Đi về phía biển

08:50 16/11/2007
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Một buổi mai yên bình, lặng lẽ và buốt giá. Họ tình cờ nằm chung một buồng trong toa máy lạnh của chuyến tàu nhanh Hà Nội - Sài Gòn.

Tàu đang đi qua một vùng cây cỏ xơ xác bên những dãy đồi núi trọc lóc không biết từ chiến tranh hay do nạn phá rừng của tỉnh Quảng Trị.

Lác đác vài mái tranh nhỏ xíu trên vách đá người ta làm dành cho những con dê. Chị nhắc cô ngồi lùi vào để chị kéo kín lưới chắn, đoạn này thấy bảo hay bị ném đá lắm. Cẩn thận vẫn hơn. Đề tài của cuộc nói chuyện chuyển sang xoay quanh cái tệ nạn khó hiểu là trẻ con nông thôn hay ném đá lên tàu. Đã bao nhiêu tai nạn thương tâm xảy ra, có người phải chịu mù cả đời. Bởi vậy mới sinh ra tấm cửa lưới kỳ quái mà cô nghĩ rằng chỉ có ở Việt Nam.

Và theo cô, những hành động đó thật khó hiểu. Không lẽ những đứa trẻ ấy bẩm sinh đã nhẫn tâm như vậy, và để làm gì? Chị lập tức phản đối, chính người lớn mới là có lỗi. Những đứa trẻ đã không được dạy dỗ, đã không được yêu thương, phải, đấy mới chính là cội nguồn của mọi cái ác, chứ hoàn toàn không phải là do bẩm sinh hay do nghèo đói. Thế mà xem ra đâu có ít những kẻ không được yêu thương trên cõi đời này.

Giọng chị dìu dịu, mới nghe không đoán ngay được là người Quảng Ngãi. Cũng phải thôi, lấy chồng ra Bắc có tới hai chục năm rồi. Còn Huyền thì vào làm việc ở miền Trung cũng sắp mười năm, chưa đến nỗi pha giọng nhưng trong cách nói chuyện cũng đã dùng nhiều từ địa phương thay vì cách nói đặc “dân Bắc”.

Chị kể ngày mới mười chín đôi mươi, khi anh chính thức đặt lời với gia đình, má chị đã khóc mà bảo: “Gả con lấy chồng từ đây hất vào trong kia thì còn đường đất mà đi lại, chớ gả ra ngoài ấy qua đèo Hải Vân là má mất con”. Nghe mà thật xót xa.

Nhưng cũng chẳng vì thế mà má hay bất cứ một người nào trong gia đình ngăn cản cuộc hôn nhân ấy. Còn chị, lúc ấy mới bắt đầu yêu, bước chân ra đi sao mà thấy nhẹ tênh tênh, cái gì cũng thấy náo nức làm sao. Để rồi sau bao nhiêu năm mỗi lần về thêm nặng trĩu những nỗi niềm. Về đến Quảng Ngãi thì nhớ Hưng Yên, về Hưng Yên lại nôn nao muốn về Quảng Ngãi.

Chuyến này chị sẽ về ở với má lâu, do má đã nhiều tuổi quá rồi, bệnh từ đầu năm ngoái, chữa chạy lần hồi không bớt, đến tết vừa rồi bà đã bỏ ăn mất mấy ngày. Cuống cuồng cả lên nhưng chị cũng phải thu xếp đến hơn chục ngày bây giờ mới lên tàu được. Chị vất vả đường con cái. Lấy chồng tám năm không có con, phải vào Bệnh viện Từ Dũ nhờ các bác sĩ giúp cho mới có được đứa con trai đầu.

Năm năm sau, trời thương chị sinh thêm được đứa con gái một cách bình thường. Bây giờ, đứa đầu mới 10 tuổi lớp 4, đứa sau 5 tuổi còn đang học mẫu giáo, chồng thì bị tai biến mạch máu não, nằm liệt giường đã hơn bốn năm nay, mới hơi nhúc nhắc ngồi dậy được, còn đang phải tập đi. Cô kinh hãi hỏi: Thế làm sao mà chị dám để anh đó mà đi được? Lại còn hai đứa trẻ nữa chứ? Được cái bên nhà ảnh anh chị em đông, bà mẹ ảnh còn khỏe nên chị mới đi được. Mà cũng sốt ruột lắm em à! Nhưng chị phải về. Chị dự định lần này về thì đưa má đi Sài Gòn hoặc ra Hà Nội chữa bệnh cho bà thỏa nguyện.

