William Yeats

17:43 16/06/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

William Yeats được trao giải vì sự nghiệp sáng tác thơ, kịch, tiểu thuyết. Ông là người đề xướng ra phong trào Phục hưng văn hóa Ireland, tác giả của những tác phẩm thơ điêu luyện mang tinh thần dân tộc và truyền thống đặc sắc, tái hiện một thế giới cổ xưa với trí tưởng tượng bay bổng và tinh yêu đối với những người đàn ông mạnh mẽ và những phụ nữ xinh đẹp; ông cũng có những đóng góp to lớn cho nền sân khấu dân tộc Ireland.

William Yeats (13/06/1865-28/01/1939)

Giải Nobel văn học 1923

* Nhà thơ, nhà soạn kịch Ireland

* Nơi sinh: Sandymout, Dublin (Ireland)

* Nơi mất: Roquebrune, Cap-Martin (Pháp)

William Yeats

W.B. Yeats (1865-1939)

William Butler Yeats xuất thân trong gia đình theo đạo Tin lành, cha là luật sư đồng thời là một họa sĩ nổi tiếng, mẹ là con nhà buôn bán. Ông học ở Dublin và Oxford (London). Thời trẻ ông hoạt động xã hội rất tích cực, sớm tham gia vào làng văn học Ireland, thành lập Hội Văn học Ireland tại Anh, gia nhập phong trào Phục hưng văn học Ireland, cùng I. A. Gregory thành lập nhà hát Ireland để những nhà viết kịch có nơi diễn tác phẩm của mình. Năm 1921, ông cùng B. Shaw đặt cơ sở cho Viện Hàn lâm văn học Ireland.

W. Yeats viết thơ từ năm 1882, ba năm sau bắt đầu xuất hiện rải rác trên tạp chí của trường Đại học Dublin. Năm 1891 ông xuất bản tập thơ đầu tiên Những cuộc viễn du của Oisin và các bài thơ khác. W. Yeats làm thơ theo khuynh hướng biểu tượng và lãng mạn trữ tình, đề tài thường dựa vào những truyện thần thoại ở xứ sở ông, chịu ảnh hưởng của Maeterlinck và Swinburne, thi hứng mang nặng tính chất thần bí.

Cũng trong thời gian này ông bắt đầu sự nghiệp viết kịch. Vở kịch đầu tay Nữ bá tước Cathleen (1892), cùng với vở kịch hay nhất của W. Yeats là Cathleen con gái Honlihan (1902) được ông viết tặng người yêu, nữ chiến sĩ đấu tranh cho nền độc lập Ireland, nghệ sĩ nổi tiếng Maud Gonne. Những vở kịch của ông thường hòa quyện yếu tố dân gian với những yếu tố huyền bí, điều này phản ánh sự ham mê của ông đối với chủ nghĩa thần bí và thuyết duy linh.

Sau năm 1910, các vở kịch nghệ thuật của W. Yeats chuyển hướng đột ngột sang viết bằng thơ, phong cách bí ẩn, có nhiều khoảng trống. Những vở kịch sau đó (ông viết cho số ít khán giả chọn lọc) là những thử nghiệm với vũ điệu, âm nhạc và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những vở kịch Noh của Nhật Bản.

Từ năm 1922 đến năm 1928 W. Yeats là thượng nghị sĩ của Nhà nước Ireland tự do, tham gia nhiều hoạt động chính trị ở Ireland, sáng tác của ông thời kì này mất dần tính lãng mạn và trở nên thâm trầm sâu sắc. Hai tác phẩm đáng chú ý cuối cùng của ông là Rằm tháng Ba (1935) và Những bài thơ và những vở kịch cuối cùng.

Trong những năm 20-30 của thế kỉ XX, W. Yeats nổi lên như một trong những nhà thơ hàng đầu ở Châu Âu. Năm 1923 ông được tặng thưởng giải Nobel vì sự nghiệp sáng tác phản ánh cao độ tinh thần dân tộc trong những tác phẩm điêu luyện. W. Yeats đến dự lễ trao giải và đọc bài diễn văn Phong trào kịch Ireland (The Irish Dramatic Movement). Ngoài giải Nobel W. Yeats còn nhận được bằng danh dự của các trường đại học Dublin, Oxford...

