Góp ý Dự thảo văn kiện tại đại hội Đảng X Về chính sách phát triển công nghiệp tới 2020

09:05 08/03/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Mặc dù tăng trưởng cao trong những năm qua nhưng nền công nghiệp nước ta hiện nay chủ yếu vẫn là gia công, lắp ráp và xuất khẩu những sản phẩm thô. Trong thời gian tới Việt Nam không thể chỉ dựa vào lợi thế giá nhân công rẻ và tài nguyên thiên nhiên để đưa nền kinh tế đất nước khỏi cảnh tụt hậu, vươn lên cạnh tranh với nước ngoài. Xu hướng phát triển kinh tế ngày nay phải đặt cơ sở trên nền kinh tế tri thức, sẽ có hiệu quả nhất.

Mục tiêu của Đại hội Đảng đặt ra là hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước sẽ cơ bản đạt được vào năm 2020. Đó là kỳ vọng của dân tộc. Vấn đề đặt ra là: Làm sao  kỳ vọng đó là khả thi, là hiện thực?  Những yếu tố nào sẽ dẫn đến thành công? Những biện pháp nào cần phải thực hiện?...

Thưc tiễn phát triển của các nước công nghiệp cho ta thấy cần phải xây dựng một nền tảng khoa học, công nghệ  vững chắc, gắn chặt các thành tựu khoa học công nghệ  với  mọi sự phát triển của các ngành công nghiệp then chốt. Trong đó những điều kiện môi trường chủ yếu cần có để thực hiện  là:

(1) Môi trường chính trị, xã hội hòa bình, ổn định; (2) Các chiến lược phát triển kinh tế rõ ràng, gắn kết (có cơ sở khoa học và thực tiễn); (3) Luật pháp rõ ràng., đầy đủ bảo đảm cho một thị trường cạnh tranh lành mạnh; (4) Hệ thống tài chính thích hợp, linh hoạt và năng động; (5) Những chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ và gắn kết việc nghiên cứu và phát triển khoa học với nhu cầu thiết thực của phát triển kinh tế.

Dưói đây chỉ xin bàn đến môi trường thứ (5) về các chính sách của Nhà nước nhằm định hướng, hỗ trợ và gắn kết nghiên cứu KHCN với nhu cầu thiết thực của phát triển kinh tế.

1- Chính sách Đi tắt đón đầu

Trước đây, trong hoàn cảnh đối đầu của chiến tranh lạnh, chúng ta bị bao vây cấm vận về KHCN. Chính sách của Đảng và Nhà nước là phải độc lập tự chủ trong nghiên cứu phát triển KHCN và kinh tế. Chúng ta không thể phủ nhận những thành quả KHCN và phát triển kinh tế mà thế hệ cha anh đã đạt được trong hoàn cảnh nước ta còn nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn mọi thứ ,đưa đất nước vượt qua những thử thách ghê gớm để có ngày hôm nay. Nhưng ngày nay nhìn lại, chúng ta nhận thấy rằng, lúc đó để làm ra mỗi sản phẩm chúng ta phải "đi từ A tới Z", từ nghiên cứu khoa học cơ bản, công nghệ vật liệu, nói chung là mọi ngành công nghệ liên quan tới sản phẩm đó… Đó là con đường phải đi, đi rất lâu, rất chậm mà vẫn khó đạt được các sản phẩm có chất lượng cao, có tầm cạnh tranh quốc tế (xe ô tô "Hòa Bình", máy kéo "Công nông" là một ví dụ…)

Ngày nay, như Chủ tịch Trần Đức Lương đã nói: Chúng ta phải thay đổi, "phải đi từ Z tới A". Đó là cách nói hình tượng của chính sách đi tắt đón đầu nhằm sớm có được các sản phẩm công nghệ tiên tiến có giá trị, có khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế. Có thể tóm tắt chính sách đó như sau:

Khởi đầu sự nghiệp (ở các nước và khu vực mới phát triển điển hình như Hàn Quốc, Xingapore, Đài Loan, Hồng Kông… cũng như vậy), chúng ta cần phải bắt đầu  bằng việc nghiên cứu lựa chọn để nhập khẩu các công nghệ tiên tiến từ các nước đã phát triển, ứng dụng ngay, nhanh chóng cho ra những sản phẩm có trình độ công nghệ và chất lượng cao, từ đó từng bước nâng cao, nội địa hóa từng phần sản phẩm bằng sự thông minh và trình độ KHCN của con người Việt Nam.  Có công nghệ tiên tiến, sản phẩm của chúng ta sẽ có tính cạnh tranh cao nếu ta biết phát huy các ưu việt sẵn có của nước ta về giá nhân công còn thấp và sử dụng các tài nguyên sẵn có của mình.

