Rudolf Eucken

14:29 10/12/2005
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Rudolf Eucken (5/1/1846 - 14/9/1926)

Rudolf Eucken

Rudolf Eucken (1846-1926)

Giải Nobel văn học 1908

* Triết gia Đức

* Nơi sinh: Aurich (Đức)

* Nơi mất: Jena (Đức)

Rudolf Eucken là tác giả nhiều công trình nghiên cứu công phu trong các lĩnh vực khác nhau của môn triết học và là người bảo vệ nhiệt tình của tính tinh thần đích thực, chống lại thói đạo đức bề ngoài, vì đời sống thanh cao và phẩm hạnh của con người. Ông được trao giải Nobel Văn học vì những tìm kiếm chân lí nghiêm túc, sức mạnh xuyên suốt của tư tưởng, nhãn quan rộng, sự linh hoạt và tính kiên định mà ông dựa vào để bảo vệ và phát triển triết học lí tưởng của mình.

Rudolf Christoph Eucken sinh tại thành phố nhỏ Aurich cạnh biên giới Hà Lan; bố làm nghề bưu điện nhưng có khả năng toán học; mẹ là con gái mục sư, có học vấn và nghị lực. Sau cái chết của bố và em trai, R. Eucken bị bệnh nặng, người mẹ phải cho thuê nhà để có tiền cho con đi học. Ông có thiên hướng triết học ngay từ sớm, khi còn học phổ thông đã từng học thần học, sau học triết học, văn học và lịch sử tại các trường Đại học Tổng hợp Gottingen, Berlin và viết các luận án tốt nghiệp bằng tiếng Hy Lạp cổ.

Năm 1871-1874 R. Eucken dạy triết tại Đại học Tổng hợp Basel, sau đó trở thành giáo sư triết học của Đại học Tổng hợp Jena (đến năm 1920); năm 1912 được mời sang Đại học Tổng hợp Harvard, năm 1914 dự định sang Đại học Tổng hợp Tokyo nhưng rồi nổ ra Thế chiến I. Trong các công trình thời kì đầu, Eucken nghiên cứu lịch sử triết học, lô gích học, về sau chuyển sang đạo đức học. Ông là tác giả của các quan điểm "phương pháp lô gích học tinh thần" và "siêu hình học tinh thần", cho rằng con người có thể đạt đến hạnh phúc của đời sống tinh thần chỉ nhờ những nỗ lực không ngừng của bản thân theo hướng này. Tư tưởng của R. Eucken rất phổ biến trong những năm đầu thế kỉ XX ở Đức, Anh, Mỹ, Nhật và các nước vùng Scandinavia.

Năm 1908, ông là người thứ hai không phải là người trong giới văn học được giải Nobel Văn học.

R. Eucken thường bị phê phán là không chú ý đến các thành tựu của khoa học hiện đại, nhưng ông có không ít các môn đệ của mình, và được đánh giá là một trong những nhà t­ t­ởng và nhà đạo đức học lớn nhất của thời đại chúng ta.

Ông mất năm 1926 tại Vienna ở tuổi 81.

Tác phẩm:

Ph­ương pháp nghiên cứu của Aristotle (Die Methode der aristotelischen Forschung, 1872).

Những khái niệm cơ sở của tư tưởng triết học hiện đại (Die Grundbegriffe der Gegenwart, 1878); năm 1908 in lại d­ới nhan đề Các xu h­ướng cơ bản của tư tưởng hiện đại (Geistige Strửmungen der Gegenwart).

Vấn đề cuộc sống con người qua lăng kính của các nhà tư tưởng lớn (Die Lebensanschauungen der grossen Denker, 1890) [The problem of human life as viewed by the great thinkers from Plato to the present time].

Cuộc đấu tranh vì cuộc sống tinh thần (Der Kampf um einen geistigen Lebensinhalt, 1896) [The struggle for a spiritual content of life].

Chân lí của tôn giáo (Der Wahrheitsgehalt der Religion, 1901) [The truth of religion].

Những đặc điểm cơ bản của nhận thức thế giới mới (Grundlinien einer neuen Lebensanschauung, 1907) [Life"s basis and life"s ideal: the fundamentals of a new philosophy of life ].

Các xu hướng chính của tư tưởng hiện đại (Geistige Strömungen der Gegenwart, 1908) [Main currents of modern thought].