Đầu năm 1939 W. Yeat mất ở miền Nam nước Pháp, nơi ông đến tránh mùa đông Ireland khắc nghiệt, chín năm sau hài cốt của ông mới được các sĩ quan hải quân Ireland đưa về quê.

* Tác phẩm:

Bài ca về cha O"Hart (The ballad of father O"Hart, 1888), thơ.

Bài ca về người săn cáo (The ballad of the fox-hunter, 1889), thơ.

Những cuộc viễn du của Oisin và các bài thơ khác (The wandering of Oisin and other poems, 1889), thơ.

John Sherman (1891), tiểu thuyết.

Nữ bá tước Cathleen (The countess Cathleen, 1892),kịch thơ.

Tặng bông hồng trên con đường thời gian (To the rose upon the road of time, 1893), thơ.

Xứ sở ham muốn của con tim (The land of heart’s desire, 1894), kịch thơ.

Những ngã tư đường (Crossways, 1889), tập thơ.

Hoa hồng (The rose, 1893), tập thơ.

Gió trong bãi sậy (The wind among the reeds, 1899), thơ.

Catheleen con gái Houlihan (Catheleen ni Houlihan, 1902), thơ.

Đồng hồ cát (The hour glass, 1903), kịch.

Trên bờ Baile (On Baile" strand, 1904), kịch.

Trong bảy cánh rừng (In the seven woods, 1903), thơ.

Trước cửa Vua (The King’s thereshold, 1904), kịch thơ.

Nồi nước sốt (The pot of broth, 1904), hài kịch.

Bóng nước (The shadowy waters, 1906), kịch thơ.

Deirdre (1907), kịch thơ.

Chiếc mũ màu xanh (The green helmet, 1910), thơ.

Trách nhiệm (Responsibilities, 1914), thơ.

Lễ Phục Sinh (Easter, 1916), thơ.

Bên giếng diều hâu (At the Hawk"s well, 1916), kịch.

Những giấc mơ của xương (The dreaming of the bones, 1919), kịch.

Thiên nga ở Coole (The wild’s swans at Coole, 1919), thơ.

Bốn vở kịch cho vũ nữ (Four plays for the dancers, 1921), thơ.

Michael Robartes và vũ nữ (Michael Robartes and dancer, 1921), thơ.

Hoàng hậu - diễn viên (The player queen, 1922), kịch.

Bóng hình (A vision, 1925; tái bản 1937), tiểu luận.

Tự thuật (Autobiographies, 1926)

Con mèo và mặt trăng (The cat and the moon, 1926), kịch.

Bảy bài thơ và một đoạn (Seven poems and one fragment, 1927), thơ.

Tháp (The tower, 1928), thơ.

Đám tang Parnell (Parnell"s funeral, 1932, in 1935), thơ.

Cầu thang xoáy ốc và những bài thơ khác (The winding stair and other poems, 1933), thơ.

Vua những đồng hồ tháp lớn (The king of the great clock tower, 1935), kịch.

Rằm tháng Ba (A full moon in March, 1935), thơ.

Lời nguyền Cromwell (The curse of Cromwell, 1937), thơ.

Cái chết của Cuchulain (The death of Cuchulain, 1939), kịch.

Những bài thơ và những vở kịch cuối cùng (Last poems and plays, 1940), thơ.

Ở ngoại vi Ben Bulben (Under Ben Bulben, xuất bản 1948), di chúc thơ.

* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

Đừng bao giờ trao trọn trái tim, Gửi Anne Gregory, Một bài ca, Nỗi buồn tình yêu, Khi em đã già (thơ), Đắc Lê dịch, in trong Sắc đẹp của em và lí trí của anh, NXB Thanh Niên, 1996.

Chàng Hanrahan tóc đỏ, Dương Tường dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1999; Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel, NXB Văn Học, 2004.

Giới thiệu

Per Hallström, Chủ tịch Uỷ ban Nobel Viện Hàn lâm Thuỵ Điển

Từ rất sớm, ngay khi bước vào thời niên thiếu, William Butler Yeats đã nổi lên như một nhà thơ đích thực không thể nào chối cãi; tiểu sử của ông cho thấy những thôi thúc bẩm sinh của nhà thơ đã xác định mối quan hệ của ông với thế giới ngay từ khi ông còn bé. Ông phát triển một cách tự nhiên theo đúng thiên hướng mà đời sống tình cảm và trí thức của ông gợi ra ngay từ đầu.

