Văn hóa dân gian và du lịch

13:57 14/04/2004

Van hoa dan gian va du lich
Ca Huế trên sông Hương
Giáo sư - Tiến sĩ Tô Ngọc Thanh cho rằng, trong kho tàng di sản văn hóa dân gian có những hoạt động không thể và không nên khai thác cho du lịch. Hoặc nếu khai thác thì nhất thiết phải thận trọng để không làm mất đi bản chất vốn có của nó.

Thận trọng khi khai thác văn hóa cho du lịch

Xin đưa một thí dụ: Ở Huế, trong một khách sạn, người ta dành một phòng, thiết kế như một nơi của vua và hoàng hậu ngủ cho khách thuê. Khách nam sẽ được khoác áo hoàng bào, đội mũ miện, đi hia hoàng đế. Vợ khách hay người cặp đôi với khách sẽ mặc xiêm y của hoàng hậu. Họ ngồi ăn với sự hầu hạ của những người đóng vai thị tỳ, thị vệ, đôi lúc có cả vai quan hoạn đứng chầu. Ðặc biệt, tốp nhạc cử các bài Nhã nhạc trong lúc họ ăn uống nói chuyện. Sau bữa ăn, cả đoàn tùy tùng dẫn khách vào phòng hoàng đế trong tiếng Nhã nhạc réo rắt (!).

Dù triều Nguyễn được đánh giá như thế nào đó về mặt lịch sử, thì các vị vua và những gì gắn với đời sống của họ, đặc biệt là Nhã nhạc nay đã được công nhận là di sản thế giới, vẫn là những biểu tượng không thể đem ra làm trò mua vui kiếm tiền từ khách được. Lòng tự tôn dân tộc bị xúc phạm.

Trong Hội nghị các chuyên gia văn hóa các nước châu Á - Thái Bình Dương do UNESCO tổ chức tại Tokyo (Nhật Bản) từ 8 đến 12-2-2000 với chủ đề Xây dựng một mạng lưới bảo vệ và phát huy nghệ thuật biểu diễn dân gian cổ truyền có một tiểu ban thảo luận chuyên đề: Văn hóa dân gian và Du lịch - Tương hỗ hay đối đầu.

Tại tiểu ban này, đại biểu các nước đang phát triển và các nước châu Phi, Á, châu Ðại Dương và Mỹ la-tinh phát biểu ý kiến rất nhiều về một nguy cơ vốn di sản văn hóa dân tộc đang bị xâm hại, bị làm méo mó đi để phục vụ du lịch.

Ở VN, tình trạng chưa đến mức báo động như vậy. Tuy nhiên đây đó cũng đã có những ý kiến trái ngược nhau.

Cũng như thế là trường hợp cái gọi là "chợ tình" bị hiểu theo nghĩa là nơi "mua bán tình". Thực ra, nhiều người đi chợ không phải để mua bán, càng không phải là "mua bán tình", mà là để gặp nhau hàn huyên trò chuyện. Gọi "chợ tình" là làm sai lạc bản chất của sự vật. Thứ nữa, "chợ tình" có nên trở thành đối tượng quan sát của khách du lịch hay không? Liệu có dung tục hóa khi đem những cuộc gặp gỡ, chuyện trò kín đáo giữa hai người bạn thành một màn trình diễn du lịch không?

Cũng như thế là trường hợp làm đám cưới giả cho khách xem. Cũng rước dâu, trang điểm, lễ bái, dẫn dâu, thậm chí cả tiết mục động phòng nữa!

Cũng như thế là trường hợp các tốp đờn ca tài tử ở một số nơi ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà các nghệ sĩ cố gắng rút ruột ra ca cho mùi mẫn sáu câu vọng cổ sâu đậm, còn khách thì nhồm nhoàm ăn uống và cười nói ồn ào?