Gần tám mươi tuổi rồi, lưng bà đã còng gập, lại thêm bị vôi hóa đốt sống cổ nữa. Vẫn biết ở đời sinh lão bệnh tử là lẽ thường, nhưng trong thâm tâm chị còn ẩn ức thêm một nỗi xót xa là mình lấy chồng quá sớm, chẳng giúp má được điều chi, lúc má già lại chẳng thể gần kề chăm sóc.

Quê chồng chị đẹp lắm. Giọng chị đầy tự hào. Cô nằm nghe và theo dòng kể của chị về với một vùng nông thôn Hưng Yên, cách Hà Nội 40km, đất vườn rộng và đầy cây ăn quả. Bãi ven sông Hồng thì tha hồ trỉa ngô, lạc, đỗ, rồi thả bầu, thả bí. Mẹ chồng chị lập điện thờ ngay trong vườn, bà mê tín kinh khủng. Cũng có thể vì trong nhà có người ốm đau quanh năm.

Chồng chị lái xe đường dài, đang làm ăn được thì thình lình bệnh. Chị thì quanh năm ở nhà, vườn tược, con cái hết ngày, từ khi chồng bệnh chỉ muốn mọc thêm chân thêm tay, đâu có lúc nào mà nghĩ đến má và các em được. Mà người bệnh hay tủi thân lắm em à, ảnh nằm một chỗ sinh nghĩ ngợi lung tung, mình phải ráng mọi cách chiều chuộng, khuyên lơn. Được cái ảnh cũng chẳng phụ lòng chị, từ lúc nhúc nhắc được là ham tập đi lắm. Rồi mấy mà khỏe lên.

Chị cười nhỏ nhẹ, nhưng mắt thì ngời ngời. Chẳng hiểu mình có yêu chồng mình như thế không nhỉ? Huyền tự hỏi. Đoàn tàu vẫn hối hả lao nhanh. Những hầm ngầm sầm tối mang lại cảm giác đi trong bóng đêm đã lùi lại đằng sau. Qua khỏi đèo Hải Vân là hết lạnh rồi, cứ như là sang một thế giới khác vậy. Ngoài kia nắng ấm chan hòa, mới là tháng giêng mà lúa đã xanh tới mát mắt trên những cánh đồng. Vẫn biết lộ trình của đoàn tàu đi về phương Nam, nhưng không hiểu sao lần nào từ Bắc vào Huyền cũng có cảm giác như là nó đang đưa cô đi về phía biển. Biển nơi ấy đang vẫy gọi: xanh thắm, ầm ào, hiền từ mà dữ dội. Và thật ấm. Thậm chí cô như thấy hơi thở của nó từ xa: nồng nàn, lan tỏa.

Trong muôn vàn lý do để ở lại và lập nghiệp ở miền Trung, có một phần vì Huyền thích biển. Sinh ra ở cái nơi mở mắt ra là thấy núi, cái cảm giác rộng mở, khoáng đạt mà bao la do biển mang lại với Huyền mãi mãi là điều kỳ diệu. Bởi núi thì đứng im, hầu như không thay đổi, còn biển thì ngược lại, có thể gần đấy, thực đấy mà lại xa xăm, bí ẩn khôn cùng, mỗi phút giây là mỗi đổi thay không ngừng nghỉ.

Và nghĩ về biển là đôi khi cô lại nhớ về anh. Ngày ấy khi ra Hà Nội học ôn thi Huyền 17 tuổi. Các bạn học yêu mến cô một cách nồng nhiệt. Ở cái tuổi ấy người ta dễ kết thân và cũng dễ cảm nhau làm sao. Huyền ngồi trong lớp học ôn mà như uống từng lời thầy giảng. Cũng lạ, cô dường như không còn nhớ đến mục đích của mình là phải thi đỗ một trường nào đó.

Sau những bài học đơn điệu ở trường huyện, buồn tẻ, nhàm chán, có khi thầy trích dẫn sai mà không thèm sửa thì những giờ học ở đây, dẫu là bỏ tiền học ôn thi, thật sự là một thế giới mới lạ. Và không chỉ bận học, cô thường xuyên bị đói ăn và hầu như không bao giờ có tiền trong túi.

Cũng là tình trạng chung của những học sinh tỉnh xa nhà đi ôn thi. Thế rồi có một lần cô bạn ngồi cùng bàn rỉ tai: “Huyền ạ, anh Tuấn yêu cậu đấy”. Trời đất ạ! Một anh chàng hơn cô tới 15 tuổi, cán bộ cử đi học, mặt có nét hơi nghiêm nghiêm, lành lạnh của ngành công an. Râu quai nón, đen ngăm ngăm, đẹp trai và cái chính là cao chừng gần mét tám. Huyền còn chưa kịp nhận thấy biểu hiện gì của “đương sự” thì cả hai đã bị bạn bè ở lớp trêu chí tử. Một cô bạn táo tợn người Thanh Hóa tên Điệp, ở lớp được gọi là “anh Điệp”, thì bô bô: “Huyền ơi! Bao giờ vịt đẻ ra ngan. Thì em mới lấy công an làm chồng”.