Trong giai đoạn vừa qua, để giải quyết công ăn việc làm, tận dụng thế mạnh về tiềm năng nhân lực, chúng ta đã chọn các ngành công nghiệp thực phẩm (gạo, cà phê, thủy sản…), các ngành công nghiệp nhẹ tiêu dùng (giầy da, dệt may, đồ gỗ, sành sứ, giấy…). Những ngành đó mặc dù không có hiệu quả kinh tế cao, nhưng phù hợp với hoàn cảnh và tiềm lực nước ta trong giai đoạn đầu phát triển công nghiệp. Những ngành công nghiệp này trước hết đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, bảo đảm đời sống nhân dân và ổn định tình hình xã hội. Song quan trọng là những sản phẩm này đã đạt được trình độ công nghệ và chất lượng cạnh tranh trên trường quốc tế. Đó là sự minh chứng tính đúng đắn của chiến lược trên. Cứ như thế chúng ta cần áp dụng cho các sản phẩm của các ngành  công nghiệp được lựa chọn trong thời gian tới…

Vấn đề chúng ta cần bàn là từ nay tới 2020, song song việc duy trì phát triển bền vững các ngành nghề đã đạt được, để phát triển nhanh hơn, để đẩy nhanh CNH-HĐH với GDP trên đầu người đạt trên 5000 USD, chúng ta cần lựa chọn các ngành công nghiệp nào cho phù hợp và phải tiến hành phát triển ra sao?

Xác định các mục tiêu ngắn hạn

Đối với doanh nghiệp có đầu tư vốn nước ngoài (FDI).

Đó là nhân tố quan trọng trong các mục tiêu trước mắt của phát triển kinh tế. FDI là nhân tố quan trọng trong việc khai mở thị trường xuất khẩu. Mặc khác, FDI còn giúp huấn luyện những chuyên viên kỹ thuật, đội ngũ quản lý trong việc nâng cao kỹ năng và bí quyết thành công trên thương trường. Việt Nam cần cải tổ các chính sách như: Khuyến khích đầu tư, tài chính, ngân hàng, mậu dịch, tiền tệ, hệ thống thuế… là những trọng điểm đáng chú ý để tạo môi trường thông thoáng, hấp dẫn đầu tư, nâng cao khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư FDI từ nước ngoài và đẩy mạnh thị trường xuất khẩu hơn nữa.

Về doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Một nước công nghiệp chính hiệu đương nhiên không chỉ dựa vào toàn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà xương sống của nó phải là các tập đoàn công nghiệp mạnh.. Tuy nhiên hiện nay và mai sau các doanh nghiệp loại vừa và nhỏ vẫn luôn luôn  đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp này có vốn đầu tư vừa tầm phổ cập của đa số doanh nhân, là đầu mối để  phát triển các ngành kinh tế phục vụ dân sinh, là các doanh nghiệp vệ tinh, dịch vụ sản xuất chi tiết, phụ tùng cho các Tập đoàn công nghiệp. Do tính phổ cập rộng rãi, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tạo được rất nhiều công việc làm mới cho nhân dân. Đây cũng là một thị trường rộng lớn, là mảnh đất phì nhiêu cho phát triển các ngành khoa học công nghệ đủ khắp các lĩnh vực. Chính phủ hiện nay đã có những chính sách thông thoáng cho sự ra đời, phát triển những doanh nghiệp vừa và nhỏ, tuy nhiên trong bước đột phá sắp tới Chính phủ cần có những chương trình đặc biệt khuyến khích và hổ trợ hơn nữa, đánh giá cao hơn tầm quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Chính phủ cần có những chương trình hỗ trợ nhập khẩu và ứng dụng khoa học công nghệ rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho những doanh nghiệp này về đất đai, vay vốn và ưu đãi về thuế cho những ngành then chốt hoặc sử dụng nhiều lao động…  Như vậy các doanh nghiệp vữa và nhỏ có cơ hội phát triển đúng hướng và thông thoáng hơn.

