Selma Lagerlof

11:49 21/12/2005
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Selma Lagerlöf là nhà văn nữ đầu tiên đ­ược nhận giải Nobel. Đặc điểm nổi bật trong sáng tác của bà là tính lí tưởng cao cả, trí tưởng tượng rực rỡ. Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của bà là Cuộc phiêu lưu kì thú của Nils Holgerssons qua suốt nước Thụy Điển được viết theo tinh thần truyện kể dân gian, kết hợp chất lãng mạn trong những câu chuyện cổ tích thần tiên với tính thực tế của người nông dân.

Selma Lagerlof

Selma Lagerlof (1858-1940)

Selma Lagerlöf (20/11/1858 - 16/3/1940)

Giải Nobel văn học 1909

* Nữ nhà văn Thụy Điển

* Nơi sinh: Marbacka, Varmland (Thụy Điển)

* Nơi mất: Marbacka, Varmland (Thụy Điển)

Selma Ottiliana Lovisa Lagerlöf xuất thân từ gia đình dòng dõi quý tộc lâu đời đã sa sút, bố là sĩ quan về hưu. Năm lên ba, bà bị bệnh bại liệt, không đi lại được một năm và thọt chân suốt đời. S. Lagerlöf tự học ở nhà với bà, nghe vô số chuyện cổ tích, thần thoại, đọc và bắt đầu sáng tác thơ. Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm nữ Hoàng gia, năm 1885 bà trở thành cô giáo tại trường dành cho học sinh nữ Landskrona (miền Nam Thụy Điển). Tại đây, dưới ấn tượng của các câu chuyện thần thoại và phong cảnh tuyệt đẹp của miền quê, bà đã bắt đầu viết tiểu thuyết đầu tay Truyền thuyết về Gosta Berlings (1891), cuốn sách được tặng giải nhất của một cuộc thi văn học và mang lại danh tiếng cho nữ nhà văn trẻ, và bà đã quyết định dành trọn đời mình cho sự nghiệp sáng tác văn học.

Từ giữa những năm 1890, đ­ược nhận trợ cấp của vua Oscar II và sự giúp đỡ tài chính của Viện Hàn lâm Thụy Điển, S. Lagerlöf đi du lịch qua các nước Italia, Palestin, Ai Cập và viết các tác phẩm Những phép lạ của tên nghịch Chúa và tác phẩm đỉnh cao của mình là Jerusalem. Năm 1904, bà được tặng Huy chương vàng của Viện Hàn lâm Thụy Điển; và với số tiền bán sách bà đã mua lại trang trại của gia đình bị bán đi trước đây do túng thiếu. Năm 1906 S. Lagerlöf xuất bản cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của mình, được cả thế giới đọc là Cuộc phiêu lưu kì thú của Nils Holgerssons qua suốt n­ước Thụy Điển. Năm 1909, bà đ­ược trao giải Nobel vì những tác phẩm đã kết hợp đ­ược "sự trong sáng và giản dị của ngôn ngữ, vẻ đẹp của văn phong và trí tưởng tượng phong phú với sức mạnh đạo lí và độ sâu của các cảm xúc tín ng­ưỡng". Những năm sau đó, S. Lagerlöf tiếp tục viết về vùng quê Varmland với những truyền thuyết và giá trị văn hóa của nó, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động xã hội, phong trào phụ nữ, chống chiến tranh. Bà đã giúp nhiều nhà hoạt động văn hóa Đức thoát khỏi sự truy bức của chủ nghĩa phát xít, trong đó có nữ nhà văn Nelly Sachs, người nhận giải Nobel Văn học năm 1966 cùng với nhà văn Samuel Agnon.

Sau một cơn bệnh kéo dài, S. Lagerlöf mất tại nhà riêng ở tuổi 81.

* Tác phẩm:

Truyền thuyết về Gosta Berlings (Gosta Berlings saga, 1891), tiểu thuyết.

Những xiềng xích vô hình (Osynliga lọnkar, 1894), tập truyện ngắn.

Những phép lạ của tên nghịch Chúa (Antikrists mirakler, 1897), tiểu thuyết [The miracles of antichrist].