Ý nghĩa và giá trị của cuộc sống (Der Sinn und Wert des Lebens, 1908).

Khái luận đời sống tinh thần (Einführung in eine Philosophie des Geisteslebens, 1908).

Đạo đức học hiện đại trong mối quan hệ với đời sống tinh thần (Present day ethics in their relation to the spiritual life), tập bài giảng đọc tại Đại học Tổng hợp New York năm 1913.

Liệu có thể vẫn là người Kitô giáo không? (Können wir noch Christen sein?, 1914).

Con người và thế giới (Mensch und Welt. Eine Philosophie des Lebens, 1918).

Tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển

Harald Hjärne, Viện trưởng Viện Hàn lâm Thụy Điển

Alfred Nobel là con người năng động. Trong suốt sự nghiệp kinh doanh thành đạt trên thương trường cạnh tranh gay gắt của biết bao quốc gia cũng như các trung tâm thương mại quốc tế, ông đã thấu hiểu những mâu thuẫn bên trong và những hiểm hoạ ẩn sau những bước phát triển của xã hội hiện đại. Loài người dường như đang cần được trợ giúp, vì vậy ông cho rằng phương án đầu tư tốt nhất cho gia sản của ông là dùng tiền lãi để hỗ trợ những người mà trong tương lai - theo như ông nói - "sẽ đem lại ích lợi cho loài người".

Chính sự mập mờ tối nghĩa của công việc, của những công cụ làm việc cũng như các phương tiện chiến đấu đã thôi thúc ông lập nên một kì tích vì sự tiến bộ của loài người. Ông biết những phát minh kĩ thuật của mình mang lợi ích to lớn cho mục đích quân sự. Vì thế, ông muốn trợ giúp bất cứ nỗ lực nào nhằm mang lại hoà bình cho thế giới. Làm sao một con người từng trải như ông lại có thể làm ngơ trước thực tế rằng nền văn minh của chúng ta chứa đầy những xung đột, và khả năng phát minh của ông bị lạm dụng hay được sử dụng cho những mục đích tốt đẹp là ngang nhau, nó có thể bị biến thành điều tệ hại chẳng khác gì việc được ứng dụng hữu ích?

Tuy nhiên, mối quan tâm hàng đầu của ông lại là giới trí thức, cho dù vẫn còn tồn tại biết bao mâu thuẫn cố hữu. Ông quan niệm, chủ nghĩa thế giới, thứ chủ nghĩa tương đồng với ngôn ngữ và nền văn minh Pháp và Anh, là phức hợp giữa nghệ thuật và khoa học, giữa khoa học tự nhiên chuẩn xác và vẻ đẹp nhân văn. Ông cố gắng thúc đẩy mối phức hợp trước bằng cách trợ giúp cho những phát hiện và phát minh phục vụ cuộc sống con người. Dành cho văn học một cái nhìn bác ái không kém, ông đã lập lên một giải thưởng mà ông cho là "tinh tú của những tác phẩm có khuynh hướng tiến đến sự hoàn mĩ".

Alfred Nobel chịu ảnh hưởng sâu sắc của tầm nhìn trong thơ ca và triết học Victor Rydberg. Ông hiểu tư tưởng có ý nghĩa thế nào đối với tư duy con người, đối với nguyện vọng tạo dựng và gìn giữ nền văn minh, vun xới và gặt hái những thành quả của nó và qua những cuộc tranh đấu cam go cũng như những ngày tháng đen tối, sẽ hé mở ra một con đường dẫn tới một vầng sáng tươi đẹp, một nền hoà bình mới. Khi những tư tưởng đó thể hiện được khả năng vô hạn của chúng và củng cố mong muốn của con người được phụng sự lẫn nhau - cho dù hiện diện trong cảm hứng của nhà thơ, trong nỗ lực của triết gia để lí giải những bí ẩn của cuộc sống, trong những cuốn dã sử của các nhà sử học hay trong tác phẩm của một học giả hoặc nhà văn nếu chúng nhìn nhận những tư tưởng này như hình mẫu cho cuộc sống tự do cũng như độc lập của tác giả - ta sẽ thấy văn học chính là điều mà Alfred Nobel đã nghĩ đến. Văn học có thể tiếp thu mọi thành quả của nghệ thuật và của khoa học. Từ việc tiếp thu đó, loài người sẽ “thu gặt được nhiều lợi ích nhất” vì nó phản ánh chân lí mà không tác động gì đến tính hữu ích của chúng. Tác phẩm và thể loại văn học cũng đa dạng như những tư tưởng, vì thế chúng luôn mới mẻ và không bị bó buộc.