Cả lớp được trận cười ngả nghiêng. Đương nhiên là cô cũng cùng cười với mọi người. Thậm chí là anh Tuấn cũng cười theo. Có lẽ anh đã quá quen bị mọi người trêu vì cái mác công an của mình. Huyền không tin và cũng chẳng để ý đến lời Uyên nói làm gì. Nhưng cô bạn không chịu yên, cứ vài ngày lại rỉ rả: “Tớ thấy anh Tuấn ngồi học toàn cứ nhìn cậu thôi, cậu thử quay lại mà xem”. Quay lại thì cô chẳng dám quay, nhưng cô biết ở bàn cuối cách chỗ cô ngồi dăm dãy bàn, anh đang đắm đắm nhìn, chẳng biết là nhìn cô hay là nhìn thầy đang giảng bài nữa.

Thế rồi mãn khóa học ôn, kỳ thi cũng nhanh chóng kết thúc. Cô sung sướng trở về quê đợi điểm thi. Chỉ sau ba tuần, cô nhận được gần hai chục lá thư của bạn bè trong cái lớp ôn thi ấy. Và thêm một bất ngờ nữa là trong số đó có thư của anh, quả thật là một lá thư ngỏ lời yêu nghiêm túc của một người đàn ông lớn tuổi, nét chữ thật đẹp, thật thẳng với những nét hất lên đôi chút ngang tàng. Lá thư thứ hai, anh xin phép được lên nhà thăm cô và gia đình.

Bây giờ thì cô chẳng còn nhớ mình đã trả lời những lá thư ấy như thế nào nữa. Do đã lâu quá rồi, thời gian như bụi phủ mờ dần mọi ký ức. Nhưng nếu số phận có một điều gì đó khác đi, biết đâu, phải, biết đâu…

Anh làm ở Bộ Nội vụ. Cô đến thăm anh một lần vào buổi chiều trước ngày nhập trường. Nắng gay gắt, cô lúng búng nói tên anh với những người đứng gác và nghĩ mình sẽ phải chờ rất lâu. Nhưng hình như anh dặn trước, người ta rất niềm nở với cô và anh xuất hiện sau chỉ chừng vài phút. Anh với vẻ đầy tự hào đưa cô vào thăm căn phòng nhỏ xíu của anh trên tầng ba, pha nước cho cô uống. Rồi họ nấu nướng bằng bếp dầu, bữa cơm rất vui có rau muống luộc, giá xào gan. Buổi tối anh đưa cô dạo chơi ở công viên. Ngày ấy Hà Nội còn toàn xe đạp. Cô vẫn nhớ hai người đạp xe song song trên đường Quán Thánh, anh vừa âu yếm cúi xuống nhìn cô và nói một cách rất say sưa và nghiêm túc, như thể cô đã là của anh rồi:

- Anh thích thấy em để tóc dài hơn một chút rồi thả xuống vai.

Lòng đầy kinh ngạc và lạ lẫm, cô nghe mình lí nhí trả lời: - Vâng ạ.

Thế nhưng cô cũng chẳng có lúc nào để thực hiện lời hứa ấy. Cô được gọi đi học ở Nga ngay sau đó. Lúc biết tin anh đã buồn đến thấm thía và không giấu nổi thất vọng. Có thể anh biết cô còn trẻ quá, còn chưa kịp yêu anh. Mà điều đó liệu có đến hay không, khi mà lúc ấy anh đã lớn tuổi rồi, khi mà giữa hai người sẽ là đằng đẵng sáu năm và nghìn trùng xa cách?

Chừng độ dăm năm sau, khi còn đang ở Nga, tình cờ đọc trong tạp chí Văn Hóa - Văn Nghệ Công An từ Việt Nam gửi sang có một truyện ngắn ký tên Đinh Anh Tuấn, không hiểu sao cô cứ nhất định rằng đó là anh. Cô nhớ lại nét chữ thật đẹp mà ngang tàng của anh, khuôn mặt rất đàn ông với nước da đen ngăm ngăm, râu quai nón, nhưng đôi mắt thì lại thật hiền với hàng mi cong đến lạ. Có điều gì ở anh luôn gợi cô nhớ về biển cả, hay đúng hơn là gợi nhớ về những người dân chài vùng biển. Người con gái nào có được anh thật là hạnh phúc. Cô tin là như vậy. Không phải cô tiếc anh khi so sánh anh với người chồng bây giờ của mình, nhưng đôi khi chợt thoảng qua cô lại nghĩ về anh thật ấm áp và trìu mến.