Các nữ v­ương xứ Kungahalla (Drottningar i Kungahọlla, 1899), tập truyện ngắn.

Jerusalem (1901-1902), tiểu thuyết hai tập [The Holy city].

Huyền thoại về Chúa Jésus (Kristulegender, 1904) [Christ legends].

Cuộc phiêu lưu kì thú của Nils Holgerssons qua suốt n­ước Thụy Điển (Nils Holgerssons underbara resa genom Svenge, 1906) truyện thiếu nhi [The wonderful adventures of Nils].

Cô bé từ trang trại đầm lầy (Tosen fran stormyrtorpet, 1907), truyện thiếu nhi.

Ngôi nhà của Liljecrona (Liljecronas hem, 1911), tiểu thuyết.

Người xà ích (Körkarlen, 1912), tiểu thuyết.

Troll và mọi người (Troll och menniskor, 1915), tập truyện.

Kẻ lùi bước (Bannlyst, 1918), tiểu thuyết.

Đức hoàng đế nước Bồ Đào Nha (Kejsarn av Portugallien, 1914), tập truyện.

Marbacka (1922), tự truyện về thời thơ ấu.

Charlotte Lowenskond (1925), tiểu thuyết.

Chiếc nhẫn của dòng họ Lowenskolds (Lowenskoldska Ringen, 1925), tiểu thuyết.

* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

Những dây vô hình (tập truyện), Xuân T­ước dịch, NXB Ngày Mai, 1966.

Chiếc xe của thần chết (tập truyện ngắn), Tô Ch­ương - Ngọc Thọ dịch, NXB Văn Học, 1986.

Truyện cổ Yơxta Becling (nguyên tác: Gosta Berlings saga, tiểu thuyết), Hoàng Thiếu Sơn dịch, NXB Văn Học, 1974.

Yơxta Becling (nguyên tác: Gosta Berlings saga, tiểu thuyết), Hoàng Thiếu Sơn dịch, Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình - NXB Văn Học, 1986.

Cuộc lữ hành kì diệu của Nilx Holyerxôn qua suốt n­ước Thụy Điển, Hoàng Thiếu Sơn dịch, NXB Giáo Dục, 1988; NXB Văn Học, 1997.

Chiếc nhẫn của dòng họ Lowenskold (tiểu thuyết), Vũ Đình Phòng dịch, NXB Văn Học, 1994.

Hoa hồng trắng đêm giáng sinh, Hải Nguyên dịch, NXB Văn hóa - Thông tin, 2003.

Con chim đất, Xuân T­ước dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.

Cái b­ước thứ hai, Hoàng Thiếu Sơn dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1999.

Câu chuyện vợ một người dân chài, Ngọc Thọ dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1997; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.

Tại sao giáo hoàng sống lâu thế, Nguyễn Thế Công dịch, in trong Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel, NXB Văn Học, 2004.

Lời tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển

Claes Annerstedt, Chủ tịch Viện Hàn lâm Thuỵ Điển

Lịch sử cho chúng ta biết rằng, đã có thời nhân dân Thuỵ Điển chiến đấu để giành vị trí danh dự trên thế giới trong lĩnh vực quân sự. Thời đại súng ống đã qua, nhưng trong cuộc cạnh tranh trên vũ đài quốc tế giành những giải thưởng hoà bình, nhân dân Thuỵ Điển từ lâu luôn giữ một vị trí đáng kính, và giờ phút này là lúc Thuỵ Điển có thể hiên ngang bước vào cuộc đua tranh với các quốc gia đại thụ trong lĩnh vực văn học. Hoạt động trí óc được quyết định bởi sức sống, điều không phải tính bằng số dân hay số lượng tiền vàng, mà bằng khả năng đáp ứng được nhiều hay ít những nhu cầu tinh thần và nhu cầu đạo đức.