Vì những lí do trên, Viện Hàn lâm Thuỵ Điển nhất trí thực hiện theo nguyện vọng của Alfred Nobel trao giải Nobel Văn học năm nay cho giáo sư Rudolf Eucken - một trong những nhà tư tưởng xuất chúng nhất trong thời đại chúng ta, “để thừa nhận cuộc tìm kiếm chân lí không mệt mỏi, khả năng tư duy sâu sắc, tầm nhìn sâu rộng và cách thể hiện nồng nhiệt, táo bạo mà ông đã sử dụng trong nhiều tác phẩm để xác minh và phát triển một triết lí sống theo trường phái duy tâm”.

Trong hơn 30 năm qua, giáo sư Eucken đã xuất bản nhiều tác phẩm triết học có ý nghĩa sâu sắc. Đồng thời ông cũng có nhiều tác phẩm văn học lớn với cách lập luận chặt chẽ và bao quát. Đặc biệt những năm gần đây, ông xuất bản nhiều tác phẩm thể hiện rõ nét tư tưởng của mình. Độc giả ngày càng hiểu được những nỗ lực vĩ đại và phi thường của ông, đó là mong muốn giải quyết được những mâu thuẫn gay gắt trong nền văn minh đương đại. Ông là một trong những người đem lại hình hài hoàn thiện cho những tư tưởng chín muồi, tất cả đều hiểu được phần nào những tư tưởng mới này và hi vọng ông có thể phát triển chúng một cách toàn diện hơn trong tương lai sắp tới.

Tôi không thể thuật lại chi tiết sự nghiệp vĩ đại và trường kì của triết gia Eucken do thời gian có hạn và với những người không chuyên sâu trong lĩnh vực mà ông đặc biệt quan tâm thì chủ đề này thật khó hiểu. Tôi chỉ có thể đưa ra một số điểm khái quát và chủ yếu tập trung vào lịch sử hình thành của tác phẩm Weltanschanung, cũng như quan điểm của ông về ý nghĩa của những tiến trình lịch sử. Giáo sư Eucken thừa nhận lịch sử có ảnh hưởng quyết định đến triết học của ông và chính những nghiên cứu về ngôn ngữ và lịch sử đã dẫn ông đến với triết học. Ngay từ khi còn nhỏ, cuộc sống của con người và xã hội đã lôi cuốn ông hơn hẳn những khái niệm trừu tượng của quá trình phân tích tư duy đơn thuần. Thật đáng tiếc chúng ta sẽ phải bỏ qua nhiều khía cạnh nhỏ trong tư tưởng của ông để có một bức tranh rõ nét về những thành quả chính của những tư tưởng đó.

Chủ nghĩa duy tâm ngày càng phát triển và khẳng định vị trí của mình trong giới trí thức không chỉ ở Đức mà còn ở nhiều nơi trên thế giới. Nó còn lan rộng tới các tầng lớp thượng lưu và những tầng lớp tự do trong đời sống văn minh, tuy nhiên dưới hình hài mới không giống với những cấu trúc ban đầu, cấu trúc đã bị sụp đổ hàng nửa thế kỉ trước đây cùng với hệ tư tưởng đồ sộ của Hegel. Đây là một nỗ lực đem lại sự giàu có vô tận cho cuộc sống và thế giới từ những khái niệm trừu tượng bằng phương pháp biện chứng táo bạo và buộc tất cả những nghiên cứu về con người, về các nền văn minh, phải tuân theo một hệ tư tưởng hoàn chỉnh. Nhưng các phân tích chuyên sâu hơn cho thấy, nỗ lực này vượt quá khả năng tìm kiếm chân lí trong lĩnh vực triết học, thực tế nó còn thúc đẩy quá trình chuyển dịch sang chủ nghĩa duy vật võ đoán.