Yeats sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ ở Dublin, cho nên, một cách hoàn toàn tự nhiên, cái đẹp trở thành nhu cầu thiết thân đối với ông. Ông sớm bộc lộ năng khiếu nghệ sĩ và được giáo dục nhằm phát triển thiên hướng đó; chỉ dành một ít nỗ lực để bảo đảm vốn liếng học vấn truyền thống. Yeats được học hành phần lớn ở Anh, quê hương thứ hai của ông.

Tuy nhiên, bước tiến quyết định của Yeats gắn liền với nước Ailen, chủ yếu là vùng Celtic màu mỡ lạ thường của xứ Connaught, nơi gia đình ông đến sống vào mùa hè. ở đó ông hấp thụ sự huyền bí đầy tưởng tượng phong phú của các tín ngưỡng và câu chuyện dân gian, vốn là đặc trưng nổi bật nhất của dân tộc ông; và giữa thiên nhiên hoang sơ của núi đồi, biển cả, ông thấm nhuần một nỗi đam mê mãnh liệt muốn nắm bắt chính linh hồn của thiên nhiên đó.

Linh hồn của thiên nhiên không phải là một cụm từ trống rỗng đối với ông; bởi với thuyết phiếm thần Celtic, niềm tin vào sự hiện hữu những lực sống mang tính người đằng sau thế giới các hiện tượng, điều mà phần lớn người dân xứ ông vẫn lưu giữ, đã thu hút trí tưởng tượng của Yeats và nuôi dưỡng nhu cầu tôn giáo bẩm sinh mạnh mẽ của ông.

Khi tiến gần nhất đến tinh thần khoa học của thời đại mình, say sưa quan sát cuộc sống thiên nhiên, ông đắm mình vào những điệp khúc của tiếng chim hót buổi bình minh và đàn bướm đêm bay lượn khi những vì sao thắp lên trong buổi hoàng hôn. Cậu bé thấu hiểu nhịp điệu của một ngày đến mức cậu có thể xác định giờ giấc một cách chính xác chỉ bằng những dấu hiệu tự nhiên. Từ sự thấu cảm này với những âm thanh của ban mai và ban đêm, thơ ca của ông về sau thâu tóm được rất nhiều những nét quyến rũ đó.

Khi trưởng thành, ông bỏ ngay khoá học về mĩ thuật để có thể tận hiến cho thơ ca, nghệ thuật mà ông có thiên hướng mạnh mẽ nhất. Nhưng những gì ông thu thập được từ khoa mĩ thuật có thể thấy rõ trong suốt sự nghiệp của ông, cả trong mức độ ông tán dương hình thức và phong cách cá nhân, và còn hơn thế, trong những phương cách giải quyết táo bạo đầy nghịch lí cho những vấn đề mà ở đó suy luận triết lí sắc bén nhưng chắp vá của ông tìm đường đến cái mà ông cần cho bản tính đặc thù của mình.

Thế giới văn chương mà ông gia nhập khi ông đến định cư ở London vào cuối những năm 80 đã không đem lại nhiều điều tích cực cho ông, nhưng ít nhất nó đã đem lại cho ông những kẻ cùng chung chí hướng phản kháng, cái mà đối với tuổi trẻ ưa gây sự là đặc biệt quý báu. Thế giới đó đầy những chán chường và nổi loạn chống lại tinh thần của những thời đại trước mà mới đây hãy còn thắng thế, cụ thể là khoa học tự nhiên giáo điều và nghệ thuật tự nhiên chủ nghĩa. Chỉ một số ít người có thái độ thù địch ăn sâu như Yeats, đầy trực giác, có nhãn quan thấu thị và duy linh không thể nào khuất phục như ông.

Ông bất bình không chỉ bởi tính kiêu căng của khoa học tự nhiên và sự hạn hẹp của thứ nghệ thuật bắt chước nguyên xi hiện thực; còn hơn thế, ông kinh sợ sự tan biến của tính cá nhân và sự lạnh lùng phát sinh từ chủ nghĩa hoài nghi, bởi sự khô héo của trí tưởng tượng và của đời sống tình cảm trong một thế giới mà bất quá chỉ có niềm tin vào cuộc viễn hành tập thể và tự động đến vùng đất thánh Cockaigne. Các sự kiện đã chứng minh ông hoàn toàn đúng: thật đáng ngờ việc liệu chúng ta có thể ân hưởng cái “thiên đường” mà con người có thể đạt được bằng chương trình giáo dục như thế.