Geijer, Tegnér hay Runeberg, và nhiều người khác nữa, đều xứng đáng được đề cử để nhận giải Nobel, và những gì họ khởi xướng giờ đã tiến rất xa. Tuy nhiên, trong số các nhà văn thuộc thế hệ sau - những văn sĩ đã đóng góp không nhỏ cho nền văn học của chúng ta - nổi lên một cái tên ngang tầm với vẻ rực rỡ của ngôi sao đang độ sáng chói. Trong sáng tác của Selma Lagerlöf, chúng ta nhận thấy những phẩm chất cao quí và trong sáng nhất của Người Mẹ Thuỵ Điển vĩ đại. Cách đây 5 năm, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã thừa nhận tầm quan trọng và sức mạnh của những cống hiến của bà cho thơ ca Thuỵ Điển bằng việc trao cho bà huy chương vàng "vì sức tưởng tượng dồi dào, lí tưởng cao đẹp và tài năng kể chuyện đã cuốn hút vô số độc giả trên khắp đất nước Thuỵ Điển cũng như ở nhiều nước khác". Sự tôn vinh này nhận được sự hưởng ứng của mọi tầng lớp trong xã hội. Hôm nay người dân Thuỵ Điển chắc chắn sẽ còn tự hào hơn khi biết rằng Viện Hàn lâm Thuỵ Điển còn đánh giá cao hơn nữa những thành quả văn chương của Selma Lagerlöf, coi tác phẩm của bà xứng đáng được xếp ngang hàng với những tác phẩm là tài sản của nhân loại và thấm đẫm những lí tưởng cao đẹp mà Nobel yêu cầu đối với giải thưởng ông sáng lập ra. Không nên cho rằng quyết định trên xuất phát từ lòng tự tôn dân tộc thái quá, bởi lẽ có rất nhiều nhà phê bình nước ngoài cùng chung quan điểm ủng hộ bà. Cũng không nên cho là thiếu khiêm nhường khi giải Nobel đã được trao lần thứ 9 mà vẫn chỉ bó hẹp trong ranh giới quốc gia sáng lập. Trái lại, một sự khiêm nhường như vậy chẳng khác gì sự thiếu tự tin dân tộc.

Không mấy tiểu thuyết đầu tay lại thu hút được nhiều chú ý như cuốn Truyền thuyết về Gösta Berlings (1891). Tác phẩm giàu ý nghĩa không chỉ bởi nó đoạn tuyệt với hiện thực giả dối và bệnh hoạn của thời bấy giờ, mà còn bởi nghệ thuật độc đáo của nó. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều hoan nghênh nó. Nhiều người hết lời ca tụng nhưng một số người lại chỉ trích gay gắt. Nhưng có lẽ chính điều đó lại là bằng chứng hiển nhiên nhất về tính độc đáo phi thường của tác phẩm. Người ta không thể không ngưỡng mộ một trí tưởng tượng vô song thậm chí từ thời Almqvist. Dù các nhân vật và các tình huống mà bà sáng tạo ra có kì dị đến đâu, chúng vẫn được khoác những bông hoa đẹp đẽ của thiên tài nghệ thuật thực thụ, và cách thể hiện cho ta một vẻ đep đầy quyến rũ. Người đọc đặc biệt cảm động sâu sắc khi bất ngờ gặp lại trong tác phẩm của bà những mảnh đời sống của thôn quê Thuỵ Điển bị quên lãng từ lâu, trái tim người đọc rung lên trong lồng ngực, và khung cảnh lộng lẫy lạ kì mê hoặc mọi giác quan. Tác phẩm đầu tay này vẫn còn một số nhược điểm. Nhưng làm sao mà tránh được! Ngọc nào chẳng có vết, và có thiên tài nào vừa bước vào thế giới văn chương đã lập tức chín muồi? Nhưng có một điều hết sức hiển nhiên: một thiên tài Thuỵ Điển thực sự đang đập cánh để bay lên.