Người Thuỵ Điển biết rằng, thậm chí vào thời kì huy hoàng nhất của phép biện chứng độc tôn, nhà triết học Bostrửm vẫn công khai phản đối những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa biện chứng trên. Dựa trên những quan điểm tiền định ở trong nước cũng như ở nước ngoài, ông đã phát triển một cách nhìn hoàn toàn mới mà đến nay vẫn được nhiều người trong nước ủng hộ. Có một nét tương đồng giữa quan điểm của ông và quan điểm trong các tác phẩm của giáo sư Eucken. Điều này không có gì ngạc nhiên vì cả hai nhà triết học đều đại diện cho một trường phái nền tảng mà ngay từ những ngày đầu của nền văn minh, ngoại trừ một vài quãng thời gian u tối, nó luôn giữ gìn được sức sống trường sinh của mình mặc bao quan điểm trừu tượng của thuyết phiếm thần cũng như nỗi sợ hãi vật chất của tư tưởng đe doạ. Tuy nhiên, nét tương đồng trong quan điểm của họ không những không làm mất đi mà thậm chí còn khuyến khích sự phát triển độc lập và riêng biệt, và chưa có trường phái triết học nào lại sản sinh ra nhiều tư tưởng đặc sắc như chủ nghĩa duy tâm hiện thực. Socrates và Plato là những người theo trường phái duy tâm. Họ quan niệm triết học là môn khoa học tìm kiếm chân lí chứ không chỉ là những giáo điều cứng nhắc và cuộc tìm kiếm không mệt mỏi này, bằng cách này hay cách khác, đã phác hoạ được những đặc điểm cơ bản của triết học qua nhiều thời đại. Vì thế, Eucken và Bostrom đều đạt được mục đích của mình bằng các cách thức khác nhau.

Khi còn trẻ, Eucken đã để tâm quan sát tỉ mỉ những phát triển đều đặn và sinh động của triết học nhằm tái đánh giá những hiện tượng bên trong và bên ngoài để vươn tới một căn cứ vững chắc sau sự sụp đổ của hệ thống triết học sơ đẳng. Triết học phát triển theo những chiều hướng khác nhau với những phán đoán và thành công khác nhau. Khi người ta đưa ra khẩu hiệu “Quay lại quan điểm của Kant” thì nhà triết học vĩ đại theo chủ nghĩa siêu hình này trở thành hình mẫu cho việc nghiên cứu những hạn chế trong nhận thức của loài người, còn có khi người ta phải miễn cưỡng lắng nghe tuyên bố của ông về một trường phái lí luận bất tử dựa trên những nguyên tắc đạo đức bất di bất dịch. Tiếp đó lại phát sinh những cố gắng thiết lập một vị trí vững chắc cho triết học bằng cách gắn chặt nó vào những tiến bộ vượt bậc của khoa học hiện đại hoặc, thành công hơn là việc đặt câu hỏi một cách độc lập những giả định và các phương pháp luận mà nó sử dụng. Cũng có lúc, người ta lại thấy những cố gắng để khám phá bí ẩn tâm linh con người qua những biểu hiện của nó, bằng cách quan sát hoặc thực nghiệm, đã có lúc người ta hi vọng rằng nghiên cứu này sẽ khám phá ra mối quan hệ đích thực giữa sự tồn tại của thể xác và linh hồn.

Eucken đã quá quen thuộc với những trường phái này, nhưng lĩnh vực chủ đạo của ông là nghiên cứu về mặt lịch sử và những biến đổi quan trọng của sự xuất hiện và phát triển các xu hướng chính của tư duy liên quan đến sự tiến hoá và biến đổi của nền văn hoá nói chung. Giống như nhiều người tiên phong trong lĩnh vực này, ông khẳng định nếu không coi trọng đúng mức truyền thống thì loài người sẽ không thể tiến bộ được và những trang biên niên sử sẽ nhiều hơn chiếc kính vạn hoa của những hệ tư tưởng bất ngờ nổi lên và cũng bất ngờ mất đi. Eucken nhấn mạnh triết học sẽ không thể tiếp tục tồn tại nếu nó không phát triển như những khoa học khác và không ngừng giải quyết những mâu thuẫn tương tự. Ông nói như vậy cốt để mọi người không cho rằng ông bắt đầu từ đầu chỉ để một ai đó lại đặt ông vào đúng vị trí ban đầu.