Kể cả những loại không tưởng xã hội đẹp đẽ hơn được đại diện bởi nhà thơ rất được hâm mộ là William Morris cũng không lôi cuốn được một người cá nhân chủ nghĩa như cậu thanh niên Yeats. Về sau ông đã tìm được cách đến với dân tộc mình, khi đó không còn là một khái niệm trừu tượng mà là dân tộc Ailen, dân tộc mà ông đã gắn bó từ thuở nhỏ. Những cái mà ông tìm kiếm trong dân tộc đó không phải là một mớ hỗn độn bị làm rối tung bởi những nhu cầu hiện đại, mà là một linh hồn phát triển theo dòng lịch sử, cái mà ông muốn nâng lên thành đời sống hữu thức hơn.

Trong sự bất mãn của giới trí thức London, những cái thuộc về dân tộc Ailen vẫn còn thân thuộc với Yeats; tình cảm này được nuôi dưỡng bởi những chuyến thăm quê hương vào mùa hè của ông cũng như bởi những công trình nghiên cứu toàn diện về văn học dân gian và phong tục tập quán dân tộc. Những áng thơ trữ tình trước đó của ông gần như chỉ lấy nguồn cảm hứng từ những đề tài đó.

Thơ đầu tay của ông nhanh chóng được tôn vinh ở Anh vì chất liệu mới này, với khả năng lôi cuốn trí tưởng tượng mạnh mẽ, được thể hiện dưới một hình thức mà dẫu mang những nét đặc thù vẫn liên hệ mật thiết với những truyền thống cao quí nhất của thơ ca Anh. Sự kết hợp giữa chất Celtic và chất Anh, sự kết hợp chưa từng có hiệu quả trên chính trường, ở đây đã trở thành một thực tại hiện hữu trong thế giới của tưởng tượng thơ ca - một hiện tượng có ý nghĩa tinh thần không nhỏ.

Cho dù Yeats đọc bao nhiêu bậc thầy kiệt xuất của Anh, thơ ông vẫn luôn mang một tính cách mới. Ngữ điệu và sắc thái đổi thay, tựa hồ chúng được chuyển đến một bầu khí quyển mới - bầu khí quyển của ánh hoàng hôn Celtic lấp lánh bên bờ biển. Thơ ông pha lời ca nhiều hơn hẳn so với thơ ca Anh hiện đại. Âm nhạc u sầu hơn và, dưới nhịp điệu nhịp nhàng, những vần thơ tự do di chuyển một cách an toàn như kẻ mộng du, ta liên tưởng đến một nhịp điệu khác với hơi thở nhẹ nhàng của gió và nhịp đập vĩnh hằng của các lực tự nhiên.

Khi nghệ thuật này đạt đến đỉnh điểm, nó [trở nên] tuyệt đối huyền bí, nhưng điều này thật khó nắm bắt. Nó thường mơ hồ đến mức cần phải nỗ lực mới có thể hiểu được. Sự tối nghĩa này một phần do tính thần bí của bản thân đối tượng, nhưng có lẽ phần nhiều là do bản tính Celtic, bản tính dường như nổi trội bởi lửa, sự nhạy cảm và tính xuyên suốt (penetration) hơn là bởi sự rõ ràng. Tuy nhiên, các xu thế thời đại cũng có thể góp phần không nhỏ ở đây: chủ nghĩa tượng trưng và l"art pour l"art (nghệ thuật vị nghệ thuật) vốn chuyên chú vào nhiệm vụ tìm từ thích hợp nhất.

Mối liên hệ mật thiết giữa Yeats với cuộc sống dân tộc đã giúp ông thoát khỏi sự khô khan mà ở thời đại ông các nhà văn vẫn thường mắc phải khi cố công đi tìm cái đẹp. Trong một nhóm những người đồng hương thuộc giới văn nghệ sĩ ở London, ông trở thành tâm điểm và lãnh tụ của phong trào được mệnh danh là Sự hồi sinh Celtic dấy lên mạnh mẽ và tạo ra một nền văn chương dân tộc mới, nền văn chương Anglo-Ailen.