Chẳng bao lâu sau bà bước vào vương quốc những di sản thực sự của mình, đó là thế giới bí ẩn của truyền thuyết và truyện cổ tích. Chỉ có một tâm hồn được nuôi dưỡng bằng những huyền thoại từ thời thơ ấu, một tâm hồn biết cộng thêm tình yêu vào trí tưởng tượng phong phú của mình, mới dám lí giải những bí mật của thế giới vô hình nằm ngay cạnh hay bên dưới thế giới hữu hình. Khả năng tưởng tượng của Lagerlöf, rất đặc trưng trong tác phẩm, mạnh hơn bất kì người nào khác kể từ thời St. Birgitta. Giống như những khúc xạ trong khí nóng của sa mạc tạo thành những ảo ảnh sinh động đánh lừa kẻ đi đường, trí tưởng tượng phong phú và đầy màu sắc của Selma Lagerlöf như có một ma lực thổi sự sống vào những quan sát của bà. Bất kì ai nghe thơ bà đều có liên tưởng này. Điều này đặc biệt đúng trong những đoạn bà mô tả thiên nhiên. Với bà, thiên nhiên, ngay cả những vật vô tri vô giác, đều có một cuộc sống thực sự, tuy vô hình. Vì thế, ngòi bút nghệ thuật điêu luyện của bà không bằng lòng với việc mô tả vẻ đẹp bề ngoài của thiên nhiên. Đôi mắt tràn đầy tình thương yêu dõi theo cuộc sống bên trong của tự nhiên, còn đôi tai mẫn cảm lắng nghe ngôn ngữ câm lặng của nó. Đó là lí do tại sao bà lại thành công khi lột tả những bí ẩn đẹp đẽ của thế giới cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại và chuyện thánh thần - những bí mật mà không phải những ngôn từ trau chuốt mà chỉ có những ngôn từ thật giản đơn mới có thể cảm nhận được, đúng như lời bà của Selma Lagerlöf, sự giản dị "có đôi mắt nhìn thấu được những bí mật của Chúa".

Như một nghệ sĩ chuyên vẽ đề tài cuộc sống thôn quê, bà là một cây viết độc đáo và ngang ngửa với các tác giả xuất sắc nhất của các nước khác. Tác phẩm Tösen från Stormyrtorpet (1908) (Cô gái đến từ trang trại đầm lầy), là một bức tranh kiệt tác phác hoạ chân thực và sinh động phong cảnh đồng quê. Tác phẩm này cũng thể hiện vẻ đẹp mới mẻ và sâu lắng trong sức sống mãnh liệt của tình yêu vị tha xuyên suốt tác phẩm. Và còn nhiều tác phẩm khác cũng không kém phần hấp dẫn. Tuy nhiên, tài năng của Selma Lagerlöf thể hiện rõ nhất trong một thành tựu đáng tự hào có nhan đề là Jerusalem (1901-02). Những biến đổi về đời sống tâm linh đôi lúc khuấy động tầng lớp nông dân của chúng ta hiếm khi được mô tả sinh động và chính xác như trong những đoạn mô tả cuộc hành hương của dân tộc Dalekarlia tới miền đất thánh chính. Người đọc có cảm giác như chính mình được chứng kiến diễn biến của cuộc hồi hương của dân tộc nghiêm túc và nội tâm này, để rồi ngồi lại suy ngẫm về những bí ẩn của cuộc sống. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những người này, bị giằng xé giữa tín ngưỡng và mê tín, bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh nội tâm đau đớn giữa một bên là tình yêu dành cho mảnh đất tổ tiên để lại và bên kia là sự lo sợ sẽ đi chệch đường với Chúa, cuối cùng phải rời bỏ quê hương, bởi họ tin rằng tiếng chuông vang vọng trên cao là dấu hiệu hướng họ hành hương đến mảnh đất thánh. Cũng hoàn toàn tự nhiên nếu như trong trái tim của người con tự nguyện lưu đày này, quá vui sướng khi nhìn thấy miền đất mà Chúa Jesus từng đặt chân, dâng lên khát vọng chinh phục vùng đất xanh tươi vùng cực bắc xa xôi, ở miền Dalarna cổ kính. Tiếng rì rầm của sông và tiếng rì rào của rừng sâu luôn văng vẳng bên tai họ. Với khả năng cảm thụ sâu sắc, nhà thơ đã làm cho những điều bí hiểm sâu cùng trong tâm hồn họ phải lên tiếng, và chất thơ tinh khiết đã làm đổi thay cuộc sống tẻ nhạt đau thương của họ. Trong đoạn mở đầu của Jerusalem, với nhan đề Ingemarssönerna (Con trai của Ingemar), bà ngụ ý một cách xúc động, rằng cuộc sống và chiến công của cha ông sẽ quyết định số phận của các thế hệ con cháu.