Ngoài những tuyển tập chuyên khảo và tiểu luận về lĩnh vực này, từ năm 1878, Eucken đã cho ra mắt những cuốn sách vĩ đại đầu tiên về phương pháp luận của mình. Trong cuốn Grundbegriffe der Gegenwart (Những khái niệm cơ bản về tư duy hiện đại), ông bàn về nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của các khái niệm hiện đại phổ biến kể từ thời kì triết học kinh viện và triết học cổ đại. Trong đó, ông đưa ra một loạt những thuật ngữ như “chủ thể và khách thể”, “trải nghiệm và tiến hoá”, “nhất nguyên luận và nhị nguyên luận”, “vô cơ và hữu cơ”, “qui luật và cá thể”, “nhân cách và tính cách”, “lí thuyết và thực tiễn”, “nội tại và siêu nghiệm”, nhưng ông không chỉ quan tâm đến việc định nghĩa các thuật ngữ mà ông còn muốn miêu tả những mục tiêu và quan điểm tiêu biểu của một giai đoạn nào đó bằng cách giải thích, theo cách nói của ông, “khái niệm là cái gương phản ánh thời đại”. Nhờ phương pháp phân tích mổ xẻ, sự vật hiện tượng được phác hoạ ngày càng rõ nét hơn. Trong cuốn sách thứ tư xuất bản năm 1908, phạm vi bàn luận của tác phẩm đã được mở rộng, nó trở thành bài phê bình hoàn chỉnh về những mâu thuẫn trong nền văn minh hiện đại. Vì thế tiêu đề của cuốn sách được đổi thành Geistige Stromungen der Gegenwart (1908) (Những dòng chính của tư tưởng hiện đại). Thật ra trong tác phẩm này, tác giả đã phát triển những tư tưởng của riêng mình, đây là công trình quí giá phong phú và chuyên sâu, đáng để nghiên cứu.

Một nhà tư tưởng xem xét những vấn đề cố hữu của nền văn minh loài người từ góc độ này sẽ sớm nhận ra mình không thể giải quiết những vấn đề đó nếu không quan tâm đến mối tương quan mật thiết của chúng hoặc bó hẹp mình trong những câu hỏi nhận thức luận. Rõ ràng những mâu thuẫn này không ngừng tác động lẫn nhau; chúng bao quát toàn bộ sự tồn tại của con người, ảnh hưởng đến từng cá nhân nhạy cảm, và từ đó dùng sức mạnh của mình cải cách toàn bộ các cộng đồng và các thời đại. Những cố gắng tìm kiếm chúng ngay khi còn phôi thai đồng nghĩa với việc khảo sát một cách tổng quát lịch sử tri thức loài người. Đồng thời, một công trình như vậy thu hút được sự quan tâm rộng rãi của giới triết gia hơn là những tác phẩm phân tích đơn thuần những giáo điều, những tư tưởng và trường phái mâu thuẫn nhau. Eucken đã đảm nhận phận sự đó trong tác phẩm Die Lebensanschauungen der grosser Denker: Eine Entwicklungsgeschichte des Lebensproblems der Menschheit von Plato his zur Gegenwart (1890) (Mâu thuẫn trong cuộc sống loài người theo quan điểm của các nhà triết học vĩ đại từ thời Plato đến nay, 1890). Tác phẩm này đã được sửa lại và phát triển thành 7 ấn phẩm lớn và là bằng chứng về qui mô và chiều sâu nghiên cứu của ông, đồng thời thể hiện rõ sự tinh thông trong tư duy và trưởng thành trong phong cách của ông.

Eucken đã phát triển quan điểm triết học của mình trong một số cuốn sách như: Der Kampfum einen geistigen Lebensinhalt: Neue Grundlegung einer Weltanschauung (1896) (Cuộc đấu tranh cho đời sống tâm linh: Những nguyên lí mới của một Triết lí) và Grundlinien einer neuen Lebensanschauung (1907) (Nền tảng và lí tưởng của cuộc sống: Những nền tảng cho một Triết lí sống mới) hay như tác phẩm nổi tiếng Der Sinn und Wert des Lebens (1908) (ý nghĩa và giá trị của cuộc sống) và Einfuhrung in eine Philosophie des Geisteslebens (1908) (Giới thiệu về triết học tư duy). Tác phẩm cuối cùng là bằng chứng hùng hồn về những quan điểm ưu việt và tiến bộ của ông.