Xử lý thế nào khi đem vốn âm nhạc rất mực hào hoa, phong nhã của các tài tử làm nền cho những bữa ăn xô bồ? Tình trạng này cũng có ở một số khách sạn ở TP.HCM, nơi ngay cả các nghệ nhân lão thành cũng tới đờn, ca với một mặc cảm tủi hổ. Cụ B. B nói: "Biết vậy, nhưng không đi đờn thì lấy chi qua ngày, chú!".

Thông qua những hiện tượng nói trên, câu hỏi được đặt ra là "Làm thế nào để khai thác di sản và vốn văn hóa các dân tộc như một tiềm năng của du lịch, đồng thời giữ gìn và phát huy giá trị nhân văn và bản sắc dân tộc hàm chứa trong di sản đó?" và "Phải chăng trong kho vốn di sản văn hóa có những hoạt động không thể, không nên khai thác cho du lịch hoặc nếu khai thác thì cần thận trọng và có những biện pháp bảo đảm phẩm chất vốn có của nó?".

Tâm lý văn hóa bị biến đổi

Một vấn đề nữa được đặt ra là những cuộc trình diễn giả tạo nói trên đã ảnh hưởng đến tâm lý văn hóa của chính chủ nhân chúng.

Thứ nhất, trình diễn như thế về thực chất là tách hoạt động ra khỏi môi trường và bối cảnh của nó. Do đó, những hoạt động đó cũng đồng thời mất luôn ý nghĩa nhân văn của chúng. Chúng chỉ còn là những trò lặp đi lặp lại nhiều lần cho khách xem.

Vì thế, nó không còn được người bản xứ coi trọng và dần dà, họ loại chúng ra khỏi tổng thể nền văn hóa của họ và xếp chúng vào những hoạt động để thu nhập.

Thứ hai, một khi đã không còn là biểu tượng tinh thần dân tộc nữa và trở thành món hàng được đưa vào lưu thông, thì người dân cũng sẵn sàng uốn nắn nó theo những gì mà khách du lịch muốn có.

Ở nhiều nơi trên Tây Nguyên, người ta luôn cường điệu để trình ra một con người Tây Nguyên hoang sơ. Bài hát đầy rẫy những tiếng hú. Ðộng tác múa thì rung toàn thân đến quá mức. Chiêng cồng được gõ lại để đánh các bài "hiện đại" cho nó "máu". Các đồ dệt thổ cẩm ngày càng xuống cấp. Hoa văn ngày càng đơn giản. Vải nền dệt quá thưa. Các mối nối chưa dùng đã tuột. Mầu gặp nước mưa là phai ngay. Và dù bán rất rẻ nhưng món thổ cẩm đang vắng khách dần.

Ðang xuất hiện một nguy cơ là chính người chủ di sản đang hạ thấp chất lượng "hàng hóa tham gia du lịch" của mình và đánh mất ngày càng nhiều hàm lượng văn hóa chứa đựng trong đó.

Cần có sự công bằng

Vấn đề thứ ba cũng bức xúc không kém là cơ chế phân phối lợi ích đến các thành phần tham gia văn hóa du lịch. Kinh nghiệm cho thấy, người thu lợi ít nhất lại chính là chủ nhân và là người sản xuất ra thứ "hàng hóa văn hóa đó". Thử điểm qua một vài loại hình hàng hóa thường thấy:

Ðối với loại hàng thủ công mỹ nghệ mà ở vùng núi thường là dệt, thêu và một bộ phận nhỏ là người Dao, HMông, các loại nhạc cụ, các đồ đan, v.v. tác giả và chủ nhân là người địa phương. Nhưng họ không có vốn, cũng chẳng có cửa hàng, nên không thể sản xuất nhiều.

Họ lang thang trên đường phố của thị trấn du lịch hay đứng ở góc chợ và bán sản phẩm với giá rẻ bất ngờ. Một số khác thì đem bán cho những người có cửa hàng ở thị trấn, hoặc các quầy hàng lưu niệm của các khách sạn, ở đấy món hàng có thể có giá cao gấp nhiều lần so với giá mua vào.

