Những quả trứng định mệnh (Phần 1)

16:35 07/03/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Khởi đầu của cả một chuỗi dài tai họa khủng khiếp, có thể nói, đã có mầm mống vào ngay cái buổi tối định mệnh hôm đó...

Lời người dịch: Năm này Mikhail Bulgacov tròn 115 tuổi. Nhân dịp này chúng tôi xin gửi đến bạn đọc TS một tác phẩm nhỏ nhưng chắc vẫn còn thú vị với chúng ta hôm nay, "Những quả trứng định mệnh".

"Những quả trứng định mệnh" của M. Bulgacov là một truyện giả tưởng nhưng mang nhiều tính ngụ ngôn xã hội, được viết từ năm 1924 nhưng đến nay vẫn giữ được giá trị đối với bạn đọc cùng lời cảnh báo của nó trước những nguy cơ mà sự vô học nông nổi trong khoa học - và cuộc sống nói chung - mang lại.

Chuyện kể rằng, tại Liên bang các nước Cộng hòa bất ngờ xảy ra trận dịch gà quái dị và khủng khiếp, và đây là những cảnh được mô tả trong sách: “…trong toàn bộ Liên bang đã sạch sành sanh bóng gà qué. Đây đó trong các góc sân ở các thị trấn vương vãi những đống lông gà côi cút, nhìn tội nghiệp đến rơi nước mắt...”, “…các tấm thông cáo lớn được rọi sáng bởi những luồng ánh sáng đỏ gắt: "Tuyệt đối nghiêm cấm dân chúng dùng thịt và trứng gà làm thức ăn. Tư thương buôn bán chúng ngoài chợ sẽ bị tịch thu toàn bộ tài sản và truy cứu trách nhiệm hình sự. Tất cả những công dân hiện đang có trứng phải cấp tốc nộp hết cho các đồn công an quận", “Một ủy ban đặc biệt chống nạn dịch gà đã được thành lập bao gồm…”

Chuyện lại kể rằng, nhân vật chính của “Những quả trứng định mệnh” là nhà động vật học thiên tài Persicov phát minh ra một tia sáng đỏ kì diệu có tác dụng kích thích sự phát triển và sinh sản của các loại sinh vật bậc thấp. Nhưng chưa được nghiên cứu và kiểm nghiệm, cái phát minh vĩ đại đó trong tay những kẻ thừa nhiệt tình hành động nhưng vô học đã biến thành tai họa khủng khiếp: đáng lí làm nở ra những con gà cho nước cộng hoà vừa bị nạn dịch hủy diệt thì lại sinh ra vô vàn những đàn rắn và cá sấu khổng lồ suýt nữa tàn phá tất cả các làng mạc và thành phố...

Cái thú vị của câu chuyện mà hôm nay chúng tôi muốn góp vui với quí vị nên đề nghị đưa "Những quả trứng định mệnh" lên trang mạng TS, là chuyện dịch (cúm) gà được M. Bulgacov đưa vào tác phẩm văn chương gần trăm năm trước (chính xác hơn, đến hôm nay là 82 năm) lại làm thế giới ngày nay điên đảo. Những phần tiếp theo mời bạn đọc tự khám phá.

Những quả trứng định mệnh

*

* *

truyện của Mikhail Bulgacov

Chương Một

Nhung qua trung dinh menh Phan 1
M.A. Bulgacov (1891-1940)

CURRICULUM VITAE của Giáo sư Perxicov

Chiều tối ngày 16 tháng tư năm 1928, giáo sư khoa Động vật học thuộc trường Đại học Tổng hợp Quốc gia số Bốn kiêm Viện trưởng Viện Động vật học Moxcva, Perxicov bước vào phòng làm việc của mình ở Viện Động vật học tọa lạc trên phố Gersen. Giáo sư bật ngọn đèn tròn đục ở trên trần và đưa mắt nhìn quanh.

Khởi đầu của cả một chuỗi dài tai họa khủng khiếp, có thể nói, đã có mầm mống vào ngay cái buổi tối định mệnh hôm đó, cũng như nguyên nhân khởi thủy của những thảm kịch này chính là giáo sư Vladimir Ipatievitr Perxicov.