Anh quê ở Hoa Lư, Ninh Bình nên ở cái lớp học ôn thi ngày ấy mọi người thường đùa anh là hậu duệ của vua Đinh. Thủa ấy, mẹ Âu Cơ đã hoài thai ra 100 người con, 50 người con theo cha lên rừng, 50 người con theo mẹ xuống bể. Cô là phận gái, là đàn bà, có phải vì thế mà lúc nào cũng khao khát biển, cô đã đi, đi mãi về phương Nam, và ở nơi này cô đã gặp biển, gặp số phận của mình. Nhưng cũng không vì thế mà có lúc nào cô nguôi nhớ cái cội nguồn phương Bắc của mình. Ở cái mảnh đất quanh năm ấm áp kề bên biển này, người ta đang xây dựng một nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam.

Và người đàn bà cùng đi một chuyến tàu này cũng thật đáng để cô nể trọng, Huyền thầm nghĩ và quay sang nhìn cái dáng mỏng mảnh nghiêng nghiêng của chị. Lúc sắp xuống tàu, lấy từ trong đống đồ ra một đôi giày được để cẩn thận trong một chiếc túi nhựa mỏng, chị đã than van là phụ nữ ít người có đôi bàn chân to như chân chị, không cân xứng với người, vất vả cũng chỉ vì bàn chân. Đi giày cỡ 40, nghĩ mà phát ngượng. Chỉ thấy thoải mái khi chạy ngoài ruộng đồng, bờ bãi. Nghe chị nói vậy, cô chợt nhớ lại ngày còn nhỏ ông nội cô đã có lần dặn cô phải luôn giữ ấm và thoáng khí cho hai bàn chân. Bởi tất cả các phủ tạng trong cơ thể đều có huyệt vị nằm ở gan bàn chân. Có giữ ấm nó thì mới khỏe, mới có sức mà đi xa được.

Ông còn nói rất cụ thể: Trong cơ thể con người ta, hai bàn chân chừng nào thì hai lá phổi chừng ấy. Huyền thì thấy dường như mỗi bàn chân đều biểu hiện những nét đặc thù cho số phận của người mang nó. Đôi bàn tay con người thì có thể làm được tất cả, cả những việc không ngờ. Đôi bàn chân thì đưa ta đi. Còn có chỗ nào mà bàn chân không thể đưa ta đến?

Sau này, trong thời gian ở bệnh viện thăm nuôi ông nội ốm nặng, có lần cô đã phải một mình ngồi chờ trong cái hành lang mờ mờ ẩm và lạnh bên một chiếc băng ca, có lẽ mới từ trong phòng hồi sức cấp cứu đưa ra mà chưa kịp chuyển đi. Chiếc băng ca phủ vải trắng kín mít tận phía trên, chỉ hở có đôi bàn chân khô xác, vàng vàng. Tức là người nằm đó đã không còn sống. Khi hiểu ra điều đó cô rất sợ, nhưng không thể bỏ chạy vì trong kia là ông nội đang không hiểu sống chết thế nào.

Thế là cô đành phải ngồi lại đó, cạnh chiếc băng ca với đôi bàn chân đã không còn sự sống kia, đôi bàn chân chẳng còn bao giờ phải đi đâu nữa. Không hiểu là xa xôi hay là do chưa nhận tin mà người nhà còn chưa kịp biết để đến nhận về? Ý nghĩ ấy bỗng làm cô ứa nước mắt và nỗi sợ biến mất. Bây giờ thì ông nội cô cũng đã không còn nữa từ lâu lắm rồi. Kỷ niệm về ông cũng không nhiều do gia đình cô không sống cùng ông. Chỉ những lời dặn dò của ông về bàn chân là theo cô đi mãi về phía biển.

Xuống ga, chị ân cần xách giỏ giúp Huyền và dặn bằng cái giọng dịu dàng bẩm sinh, sự dịu dàng không phải hễ ai muốn là tạo ra được:

- Rảnh thì đưa cháu đến chị chơi nghe! Chắc chị ở nhà cũng phải hết tháng. Nhà chị ở cạnh chợ Nghĩa Kỳ, em cứ hỏi chị Hai Dưỡng là người ta chỉ liền.

8-2007

VŨ THỊ THANH

Việt Báo
contentlength: 18058
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Xã Hội NỔI BẬT

Bơ vơ nỗi đau con trẻ sau đại tang 13 người chết ở Lương Điền

Chưa qua một giấc ngủ, hàng chục đứa trẻ thôn Lương Điền (xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) bỗng chốc mang thân phận mồ côi, đón tin dữ cha, mẹ tử vong sau vụ TNGT thảm khốc tại Quảng Nam