức chống ngoại xâm, chống ảnh hưởng VH ngoại lai và âm mưu đồng hóa, bảo vệ VH truyền thống. Đồng thời, chính hệ thống ấy cũng kìm hãm phát triển sản xuất, kìm hãm sự giao lưu, duy trì nền kinh tế gia trưởng tự cung tự cấp. Là một nước có nền nông nghiệp sớm phát triển, đã từng xuất khẩu gạo nhưng đến nay, nông nghiệp của ta vẫn ở trình độ thấp.

Lịch sử dựng nước của ông cha ta là từ đất tổ Hùng Vương, vùng rừng núi trung du, tiến về châu thổ sông Hồng, sông Mã, rồi men theo duyên hải, tiến về vịnh Thái Lan. Đã đành dựa vào cấu tạo hình thể của thế liên hoàn núi sông để mở nước là một sự ràng buộc khách quan của lịch sử, song ra đến mép nước Thái Bình Dương mà vẫn không có được cái can trường xông pha sóng nước, với hơn 3000 km bờ biển mà không có được những đội thương thuyền vượt đại dương thì quả là “có vấn đề”!

Cung cách làm ăn của làng tiểu nông, lối sống tiểu nông có được sự cần cù, nhẫn nại đi liền với an phận nhưng thiếu đi sự táo bạo dám mạo hiểm phiêu lưu để lập nghiệp. “Giấc mộng tiểu nông” ru ngủ con người trong tâm lý an cư lạc nghiệp mà ngại xê dịch đổi thay. Chỉ cần “còn ao rau muống còn đầy chum tương” là đã có thể ung dung nhìn ngắm sự đời... Con người dễ bằng lòng với cái hiện có, dễ thỏa hiệp, ngại “rút dây thì động rừng”, cho nên chủ trương “cơm sôi nhỏ lửa”, “một điều nhịn là chín điều lành”. Cái đã có, cái hiện có vốn quen thuộc và có uy lực vì nó mang tính ổn định. Đặc biệt là cái đã có của xã hội cổ truyền được trầm tích lại trong suốt chiều dày lịch sử, hàng nghìn năm không có mấy đổi thay về kỹ thuật sản xuất. Cái đã có tạo thành một lớp váng dày đặc trên mặt nước ao tù.

Nền kinh tế tự cung tự cấp đã đến độ hoàn chỉnh, khép kín vậy nên các ngành nghề thủ công dù đạt đến độ tinh xảo và chiếm một tỷ lệ khá cao vì phần lớn người nông dân đều làm nghề thủ công nhưng vẫn là “nghề phụ”, tự sản tự tiêu ở cái chợ làng hay chợ phiên tháng họp vài lần. Cho đến thế kỷ XVIII vẫn chưa xuất hiện nổi thành thị với tư cách là trung tâm công thương nghiệp. Thậm chí ngay kinh thành Thăng Long buổi ấy cũng chỉ là cái chợ phiên lớn mà thôi. Lối sống đô thị theo ý nghĩa đích thực của nó cho đến đầu thế kỷ XX vẫn chưa hình thành được ở ngay những trung tâm gọi là đô thị.

Gánh nặng tâm lý "trâu ta ăn cỏ đồng ta"

Tâm lý “trọng nông, ức thương” vẫn giữ thế chủ đạo trong mọi cung cách ứng xử dù người ta sống ở làng quê hay “kẻ chợ”. Nhìn từ khía cạnh tiêu cực, đây chính là thứ xiềng xích về tư tưởng, không cho bung ra. Tâm lý “trâu ta ăn cỏ đồng ta” ngăn chặn mọi sự đổi mới, vươn xa, bóp chết những khát vọng giải phóng cá nhân để tự đặt mình vào những điều kiện mới kích thích và phát huy năng lực mới, cổ vũ sự sáng tạo.