Năm nay giáo sư năm mươi tám tuổi. Một cái đầu tuyệt vời ngang bướng, trán hói bóng, những túm tóc hoe vàng lưa thưa hai bên tai. Râu ria cạo nhẵn, vành môi dưới dẩu ra khiến cho nét mặt của ông bao giờ cũng như có một vẻ giận dỗi, trái tính trái nết. Cặp kính gọng bạc cổ lỗ sĩ bé xíu kẹp phía trên hai cánh mũi đỏ ửng, đôi mắt nhỏ tinh nhanh, dáng người dong dỏng, lưng hơi gù, giọng nam cao the thé, rin rít; và một trong nhiều thói quen kì quặc của Perxicov là khi nói về điều gì đó chắc chắn và tự tin thì ngón trỏ bàn tay phải của ông liền biến thành một chiếc móc câu nhỏ, và hai mắt ông nheo tít lại. Vì bao giờ giáo sư Perxicov cũng nói hết sức chắc chắn và tự tin, bởi sự hiểu biết của ông trong các lĩnh vực ông quan tâm quả là phi thường, nên chiếc móc câu nhỏ rất hay xuất hiện trước mặt những người nói chuyện với ông. Mà ngoài lĩnh vực của ông, nghĩa là ngoài các bộ môn Động vật học, Phôi thai học, Giải phẫu học, Thực vật học và Địa lí học, giáo sư Perxicov hầu như không nói gì bao giờ.

Báo chí giáo sư không đọc; phim ảnh, nhà hát giáo sư không xem; còn về chuyện gia đình thì năm 1913 vợ ông đã bỏ ông để chạy theo một giọng tenor của nhà hát opera Dimin, gửi lại cho ông một mẩu giấy với nội dung như sau: "Lũ ếch nhái của ông khiến tôi kinh tởm không chịu nổi. Tôi sẽ suốt đời bất hạnh vì chúng."

Giáo sư không có con và từ đó không lấy vợ nữa. Tính khí thất thường, dễ giận nhưng cũng dễ vui, thích uống chè với mứt dâu đất, sống trên phố Pretrixtenca trong căn hộ năm phòng. Một trong năm phòng đó dành cho người giúp việc già gầy đét đẹt là bà Maria Xtepanovna. Bà chăm sóc giáo sư như một vú nuôi chăm trẻ.

Năm 1919, người ta trưng thu ba trong số năm phòng của giáo sư. Lần đó ông đã tuyên bố với bà Maria Xtepanovna:

Nếu họ không chấm dứt ngay những trò quái gở này, Maria Xtepanovna ạ, thì tôi sẽ ra nước ngoài!

Không có gì phải nghi ngờ, rằng nếu giáo sư thực hiện ý định đó thì ông đã rất dễ dàng kiếm được chỗ đứng ở các khoa Động vật học tại bất kì trường đại học nào trên thế giới, bởi vì ông là một nhà bác học siêu thặng, còn trong các lĩnh vực ít nhiều liên quan đến lớp lưỡng cư hoặc các loài bò sát khỏa bì, thì ông là người không ai sánh kịp, họa may chỉ có các giáo sư William Veckl ở Cambridge và Giaeomo Bartolomeo Beccari ở Roma. Giáo sư đọc sách bằng bốn thứ tiếng, không kể tiếng Nga, còn tiếng Pháp và tiếng Đức ông nói như tiếng Nga. Nhưng cuối cùng thì Perxicov đã không thực hiện ý định bỏ ra nước ngoài của mình, và năm 1920 lại còn tồi tệ hơn năm 1919. Nhiều sự kiện đã liên tục xảy ra. Đại lộ Nikitskaia đổi thành phố Gersen. Rồi chiếc đồng hồ gắn vào tường trên ngôi nhà ở ngã tư phố Gersen cắt phố Mokhovaia dừng lại ở mười một giờ mười lăm phút. Và cuối cùng, trong các khu nuôi thí nghiệm của Viện Động vật học, không chịu đựng nổi những biến cố dâu bể của năm 1919 lịch sử, đầu tiên là tám tiêu bản nhái tuyệt đẹp chầu trời, tiếp đó là mười lăm chàng cóc xám, và sau hết là một tiêu bản cực hiếm loài cóc Xurinam đều theo nhau từ bỏ thế giới này.