Nhà thơ lỗi lạc và uyên bác nhất trong nhóm này chính là Yeats. Bản tính lãnh đạo và khuấy động của ông đã khiến cho phong trào phát triển và nhanh chóng đơm hoa kết trái, bằng cách đưa ra một mục tiêu chung cho những lực lượng lúc đó còn đang phân tán hoặc khuyến khích những lực lượng mới mà trước đó vẫn chưa nhận biết về sự tồn tại của chính mình.

Sau đó, Nhà hát Ailen cũng ra đời. Sự cổ động nhiệt thành của Yeats đã tạo ra cả sàn diễn lẫn công chúng, và buổi trình diễn đầu tiên được ra mắt với vở kịch của ông nhan đề The Countess Cathleen (1892) (Nữ bá tước Cathleen). Tác phẩm này thấm đẫm chất thơ, là mở đầu cho một loạt các vở kịch thơ khác, tất cả đều về đề tài Ailen dưới dạng những trường thiên tiểu thuyết anh hùng thời cổ đại.

Đẹp nhất trong đó là Deirdre (1907), một bi kịch đau thương của cô gái Helen xứ Ailen. The Green Helmet (1910) (Mũ sắt xanh), một thần thoại anh hùng vui nhộn về thiên nhiên hoang dã; và trên hết là The King’s Threshold (1904) (Ngưỡng cửa của nhà vua), vở kịch nơi mà chất liệu đơn sơ thấm đượm một tư duy có tầm rộng lớn và chiều sâu hiếm có. Cuộc tranh cãi về địa vị và vị thế của thi sĩ tại phiên toà của Đức Vua là vấn đề luôn nóng hổi liên quan đến những giá trị tinh thần cần được gìn giữ trong thế giới của chúng ta, liệu chúng được đón nhận với lòng trung thành thật sự hay giả tạo?

Với những đòi hỏi mà nhân vật đặt cược toàn bộ cuộc sống mình vào đó, bằng những vần thơ tuyệt tác, nhà thơ bảo vệ tất cả những gì làm cho cuộc sống con người tươi đẹp và xứng đáng. Không phải kẻ nào đưa ra các đòi hỏi đó đều trở thành nhà thơ, nhưng Yeats đã làm được điều đó: chủ nghĩa lí tưởng trong ông không bao giờ trở thành nhàm chán, sự nghiêm ngặt trong nghệ thuật của ông cũng vậy. Trong những vở kịch này, thơ của ông đạt được sự chắc chắn và vẻ đẹp hiếm thấy của thể loại.

Tuy nhiên, tác phẩm lôi cuốn nhất vẫn là The Land of Heart’s Desire (1894) (Mảnh đất hằng ao ước), kết tinh tất cả cái ma lực của thơ ca thần tiên và sự tươi mát của mùa xuân, trong giai điệu sáng rõ nhưng lại hồ như mộng ảo. Về phương diện kịch, đây là một trong những vở hay nhất của ông và lẽ ra có thể gọi là bông hoa của thơ ca ông nếu như Yeats không viết một vở kịch văn xuôi nhỏ khác có tên Cathleen in Hoolihan (1902) (Cathleen ở Hoolihan), vở kịch đồng thời là vở kịch dân gian giản dị nhất và tác phẩm hoàn thiện nhất theo lối cổ điển của ông.

Hơn bất cứ đâu khác, trong tác phẩm này ông đã chạm vào sợi dây của lòng ái quốc một cách mãnh liệt nhất. Chủ đề là cuộc đấu tranh của Ailen giành tự do qua các thời đại, và nhân vật chính là nước Ailen, được hoá thân trong một phụ nữ hành khất lang thang. Nhưng ta không nghe thấy giọng điệu căm thù đơn thuần nào, còn chất bi ai sâu xa của vở kịch được kiềm chế hơn bất cứ bài thơ nào có thể so sánh với nó.