Trong những năm gần đây, Eucken còn chuyển sang nghiên cứu tôn giáo, thể hiện trong các tác phẩm Der Wahrheitsgehalt der Religion (1901) (Sự thật của tôn giáo) và Hauptprobleme der Religionsphilosophie der Gegenwart (1907) (Những vấn đề cơ bản của triết học tôn giáo đương đại). Tác phẩm sau dựa vào 3 bài thuyết trình của ông trong khoá dạy thần học được tổ chức vào mùa hè tại trường Đại học Jena. Cũng trong năm này, ông đã phát triển những tư tưởng triết học lịch sử đã được đưa vào thành chuyên luận trong cuốn Bách khoa toàn thư khổng lồ Die Kultur der Gegenwart (Văn minh đương đại). Từ những tác phẩm gần đây của ông, ta có thể đoán rằng ông đang chuẩn bị tái khảo sát các nguyên lí đạo đức.

Với tầm hiểu biết sâu sắc lịch sử và những nỗ lực phi thường nhằm gắn kết những quan điểm về sức mạnh cuộc sống với những bằng chứng lịch sử, Eucken đã vượt xa những quan điểm nông cạn chỉ phóng đại hoặc giải thích sai lệch ý nghĩa nội tại của lịch sử. Các quan điểm đã trở nên quá phổ biến trong thế kỉ lịch sử này, bóp nghẹt lòng khao khát hiểu biết chân lí khách quan.

Hơn thế, Eucken còn nhận ra mối đe doạ cho nền văn minh trong biếm hoạ của chủ nghĩa lịch sử. Nó góp phần vào việc nhằm lôi tất cả những mục đích kiên định và những mục tiêu cao siêu hơn vào dòng xoáy của học thuyết tương đối sai lệch, và phần nào ủng hộ những nỗ lực không ngừng hạn chế và làm tê liệt ý chí của con người bằng cách đưa toàn bộ các bước tiến và thành tựu của loài người vào mối quan hệ nhân quả theo thuyết định mệnh và chủ nghĩa tự nhiên giả định. Không giống Nietzsche, ông không tin rằng một cá nhân kiêu ngạo có thể duy trì bất chấp những nghĩa vụ đối với sự uy nghiêm bất tận của những luân thường đạo lí. Không có cá nhân hay siêu nhân nào tồn tại riêng biệt được, cái tồn tại riêng biệt được chính là tính cách mạnh mẽ được hình thành trong nhận thức về sự hoà hợp tự do cùng với sức mạnh tri thức của vũ trụ, và vì thế nó hoàn toàn độc lập. Điều đó, theo quan điểm của Eucken, được triệu đến để giải phóng chúng ta khỏi sự bó buộc hời hợt của tự nhiên cũng như khỏi áp lực không bao giờ mở lối thoát của chuỗi xích nhân quả của lịch sử.

Trong lịch sử cũng như trong sự tồn tại của chính mình, con người còn có một cuộc sống ở cấp bậc cao hơn, một cuộc sống không bắt nguồn từ tự nhiên mà bắt nguồn từ chính nó và cũng sống suốt vòng đời của nó, một cuộc sống tinh thần mà trên thực tế đã vượt qua cả giới hạn thời gian nhưng lại chỉ hiện hữu trước mắt chúng ta dưới những hình thái tạm thời. Tất cả những phát triển đích thực đều là hàm ý của nền tảng cho sự tồn tại. Khi con người tham gia vào cuộc sống trí thức, con người đạt được một sức mạnh bất diệt và vượt qua vòng tuần hoàn thời gian. Cuộc sống bất tử này chính là vương quốc chân lí, bởi vì chân lí mà tồn tại chỉ trong một khoảng thời gian hữu hạn là điều không thể tưởng tượng nổi. Đồng thời cuộc sống bất tử còn là một sức mạnh trường tồn, ta thấy chúng vượt lên trên thế giới nhưng lại ảnh hưởng tới thế giới vì chúng ta và thông qua chúng ta. Nó không phải là một lâu đài vô hình trong không trung mà con người có thể đến đó bằng đôi cánh của sự tưởng tượng thần bí nhưng lôgic, mà là một sức mạnh trường tồn, nó thách thức toàn bộ chúng ta bằng một lựa chọn ý chí, một lựa chọn làm cho tiến bộ của con người và loài người trở thành một cuộc đấu liên miên giữa đời sống bậc thấp và đời sống bậc cao.