Về đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước

Trong điều kiện trước mắt Nhà nước vẫn cần duy trì tỷ lệ thích hợp những doanh nghiệp Nhà nước trong những ngành kinh tế then chốt và nhất là các cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh. Các doanh nghiệp Nhà nước là xương sống cho việc bảo đảm quá trình phát triển ổn định và an ninh, thực hiện các chính sách xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước. Đã đảm nhiệm trọng trách xã hội như vậy, các doanh nghiệp Nhà nước khó có thể làm ăn có lãi cao như các doanh nghiệp tư nhân, nhưng Nhà nước phải có chính sách bảo đảm cho các doanh nghiệp này phát triển lành mạnh, không có thua lỗ…

Việc cải tạo, đổi mới tổ chức, cải tiến khoa học công nghệ là biện pháp để duy trì và phát triển vai trò của các doanh nghiệp Nhà nước. Để thành công, những chiến lược trọng điểm về đầu tư nhằm cải tổ chất lượng đào tạo nhân sự, phục hồi và cải tiến doanh nghiệp quốc doanh cần được thực hiện một cách kiên định. Đối với các doanh nghiệp quốc doanh trì trệ, thua lỗ,  thì Nhà nước chuyển đổi hình thức sở hữu họăc cho thanh lý, phá sản, sắp xếp lại lao động của các doanh nghiệp này.  Các hành động quyết liệt này của Nhà nước sẽ là sức ép bắt buộc những doanh nghiệp quốc doanh còn lại muốn tồn tại phải tự cải tạo mình, tăng cường sự  cạnh tranh sống còn của các doanh nghiệp. Một khi Việt Nam tham gia vào tổ chức Thương mại thế giới (WTO) những thành phần kinh tế quốc doanh sẽ khó nhận được sự bảo hộ từ chính phủ và khi đó sẽ phải tự cạnh tranh để sinh tồn. Nếu chúng ta không tăng cường sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước thì sau này chúng sẽ không có khả năng đáp ứng vai trò "xương sống" của nền kinh tế đất nước và đảm bảo các mục tiêu XHCN do Đảng và Nhà nướcđề ra.

Cải cách ngành khoa học công nghệ thế nào ?

Hệ thống các cơ sở nghiên cứu và ứng dụng KHCN hiện nay của nước ta quá cồng kềnh, ít hiệu quả, và đặc biệt không gắn liền với nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế.  Chính phủ cần có các hành động cải cách mạnh mẽ về tổ chức, cung cách làm việc của ngành KHCN, có những chính sách hợp lý nhằm phát huy tiềm năng của hàng ngũ tri thức. Khầu hiệu của công cuộc cải cách này là Tri thức - Sản xuất - Hiệu quả.

Bên cạnh đó, Chính phủ nên thiết lập các cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp nhập khẩu KHCN tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, vật tư, nuôi dưỡng hệ thống phát triển khoa học công nghệ nhằm khuyến khích, hổ trợ, và từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Có chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học cơ bản nhằm mục đích phát triển khoa học ứng dụng một cách hiệu quả.

Về cải cách ngành Giáo dục và Đào tạo

Để cung cấp nhân lực đầy đủ và có chất lượng cho phát triển kinh tế nói chung và cho các ngành công nghiệp nói riêng, ngành GD&ĐT cũng phải không chỉ theo kịp mà phải đi trước một bước để đáp ứng các đòi hỏi cấp bách của thực tế sản xuất (phục vụ chương trình phát triển tới 2020, bây giờ bắt đầu vấn đề này là quá muộn).