Hương ước và tập quán, một mặt giúp gìn giữ bảo lưu những giá trị thuần phác và tốt đẹp của văn hóa làng xã, nhưng mặt khác lại khuôn mỗi cá nhân vào các lối mòn quen thuộc. Chính cái bộ luật đó đã giám sát con người rất chặt, không cho đi chệch khỏi đường mòn mà ông cha đã đi, một “biến tấu” của điệp khúc đạo đức học Khổng Mạnh “kế, thuật, vô cải”, nối tiếp, làm theo không thay đổi mà các nhà Nho tác động đến tâm lý xã hội.

Xã hội nông nghiệp lạc hậu kéo dài triền miên, không mấy đổi thay về kỹ thuật sản xuất, không chuyển nổi sang sản xuất hàng hóa ấy đã sản sinh và lưu giữ những nét tiêu cực trong tính cách con người VN, điều ấy bộc lộ rõ khi đất nước chuyển sang CNH - HĐH. Cung cách làm ăn và thói quen ứng xử của xã hội tiểu nông luyện cho con người lối tư duy “năng nhặt chặt bị” và khuyến khích sự “khéo tay, hay làm”.

Theo cách nhìn thông thường thì đó là những thói quen tốt của con người “hay lam hay làm”. “Cần cù, nhẫn nại” vốn là nét đức hạnh mà các bậc cha mẹ muốn rèn dạy cho con cháu. Nhưng, từ một cách tiếp cận khác, có thể thấy rằng cũng chính nét “đức hạnh” ấy sẽ kìm giữ con người trong khuôn khổ cũ, thói quen cũ, tập quán cũ mà xa lạ với sự canh tân, không dám vứt bỏ thói quen đã thành nếp sống, không dám vứt bỏ cách làm cũ, nếp tư duy quen thuộc để vươn xa hơn, chí ít là cũng đạt được năng suất lao động cao hơn.

Năng suất thấp của sản xuất nông nghiệp lạc hậu “giật gấu vá vai” không tạo ra thặng dư, không có tích lũy! Vì, chỉ “năng nhặt chặt bị” thì không thể có cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ. Cái cày chìa vôi từ thế kỷ XI vẫn phổ biến trên cành đồng Việt Nam thế kỷ XX! Cách nghĩ và cách làm ấy dẫn đến cái logic của lối ứng xử “bớt bát, mát mặt ” trong sự tự bằng lòng “cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết”. Thế là được!

Một khi mà năng suất lao động quá thấp, người ta buộc phải tự thích nghi, tự an ủi đối với một nhu cầu cực kỳ hạn hẹp “thịt cá là hương hoa, tương cà là gia bản”. Chẳng những thế, còn tự ngụy biện để che lấp một sự thật đói nghèo bằng một triết lý quái gở: “sống về mồ mả, ai sống vì cả bát cơm”. Nhưng thật ra, đấy lại là sự phản ánh một trạng thái tâm lý bất lực và tự huyễn về thế giới bên kia theo kiểu “sống gửi, thác về”.

Đề cao chủ nghĩa kinh nghiệm

Rõ ràng “khéo tay hay làm” chỉ có thể dẫn tới chủ nghĩa kinh nghiệm. Đề cao một chiều “trăm hay không bằng tay quen”, tức là tán dương CN kinh nghiệm mà khước từ sự tìm tòi, sáng tạo và tự học hỏi. Cung cách ấy không thể không dẫn đến sự bảo thủ, trì trệ, chỉ tập cho con người đi theo một lối mòn quen thuộc, cổ vũ cho lối suy nghĩ “cứ ngựa quen đường cũ”. Chính cái CN kinh nghiệm ấy dẫn đến triết lý “ông bảy mươi phải học ông bảy mốt”, củng cố vững chắc cái trật tự “lão quyền” để duy trì phương châm “sống lâu lên lão làng”. Đó là một lực cản ghê gớm vì nó bóp chết mọi khát vọng của lớp trẻ muốn thoát ra cảnh “ao tù nước đọng”. Triệt tiêu mọi khát vọng muốn chọc thủng lớp bèo dày đặc trên mặt nước ao tù ấy để khơi thông dòng chảy. Nền văn minh lúa nước dẫm chân tại chỗ trong cả chiều dài lịch sử đã vỗ về, ru ngủ con người trong “giấc mộng tiểu nông”!