Lịch sử là tấm gương phản ánh những chiến công và thất bại của loài người trong cuộc đấu tranh này. Sự thăng trầm của nó phụ thuộc vào năng lực tự quyết của con người. Vì thế, không có một triết học lịch sử nào có thể dự báo tương lai của cuộc đấu tranh này. Thậm chí cái nền văn minh mà chúng ta được thừa hưởng cũng không thể tự mình tồn tại mà đòi hỏi con người phải đấu tranh không mệt mỏi cho cuộc sống đích thực của tâm linh. Không ai khác có thể đánh giá và hỗ trợ chúng ta đạt được các giá trị đạo đức, nghệ thuật, các tác phẩm chính trị và xã hội.

Eucken quan niệm: “Thuyết vị lợi, dù biểu hiện dưới hình thức nào, cũng đối lập hoàn toàn với văn hoá tri thức. Hoạt động tư duy chỉ suy đồi khi nó không phục vụ cho lợi ích của chính nó”. Mặc dù là một người yêu nghệ thuật nhưng Eucken lại phê phán tiêu chí thẩm mĩ mà thời đại của chúng ta vẫn ca tụng. Đó là thứ thẩm mĩ mà ông cho là “chỉ đầu độc những người theo chủ nghĩa khoái lạc đam mê lạc thú”. “Không có nghệ thuật nào có thể tự đánh giá được mình và nghệ thuật đó có thể dẫn đến lên án đạo đức. Một nghệ sĩ sáng tạo ở trình độ cao không bao giờ là một người đi theo quan điểm cho rằng cuộc sống tươi đẹp” Runeberg là một nhà thơ sống thật với lòng mình, bởi vì ông quan niệm "sự thờ ơ của thẩm mĩ đối với các giá trị đạo đức và sự kiêu ngạo của nó với vị trí độc tôn của mình là điều hoàn toàn xa lạ đối với ông”. Chỉ có những quốc gia, dù nhỏ hay lớn, tạo dựng và duy trì được một nền văn minh đề cao đời sống tri thức thực thụ mới có thể đóng góp cho loài người. Chỉ những quốc gia không bao giờ gắng sức sử dụng sức mạnh và vũ khí văn hoá một cách vô vọng để “chuyển lượng thành chất”, những quốc gia khám phá cuộc sống bất tử trong giới hạn của cuộc sống trần tục, mới có thể cống hiến cho loài người.

Eucken không phủ nhận chủ nghĩa lí thuyết suông, thứ chủ nghĩa phần nào cố gắng diễn tả được khái niệm của những sự vật gần gũi với chúng ta trong cuộc sống. Nhưng ông không xây dựng một hệ thống tư tưởng vĩnh viễn, ông cũng chẳng muốn làm như vậy. Triết học của ông là triết lí hành động chủ yếu phát triển cùng với những tiến bộ của loài người và vì vậy nó luôn biến động chứ không đứng yên. Chúng ta có thể coi ông là một Kulturphilosoph, một người hoàn toàn đạt được các tiêu chuẩn và yêu cầu của thời đại chúng ta.

Giáo sư Eucken, chất lí tưởng uyên thâm và rộng lớn trong Weltanschauung, cách nhìn thế giới của Ngài được diễn đạt sinh động và sâu sắc trong các tác phẩm, giúp ta lí giải được vì sao Viện Hàn lâm Thuỵ Điển lại trao giải Nobel văn học năm nay cho Ngài.

Viện Hàn lâm xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ chân thành đối với Ngài, và hi vọng những tác phẩm tiếp theo của Ngài sẽ mang lại quả ngọt cho văn hoá và loài người.

Tại tiệc chiêu đãi, ông Harald Hjọrne đã có một bài diễn văn bằng tiếng Đức chúc mừng thành công của giáo sư Eucken. Ông nhắc tới Thuringia, đặc biệt là trường Đại học Jena, Trung tâm Khoa học nhân văn của Đức và mối quan hệ giữa trường Đại học này với lịch sử phục hưng Thuỵ Điển. Đáp lại, giáo sư Eucken phát biểu hùng hồn về chủ nghĩa duy tâm mà ông đã không mệt mỏi chiến đấu vì nó, đồng thời ông cũng bày tỏ lòng biết ơn tới Viện Hàn lâm Thuỵ Điển.

  • Tân Đôn dịch

Bản quyền tiếng Việt bài tuyên dương này thuộc Trung tâm Culture Globe

Việt Báo
contentlength: 39263
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Bài được quan tâm

Bài viết khác

Xem tiếp >>

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..