Như vậy, khi bán sản phẩm, người làm ra mới chỉ nhận được giá trị của chính vật đó, nhiều khi thấp hơn nhiều so với giá trị của nó. Còn hàm lượng văn hóa, nồng độ và tài năng của trí sáng tạo, nói gọn lại là bản quyền văn hóa chứa trong sản phẩm đó thì không ai trả tiền cả.

Một bộ trang phục nữ Khơ Mú chẳng hạn, phải là kết quả sáng tạo của hàng nghìn năm để định hình thành biểu tượng độc đáo của dân tộc. Năm 1995, tôi mua một bộ trang phục nữ giá 700 nghìn đồng. Năm ngoái, 2003, thấy chợ Sa Pa bày la liệt bộ trang phục này được may nhái với chất liệu vải dệt dối, thưa như vải màn, giá có mua cũng không dám mặc. Và giá rẻ bất ngờ: 80 nghìn đồng chưa mặc cả!

- Khách du lịch theo "tua" đã có công ty du lịch bao trọn gói. Lợi nhuận được chia cho các cơ quan như xe tàu, nhà hàng, khách sạn, v.v. Khách du lịch ba-lô dù phải trả ít hơn nhưng cũng không trả trực tiếp cho dân.

Khách muốn xem trình diễn phong tục, tập quán, nghệ thuật ca múa nhạc, v.v. một loại hàng văn hóa khác đã có tổ chức địa phương đứng ra thu tiền và trả thù lao cho dân, phần lớn mức trả theo giá ngày công lao động!? Nếu khách chụp ảnh, quay video thì phải trả thêm tiền.Thặng dư thu được hoặc được nộp vào ngân sách của sở tài chính, hoặc để ở cơ quan quản lý du lịch địa phương.

Cũng như trường hợp trên, người dân chẳng những không được trả công xứng đáng với giá trị văn hóa nghệ thuật của những gì họ trình diễn, mà còn mất bản quyền cho những kiểu ảnh hay đoạn video.

Và ai chịu trách nhiệm bồi dưỡng cho họ thích đáng để họ "tái sản xuất" và trí tuệ và kỹ năng trình diễn? Ai chịu trách nhiệm đầu tư trở lại cho cơ sở hạ tầng của nhà họ, đường đi, lối lại đến làng họ?

Hiện nay, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đang nghiên cứu một công ước quốc tế nhằm bảo vệ quyền sở hữu sáng tạo của các dân tộc, các cộng đồng không thuộc giới chuyên nghiệp.

Trong lúc sử dụng và khai thác tiềm năng văn hóa, nhất là di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, ngành du lịch có nên hay cần phải có trách nhiệm "nuôi" văn hóa, đầu tư trở lại cho văn hóa được phát huy lâu dài hơn không? (Ngoài việc đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, việc quan trọng là góp phần xóa đói, giảm nghèo cho cộng đồng làng và nhất là góp phần đào tạo các thế hệ trẻ để di sản văn hóa được tiếp nối).

Tất cả những điều trình bày trên đây không phải là mới. Chúng ta cũng đã nhiều lần đặt ra và thảo luận. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn đòi hỏi chúng ta đào sâu hơn nữa để có được mối quan hệ thiết thực, công bằng và đầy trách nhiệm giữa các thành phần tham gia công tác du lịch văn hóa.

GS, TSKH TÔ NGỌC THANH - Tổng Thư ký Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (Báo Nhân Dân)

Việt Báo
contentlength: 12761
Chia sẻ

TIN Đời Sống-Gia Đình NỔI BẬT

Bi hài chuyện đổi “quốc tịch” cho… hoa quả

Mới 3 giờ sáng mà dòng người và xe đổ về chợ Long Biên ngày một đông. Phần lớn mặt hàng ở đây là các loại rau, củ, quả, trong đó đa số có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc.

Bài được quan tâm

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..