Khi nước Nhật của vua Minh Trị mở cửa để tiếp nhận nền văn minh CN thì triều đình Tự Đức lại đóng cửa, khước từ mọi canh tân. Bài học mất nước có nhiều, nhưng mất thời cơ là cái mất oan uổng nhất. Trong “Thời vụ sách”, Nguyễn Lộ Trạch viết: “Hiện nay thời thế như cục ung thư lớn. Trị thì không có phương thuật. Không trị chăng? Thì không thể cam ngồi mà ngó.Điều lo trong thiên hạ không phải ở chỗ nước yếu và nghèo, mà ở chỗ không gắng sức làm việc tự cường”. Không “làm việc tự cường được” là do lối suy nghĩ trì trệ: “nước ta thì từ trước cấm dân đi ra hải ngoại, dân không đi buôn xa, trong nước không có bọn buôn, mà muốn dắt người buôn nước ngoài đến, thế chưa có thể vội được” như lời các trọng thần tâu lên vua Tự Đức. “Chưa có thể vội” khi mà những chiến thuyền thực dân đã áp sát cửa sông, súng xâm lược đang chực nhã đạn! Mất nước là điều khó tránh khỏi.

Triền miên trong giấc mộng tiểu nông để khi bừng con mắt dậy... thấy mình tay không!“Rốt cuộc, mọi người đều buộc phải nhìn những điều kiện sinh hoạt của họ và những quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh ngộ”, như Các Mác đã từng phân tích rõ: “nguyên lý của đại công nghiệp là phân giải mọi quá trình sản xuất xét ngay trong bản thân nó và trước hết không liên quan gì đến bàn tay con người, thành những yếu tố cấu thành của nó”!

Chỉ có điều, nền văn minh đại CN ấy lại do những người Pháp thực dân chuyển tải đến. Là thực dân xâm chiếm thuộc địa, việc đầu tiên họ làm là chiếm đất, khai thác đồn điền, vừa lợi dụng được nhân công rẻ mạt vốn có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp không phải mất nhiều công của đầu tư đào tạo nghề, dễ đạt mục đích thu lợi nhanh. Vì thế, “đại công nghiệp” chưa phải là điểm ưu tiên.

Mặt khác, chính Pasquier, toàn quyền Đông Dương lại hiểu rất rõ cái đặc điểm “làng Việt Nam”: “một tổ chức phức tạp như thế, dễ bảo như thế, một tổ chức mà trong đó không bao giờ thấy có một viên kỳ mục nào hành động đơn độc cả, một tổ chức đã tồn tại theo truyền thống từ rất xa xưa, tổ chức đó chúng ta không nên đụng chạm tới, kẻo làm dân chúng bất bình, xứ sở rối loạn”. Bởi vậy, cuộc đảo lộn xã hội tiểu nông đầu tiên là việc thực dân Pháp xâm lược, du nhập nền văn minh phương Tây vào Việt Nam, tuy có những tác động, trước hết là ở các vùng đô thị và khu vực “trực trị”, còn nói chung, với cái làng của nông thôn và nông dân Việt Nam thì tác động ấy chưa nhiều. Phải đợi đến Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, mới thật sự có sự bừng tỉnh thật sự.

  • Tương Lai

... Khi đường lối chủ trương của Đảng đáp ứng đúng đòi hỏi của đất nước thì nguồn lực được khởi động khó có thể hình dung nổi, khí thế xã hội phấn chấn, tính năng động xã hội được nâng cao. Rõ ràng cuộc sống chính là đáp số đúng sai của đường lối chủ trương.

Kỳ cuối: Vượt qua chính mình

Việt Báo
contentlength: 14813
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Xã Hội NỔI BẬT

Bơ vơ nỗi đau con trẻ sau đại tang 13 người chết ở Lương Điền

Chưa qua một giấc ngủ, hàng chục đứa trẻ thôn Lương Điền (xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) bỗng chốc mang thân phận mồ côi, đón tin dữ cha, mẹ tử vong sau vụ TNGT thảm khốc tại Quảng Nam