Hiện trạng ĐT&GD hiện nay quá dàn trải, chi phí chiếm tỷ lệ GDP cao so với các nước cùng hoàn cảnh mà chất lượng đào tạo không theo kịp yêu cầu phát triển của xã hội. Ngay cả trong các nước khu vực như Thái Lan, Philipin, Malaysia đều có các Trường Đại học được công nhận  đạt đẳng cấp châu Á…

Để tập trung được nguồn lực tài chính và đầu tư ngân sách của Nhà nước, phát huy hợp lý đóng góp của xã hội và thực hiện được mục tiêu hội nhập với trình độ thế giới, ngành GD&ĐT chuyên gia phải phân ra rõ rệt 3 thể loại trường đại học và dạy nghề khác nhau. Đối với mỗi loại đều quy định mục tiêu đào tạo rõ ràng, có giáo trình thích hợp và có các địa chỉ bảo đảm đầu vào và đầu ra, không đào tạo lãng phí. Chúng tôi đề xuất phương án cụ thể để các cơ quan chuyên trách của Đảng và Nhà nước xem xét như sau:

Các Trường Đại học Tổng hợp có đẳng cấp QT hoặc khu vực:

Số lượng: Tối đa chỉ cần 01 trường ĐH Tổng hợp Quốc gia và 01 trường ĐH Tổng hợp QT.

Nhiệm vụ: Nơi đây chỉ đào tạo các chuyên gia chiến lược, các nhà khoa học tự nhiên, xã hội và công nghệ chuyên sâu, trọng điểm quốc gia (có thể sẽ thay đổi cho phù hợp theo từng thời kỳ).

Chế độ: Nhà nước tập trung kinh phí ngân sách, tập trung hỗ trợ Giáo sư và tài trợ từ bên ngoài.

Giáo viên và giáo trình: Xây dựng từ các giáo trình 20 đại học hàng đầu Thế giới. Giảng viên: thuê GS nước ngoài, GS Việt kiều tự nguyện, GS VN đủ tiêu chuẩn.

Đầu vào: Các thí sinh đậu đầu bảng trong kỳ thi tuyển sinh năm đó và  Các Sinh viên xuất sắc học xong năm thứ nhất của các trường loại phía dưới. Thi tuyển theo phỏng vấn của các giáo sư đầu ngành.

Đầu ra: Nhà nước bảo đảm các địa chỉ sử dụng cho các chuyên gia và các Nhà khoa học đạt trình độ xuất sắc. Thị trường và doanh nghiệp sử dụng phần còn lại.

Các trườngĐại học chuyên nghiệp và dạy nghề  do các Bộ, ngành quản lý chuyên môn, đào tạo và cấp kinh phí chủ yếu.

Số lượng: Giới hạn mỗi bộ hoặc ngành không quá 01 trường Đại học và 02 trường dạy nghề. Bộ Đại học và GD chỉ quản lý nhà nước, thống kê tổng hợp, tư vấn cho Nhà nước các chỉ đạo và can thiệp cần thiết theo Luật Giáo dục.

Kinh phí: Nhà nước chỉ hỗ trợ kinh phí và nghiệp vụ theo khả năng thực tế. Tìm tài trợ từ bên ngòai. Đóng góp của các đơn vị sử dụng nhân lực (đào tạo theo địa chỉ).

Giảng viên: Do các Bộ chuyên ngành quản lý: Thuê GS quốc tế, GS Việt kiều tự nguyện, GS trong nước đúng chuyên môn, kinh nghiệm và nghề nghiệp.

 Giáo trình: Xây dựng từ giáo trình các trường chuyên nghiệp Top 20, cộng điều chỉnh theo yêu cầu thực tế trong nước của các ngành.

Đầu vào: Thi tuyển theo chuẩn của Luật GD (Bộ Đại học).

Đầu ra: Bộ, ngành bảo đảm sử dụng các SV tốt nghiệp từ khá trở lên. Phần còn lại thị trường và các doanh nghiệp đảm nhận.

Các trườngĐại học và dạy nghề chuyên nghiệp cổ phần dân lập (nội địa và quốc tế).

Số lượng: Mỗi ngành không quá 3 trường đại học, và 3 trường dạy nghề, phân 3 khu vực địa lý Bắc, Trung, Nam.

Đầu vào: tuyển sinh theo chuẩn của Luật GD, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý nhà nước, thống kê, tư vấn Nhà nước can thiệp theo luật GD.

Giáo viên: Do các trường thuê và tuyển lựa ngoài nước, trong nước, đủ tiêu chuẩn quy định trong Luật giáo dục.

Giáo trình: lấy từ top 20 các trường chuyên nghiệp QT. Đầu vào tuyển sinh theo chuẩn Luật GD.