Chúng ta chỉ nghe thấy những nốt thuần khiết nhất và cao nhất cất lên từ tình cảm dân tộc; ngôn từ ít còn hành động thì tiết giảm cùng cực. Toàn bộ vở kịch là sự tuyệt diệu mà không hề đả động tới cảm xúc. Đề tài này, một chủ đề bắt nguồn từ một giấc mơ của tác giả, đã giữ được dáng vẻ của một món quà từ đấng tối cao - một khái niệm không xa lạ trong triết học thẩm mĩ của Yeats.

Ta còn có thể nói nhiều hơn về sáng tác của Yeats, tuy nhiên chỉ nhắc đến phương pháp dựng kịch của ông trong những năm gần đây đã là quá đủ. Các vở kịch này thường lãng mạn do chất liệu kỳ lạ và khác thường của chúng, nhưng nhìn chung vẫn thiên về hình thức đơn giản cổ điển. Nét cổ điển này được phát triển thành một nghệ thuật cổ trần trụi: nhà thơ đã tìm cách đạt được sự linh hoạt nguyên thuỷ từng có ở giai đoạn đầu của toàn bộ nghệ thuật kịch.

Ông đã suy ngẫm nhiều về nhiệm vụ giải phóng bản thân khỏi sân khấu hiện đại với phông cảnh làm quấy nhiễu bức tranh xuất phát từ trí tưởng tượng, với những vở kịch mà các tính chất (features) nhất mực phải được cường điệu bằng ánh đèn sân khấu, với những khán giả yêu cầu thưởng thức những ảo ảnh thực tại. Yeats mong muốn viết lên những vần thơ y như chúng sinh ra trong nhãn kiến của nhà thơ; ông tạo hình hài cho nhãn kiến này theo những kiểu mẫu Hy Lạp và Nhật Bản. Bằng cách đó, ông đã khôi phục việc dùng mặt nạ và tìm được một nơi tuyệt diệu cho các cử chỉ của diễn viên trên nền nhạc giản dị.

Trong những tác phẩm giản dị và có một phong cách nghệ thuật nghiêm ngặt đó, với đề tài rút ra từ những huyền thoại anh hùng của Ailen, đôi khi Yeats đạt được một hiệu quả diệu kì, ngay cả đối với người chỉ đọc vở kịch, cả trong đối thoại súc tích đến cao độ cũng như trong những đoạn hợp xướng với âm điệu trữ tình sâu xa. Tuy nhiên, tất cả những điều này vẫn chỉ đang trong tiến trình phát triển, và chưa thể nói chắc những gì đạt được đã đủ để bù đắp cho những hi sinh. Những vở kịch này, mặc dù có giá trị đáng kể, khó có thể nổi tiếng hơn so với những tác phẩm được sáng tác trước đây.

Trong những vở kịch này cũng như trong những vần thơ trữ tình trong sáng và đẹp nhất của ông, Yeats đã đạt được điều mà chỉ ít nhà thơ có thể làm được: ông đã thành công trong việc lưu giữ mối quan hệ với dân tộc mà vẫn giữ vững nghệ thuật đậm nét quí tộc. Sáng tác thơ ca của ông được phát triển trong một môi trường nghệ thuật đặc biệt đầy bất trắc: song, tuy không từ bỏ những bài viết về lòng trung thành với cái đẹp, bản tính tìm tòi và cháy bỏng luôn hướng tới lí tưởng của ông đã được đào luyện để không rơi vào cái đẹp bề ngoài trống rỗng. Ông đã có thể theo đuổi cái tinh thần từng sớm chọn ông làm nhà thông ngôn cho đất nước ông, một đất nước đã từ lâu chờ đợi một người đem lại cho nó một tiếng nói. Thật không quá chút nào khi gọi một sự nghiệp trọn đời như vậy là vĩ đại.

  • Tân Đôn dịch, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính

Bản quyền bản tiếng Việt bài tuyên dương này thuộc Trung tâm Culture Globe

Việt Báo
contentlength: 36296
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Văn Hóa NỔI BẬT

Cậu bé 8 tuổi qua đời vài giờ sau khi được chẩn đoán bị cúm

Chỉ vài ngày trước sinh nhật lần thứ 9, bé Chucky bắt đầu đổ bệnh. Gia đình đưa đi khám thì được bác sĩ chẩn đoán bị cúm thông thường, không ngờ rằng căn bệnh đã cướp đi sinh mạng của em vài giờ sau đó.

Bài được quan tâm

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..