Tiếp liền theo những con cóc nhái đã kết thúc sự tồn tại cả bộ sưu tập thứ nhất lớp bò sát khỏa bì được gọi hoàn toàn đích đáng là lớp bò sát không đuôi, ông già Vlax, vốn không thuộc lớp bò sát khỏa bì, người gác cổng chung thân của Viện Động vật học, cũng sang thế giới bên kia nốt. Nguyên nhân cái chết của ông thực ra cũng là nguyên nhân cái chết của bầy bò sát tội nghiệp, và Perxicov xác định ngay:

Thiếu ăn!

Nhà bác học đã phán tuyệt đối đúng: Vlax cần phải được nuôi bằng bột mì, còn cóc thì nuôi bằng mọt bột, mà vì bột mì không còn nên mọt bột cũng biến mất. Perxicov đã định nuôi hai mươi mẫu nhái còn lại bằng gián, nhưng không hiểu sao loài gián cũng trốn đi đâu tiệt, dường như chúng muốn chứng tỏ thái độ thù địch đối với chủ nghĩa cộng sản thời chiến. Vì vậy, những mẫu vật cuối cùng buộc phải đem vứt ra hố rác ở góc sân của Viện. Tác động của những cái chết, đặc biệt là cái chết của mẫu cóc Xurinam, đối với Perxicov là không bút mực nào tả nổi, và không hiểu sao ông lại đổ toàn bộ tội lỗi của tất cả những cái chết đó lên đầu người ủy viên Dân ủy Giáo dục thời đó.

Đầu đội mũ lông, chân đi ủng cao su, đứng trong hành lang lạnh băng của Viện Động vật học, Perxicov nói với viên trợ lí Ivanov của mình, một trang hào hoa hết mực với bộ râu nhọn màu hung vàng:

Vì chuyện này xử tử hãy còn là nhẹ, Piot"r Xtepanovitr ạ! Họ đang làm chuyện gì vậy? Họ sẽ phá nát cái Viện này ra! Hừ! Một con đực độc nhất vô nhị, một bản mẫu đặc biệt của cóc cõng con Mỹ có chiều dài đến mười ba centimet...

Tiếp đó càng ngày càng tệ. Sau khi Vlax mất đi, các căn phòng trong Viện Động vật học nguội tanh nguội ngắt, những tảng băng nhiều màu bám cả vào mặt trong của các tấm kính cửa sổ. Thỏ, cáo, chó sói, cá và toàn bộ lũ rắn nước theo nhau ngoẻo. Perxicov trở nên câm lặng suốt ngày, rồi ông bị viêm phổi nặng nhưng không chết. Sau khi bình phục, ông một tuần đến Viện hai lần và vẫn đi ủng cao su, đội mũ trùm tai, quàng khăn, miệng phả hơi trắng xóa, đọc loạt bài giảng Bò sát nhiệt đới cho tám người nghe trong giảng đường hình tròn, nơi không hiểu sao nhiệt độ thường xuyên không đổi là năm độ âm mặc cho ngoài trời có là bao nhiêu độ. Toàn bộ thời gian còn lại trong ngày, Perxicov nằm dài ở nhà trên chiếc đi văng trong căn phòng sách chất đến tận trần, người khoác khăn choàng len, ho khoàng khoạc, nhìn trân trân vào miệng chiếc lò sưởi nhỏ mà bà Maria Xtepanovna đốt bằng gỗ chẻ ra từ những chiếc ghế mạ vàng, và nhớ tiếc con cóc Xurinam xấu số nọ.