Kinh phí: Do Học viên trả học phí. Các tài trợ của các ngành, tổ chức quốc tế hoặc nhà nước chỉ cấp học bổng cho học sinh giỏi hoặc học sinh nghèo từ khá trở lên.

Đầu ra: Cung cấp cho thị trường trong nước hoặc xuất khẩu LĐ.

Như vậy,chúng ta phải có Luật GD&ĐT đủ chi tiết về các quy định chuẩn mực cho hoạt động GD&ĐT, liên quan đến các thể loại đào tạo nêu trên. 

Tương tự tổ chức cấp trung học phổ thông cũng phải đáp ứng, bảo đảm sự liên thông mềm mại giữa các cấp học.

Nếu không có sự cải cách mạnh mẽ, kịp thời của ngành GD&ĐT, với hiện trạng hôm nay của GD&ĐT sẽ là mối nguy cơ lớn cho sự phát triển của các ngành công nghiệp và kinh tế trong tương lai.

Lời kết:

Cơ hội bứt phá đi lên của dân tộc ta luôn luôn liên quan tới các thách thức đối với mọi ngành và mọi người. Vận mạng nước Việt Nam trong tay của mỗi người Việt Nam chúng ta. Sứ mạng chấn hưng Tổ quốc trong tay của thế hệ ngày nay. Hãy nắm bắt vận hội, biết đoàn kết dân tộc và biết cách làm việc, tập trung tiềm lực sẵn có và trí tuệ để vượt qua thử thách, biết biến ước mơ thành hiện thực, kiên trì và dũng cảm để toàn dân tộc hướng đến tương lai của một nước công nghiệp phát triển, một xã hội hòa bình, phồn vinh và hạnh phúc. Đó là kỳ vọng của đân tộc ta, Tổ quốc Việt Nam  ta đang đặt niềm hy vọng vào trách nhiệm  của các ngành và sự cầm lái của  Đảng và Nhà nước.

Phạm Đức, Xuân Thu
(Phone liên hệ: 0903404765)

VietBao.vn
contentlength: 19782
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Xôn xao clip anh thợ điện cầm gáo dội nước vào hộp điện đang cháy để dập lửa
00:00 / --:--

TIN Xã Hội NỔI BẬT

Bơ vơ nỗi đau con trẻ sau đại tang 13 người chết ở Lương Điền

Chưa qua một giấc ngủ, hàng chục đứa trẻ thôn Lương Điền (xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) bỗng chốc mang thân phận mồ côi, đón tin dữ cha, mẹ tử vong sau vụ TNGT thảm khốc tại Quảng Nam

VẤN ĐỀ Xã HộI NÓNG NHẤT

Be trai 3 tuoi bi bo quen tren xe dua don tre tai Bac Ninh

Bé trai 3 tuổi bị bỏ quên trên xe đưa đón trẻ tại Bắc Ninh

Theo nguồn tin của PV, vào ngày 13/9, một cháu bé 3 tuổi được chuyển từ Bắc Ninh lên BV Nhi Trung ương để cấp cứu vì nghi bị bỏ..

Nu CDV bi thuong vi trung phao sang tren SVD Hang Day

Nữ CĐV bị thương vì trúng pháo sáng trên SVĐ Hàng Đẫy

Theo thông tin từ bệnh viện, nữ bệnh nhân đã trải qua 2 cuộc phẫu thuật thành công và được chuyển từ khoa Cấp cứu về khoa Bỏng của..

Chay nha may phich nuoc Rang Dong

Cháy nhà máy phích nước Rạng Đông

Khoảng 18 giờ 5 phút ngày 28.8, đã xảy ra cháy tại kho chứa hàng công ty Rạng Đông. Tổng diện tích nhà kho, xưởng - là khu vực xảy..

Nu dai uy cong an gay nao loan tai san bay

Nữ đại úy công an gây náo loạn tại sân bay

Liên quan đến vụ việc, Đồn Công an sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã lập biên bản và xử phạt đại úy Lê Thị Hiền 200.000 đồng về hành..

Be trai lop 1 tu vong vi bi bo quen tren xe dua don

Bé trai lớp 1 tử vong vì bị bỏ quên trên xe đưa đón

Sự việc xảy ra vào ngày 6/8, một học sinh lớp 1 của trường Quốc tế GateWay (quận Cầu Giấy, Hà Nội) đã tử vong trên xe đưa đón của..