Phong cách của Selma Lagerlöf đáng được chúng ta ca ngợi. Như một người con gái trung thành, bà đã phát huy được sự giàu có của tiếng mẹ đẻ. Nhờ vậy bà có cách biểu đạt trong sáng, rõ ràng và chất nhạc mượt mà luôn hiện hữu trong tất cả sáng tác của mình.

Sự trong sáng và dung dị trong biểu đạt, vẻ đẹp của hành văn và trí tưởng tượng phong phú của bà còn được kết hợp với sức mạnh đạo đức và tình cảm tôn giáo sâu sắc. Dĩ nhiên, điều đó chỉ có thể có ở mà cuộc sống là một "sợi chỉ trên khung cửi khổng lồ của Chúa". Trong thơ ca cao thượng như thế, bầu khí quyển bao giờ cũng tinh khiết. Có không ít truyền thuyết của bà đã đạt được phong cách giản dị mà cao thượng của Kinh thánh. Nhưng điều khiến các tác phẩm của Selma Lagerlöf được yêu thích đến vậy là chúng ta dường như luôn nghe thấy trong đó tiếng vọng riêng biệt nhất, mạnh mẽ nhất, cũng như thấy trong đó những điều kì diệu nhất làm lay động con tim của nhân dân Thuỵ Điển. Không mấy ai hiểu được bản chất sâu thẳm của người dân Thuỵ Điển với một tình yêu nồng cháy như bà.

Trong tác phẩm Tösen från Stormyrtorpet, khi vị quan toà nghiêm khắc mà tính cách nghiệt ngã ngày càng bộc lộ trước tình yêu Chúa quên mình của cô gái trẻ, cuối cùng đã phải xúc động tự nhủ : "Đó là dân tộc tôi. Và tôi sẽ không nổi giận với họ bởi vì trong số những kẻ hèn mọn đó vẫn có người thành kính và tôn thờ Chúa đến vậy", thì đó chính là tiếng nói của trái tim bà. Cái nhìn chân thành và sâu sắc như vậy chỉ có thể có ở người mà tâm hồn đã gắn bó thân thiết với mảnh đất Thuỵ Điển, người được nuôi dưỡng bằng những huyền thoại, lịch sử, văn hoá dân gian và thiên nhiên của mảnh đất này. Ta có thể dễ dàng hiểu được tại sao cảnh chiều hôm huyền bí, huyền ảo và gợi lòng nhớ tiếc vốn đặc trưng cho thiên nhiên Bắc Âu lại xuất hiện trong hầu hết các tác phẩm của bà. Sự vĩ đại của bà chính là khả năng vận dụng cả trái tim lẫn thiên tài của mình để làm cho người đọc tự nhận ra mình qua những đặc điểm và tính cách vốn là đặc thù của dân tộc mình.

Chúng ta chắc chắn sẽ làm đúng ý nguyện của người sáng lập khi trao vinh dự cao quí này cho những biết gợi lên những gì tốt đẹp trong tâm hồn con người, những người mà tên tuổi cũng như những đóng góp của họ vượt ra ngoài biên giới Thuỵ Điển. Sẽ chẳng có nhà văn tên tuổi nào, dù ở Thuỵ Điển hay ở các nước khác, cảm thấy ghen tị nếu Viện Hàn lâm Thuỵ Điển công bố trao giải Nobel Văn học năm nay cho người con kiệt xuất của Thuỵ Điển, Selma Lagerlöf.

  • Tân Đôn dịch, Ngô Tự Lập hiệu đính

Bản quyền tiếng Việt bài tuyên dương này thuộc Trung tâm Culture Globe

Việt Báo
contentlength: 29690
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Bài được quan tâm

Bài viết khác

Xem tiếp >>

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..