Nhưng rồi mọi cái trên đời đều phải đến lúc kết thúc. Hết năm 1920 rồi năm 1921, còn qua năm 1922 thì thời thế đã bắt đầu một chuyển động có chiều hướng ngược lại. Đầu tiên là thay vào chỗ ông già Vlax quá cố xuất hiện anh chàng Pancrat, anh này hãy còn trẻ nhưng đã tỏ ra là một chân gác cổng Viện Động vật học đầy triển vọng; rồi ngôi nhà của Viện dần dần được sưởi ấm ít nhiều. Đến mùa hè, với sự giúp sức của Pancrat, giáo sư Perxicov đã bắt được mười bốn con cóc thông thường ở Cliazma. Trong các khu nuôi vật mẫu thí nghiệm, cuộc sống lại bắt đầu sôi động... Vào năm 1923 Perxicov đã đọc bài giảng tám lần một tuần - ba lần ở Viện và năm lần ở trường Đại học Tổng hợp; năm 1924 - mười ba lần một tuần, chưa kể ở các khóa hàm thụ; còn mùa xuân năm 1925 ông nổi danh như cồn vì đã đánh trượt bảy mươi sáu sinh viên, mà tất cả đều ở chuyên đề bò sát khỏa bì.

Thế nào, anh không thể phân biệt được loài bò sát khỏa bì với loài bò sát lưỡng thê à? - Perxicov hỏi. - Thật buồn cười anh bạn ạ. Bò sát khoả bì không có hậu thận. Không có, hiểu không! Thật xấu hổ. Hình như anh là đảng viên mác xít?

Vâng, - anh chàng bị đánh trượt lí nhí đáp.

Vậy thì mùa thu mời anh thi lại, - Perxicov lịch sự kết luận và cao giọng gọi Pancrat: - Cho người tiếp theo vào!

Giống như loài lưỡng cư hồi sinh lại sau đợt hạn kéo dài bỗng được gặp cơn mưa tươi tốt, giáo sư Perxicov cũng hồi sinh vào năm 1926 khi Công ty liên doanh Mỹ - Nga xây những ngôi nhà mười lăm tầng ở trung tâm Moxcva, bắt đầu từ góc phố Tverxcaia gặp ngõ Nhật Báo, và ba trăm khu biệt thự nhỏ ở ngoại ô, mỗi khu tám căn hộ, vĩnh viễn kết thúc cuộc khủng hoảng nhà cửa khủng khiếp và buồn cười đã hành hạ người dân Moxcva vào những năm 19919 - 1925.

Nói chung đó là một mùa hè tuyệt vời trong cuộc đời của Perxicov, và thỉnh thoảng ông xoa xoa hai bàn tay vào nhau cất tiếng cười khẽ khàng, mãn nguyện nhớ lại những lúc ông cùng với bà Maria Xtepanovna phải khốn khổ trong hai căn buồng. Bây giờ giáo sư đã nhận lại cả năm buồng, được mở rộng thêm, sử dụng một tủ sách hai nghìn rưởi quyển, vô số thú nhồi, giản đồ, máy móc; ngọn đèn xanh trong phòng làm việc của ông lại được thắp sáng như xưa.

Và cả ngôi nhà của Viện cũng thay đổi đến không nhận ra nữa: nó được phủ một lớp sơn màu kem sữa, nước được dẫn theo đường ống đặc biệt vào phòng nuôi bò sát thí nghiệm, tất cả kính được thay mới, nhận về thêm năm cỗ kính hiển vi, nhiều bàn kính tiêu bản, bóng đèn hai ngàn oát với kính phản xạ, lò sưởi, tủ lưu trữ.

Perxicov đã hồi sinh, và cả thế giới bất ngờ được biết điều đó khi vào tháng Mười năm 1926 xuất hiện cuốn sách nhỏ: "Nói thêm về sự sinh sản của loài bò sát cóc da đốm hay Tonicella marmorea", 126 trang, nội san trường Đại học Tổng hợp số Bốn. Còn mùa thu năm 1927 ông cho ấn hành công trình cơ bản 350 trang, được dịch ra sáu thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Nhật: "Phôi thai học peloleates fuscus, cóc châu Mĩ và ếch", giá ba rúp, nhà xuất bản Quốc gia. Còn mùa hè năm 1928 thì xảy ra câu chuyện lạ lùng, khủng khiếp dưới đây...

Chương Hai

Luồng sáng màu

Vậy là giáo sư bật ngọn đèn trần và nhìn quanh. Rồi ông bật chiếc kính phản xạ trên mặt bàn thí nghiệm dài, khoác áo choàng trắng, sắp xếp lại một vài dụng cụ trên bàn...

Có không ít trong số ba chục ngàn cỗ xe cơ giới năm 1928 chạy ngang dọc khắp Moxcva hàng ngày lao ầm ầm trên mặt đường nhựa phẳng qua phố Gersen, và cứ cách một phút lại có chuyến xe điện số 16, 22, 48 hoặc 53 nghiến ken két, kêu loảng xoảng từ phố Gersen chạy xuôi xuống phố Mokhovaia, hắt những đốm sáng nhiều màu lên mặt kính cửa sổ phòng làm việc của giáo sư. Và trên cao xa tít, mặt trăng lưỡi liềm nhợt nhạt treo cạnh ngọn tháp đen thẫm, hùng vĩ của nhà thờ Đấng Cứu Thế.

Nhưng giáo sư Perxicov không hề để ý đến cả mảnh trăng mờ ảo lẫn tiếng ồn ào náo động của Moxcva vào xuân. Ông ngồi trên một chiếc ghế quay ba chân và đưa những ngón tay vàng khè vì thuốc lá vặn núm điều chỉnh của chiếc kính hiển vi tuyệt hảo hãng Zeiss đang soi những tiêu bản không nhuộm bình thường những con amip sống.

Đúng vào lúc giáo sư Perxicov vừa thay độ phóng đại từ năm lên mười ngàn lần, thì cánh cửa ra vào nhẹ nhàng mở, một chòm râu nhọn thò vào, tiếp đó là tấm tạp dề che ngực bằng da, và viên trợ lí lên tiếng gọi:

Bác Vladimir Ipatievitr, cháu đã cố định xong màng treo ruột, bác có muốn xem qua một tí không?

Perxicov lập tức tụt xuống ghế, bỏ mặc núm điều chỉnh kính hiển vi ở giữa chừng, rồi xoay xoay điếu thuốc lá trong tay, bước sang phòng làm việc của viên trợ lí. ở đó, trên mặt bàn bằng kính, một con ếch chỉ còn thoi thóp, gần như chết ngất đi vì sợ hãi và đau đớn, bị mổ bụng và căng tứ chi trên mặt giá đỡ bằng lie, còn bộ lòng ruột trong suốt như mica của nó thì bị kéo ra khỏi khoang bụng đẫm máu và đặt lên giá kính hiển vi.

Rất tốt! - Perxicov nói và dán mắt vào ống thị kính của kính hiển vi.

Có lẽ vì nhìn thấy một cái gì đó hết sức thú vị trên màng treo ruột của con ếch, nơi những hạt hồng huyết cầu sống động hối hả chạy trên các dòng sông mạch máu, Perxicov quên phắt ngay những con amip của mình và trong khoảng nửa tiếng đồng hồ cùng với Ivanov thay phiên nhau dán mắt vào ống kính hiển vi. Đồng thời hai nhà bác học sôi nổi trao đổi với nhau những lời khó hiểu đối với những loại người trần mắt thịt.

Cuối cùng, Perxicov rời mắt khỏi ống thị kính, tuyên bố:

Máu bị đông lại, chẳng làm gì được cả, bố khỉ!

Con ếch nặng nề ngọ nguậy đầu, và trong cặp mắt tắt lịm dần của nó như hiện ra rõ ràng những từ "Các người đúng là quân chó má..."

Duỗi cặp chân bị tê cứng ra, Perxicov đứng dậy, đi về phòng làm việc của mình, ngửa mặt lên ngáp, lấy mấy ngón tay xoa xoa cặp mí mắt suốt đời bị sưng mọng, rồi ngồi xuống chiếc ghế xoay, ghé mắt nhìn vào ống kính hiển vi. Ngón tay ông đã túm lấy núm điều chỉnh định xoay, nhưng rồi lại không xoay. Bằng con mắt phải Perxicov nhìn thấy một đĩa tròn trắng đục, trên đĩa là những con amip màu xanh thẫm, còn ở chính giữa đĩa tròn đó có một luồng sáng màu xoắn lại như búp tóc phụ nữ. Luồng sáng này bản thân Perxicov và hàng trăm học trò của ông cũng đã nhìn thấy rất nhiều lần nhưng không một ai quan tâm đến nó cả, mà thực ra cũng chẳng có lí do gì để quan tâm. Chùm tia sáng màu này chỉ gây cản trở cho việc quan sát và chứng tỏ rằng vật mẫu tiêu bản chưa nằm đúng tiêu điểm. Vì vậy nó sẽ bị xóa đi không thương tiếc bằng vòng xoay của núm điều chỉnh, khiến cho trên mặt kính hiện ra một chùm ánh sáng trắng đều đặn. Những ngón tay dài của nhà động vật học đã nắm chắc lấy núm điều chỉnh, nhưng đột nhiên chúng giật nảy lên và rơi trượt xuống. Nguyên nhân của việc đó là con mắt phải của Persieov. Ông chợt trở nên cảnh giác, sửng sốt, thậm chí lo lắng. Ngồi bên ống kính hiển vi này đâu phải là một kẻ bất tài vô tướng nào đó chỉ ăn tàn phá hại nhà nước cộng hòa. Không, ngồi bên ống kính là giáo sư Perxicov! Suốt đời, toàn bộ tâm trí của ông tập trung vào con mắt phải. Chừng năm phút trong sự im lặng như hóa đá, một sinh vật bậc cao chăm chú quan sát các sinh vật bậc thấp, khổ sở căng mắt trên mẫu tiêu bản nằm ngoài tiêu điểm của ống kính. Xung quanh im ắng - Pancrat đã thiếp đi trong gian buồng của mình ở ngoài tiền sảnh, và chỉ một lần từ xa vẳng lại tiếng thủy tinh trong suốt và khẽ khàng va chạm nhau trong các tủ - đó là phó giáo sư Ivanov đang thu dọn phòng làm việc của mình để ra về. Tiếng cánh cửa lớn rền rĩ sập lại sau lưng anh. Rồi tiếp đó vang lên giọng nói của giáo sư. Ông nói với ai - không biết.

Cái gì thế này? Chẳng hiểu cái gì cả...

Một chiếc ô tô vận tải muộn màng lăn bánh dọc phố Gersen làm cho các bức tường già cỗi của Viện run rẩy. Chiếc đĩa thủy tinh đựng cặp nhíp trên bàn nhảy lên kêu lanh canh. Giáo sư hốt hoảng đưa tay ra phía trên chiếc kính hiển vi, giống như một bà mẹ định che chở cho đứa con của mình đang bị hiểm nguy đe dọa. Giờ đây thì không thể nói đến chuyện giáo sư Perxicov sẽ vặn các núm điều chỉnh nữa, ồ không, giờ đây ông lại sợ có một lực lạ nào đó đẩy gạt ra ngoài tầm nhìn của mình cái mà ông vừa trông thấy.

Khi giáo sư Perxicov rời chiếc kính hiển vi và khập khiễng trên đôi chân tê cứng bước đến bên ô cửa sổ, thì ngoài trời là một buổi bình minh trắng nhạt với dải sáng vàng óng ánh cắt ngang bậc tam cấp của Viện. Đưa những ngón tay run rẩy, ông ấn nút trên tường kéo tấm màn đen dày che kín cửa sổ và trong phòng làm việc lại là đêm tối đầy thông tuệ của nhà bác học. Giáo sư Perxicov vàng vọt và hưng phấn đứng xoạc hai chân ra, cắm cặp mắt đẫm lệ xuống sàn nhà, lẩm bẩm:

Nhưng tại sao lại như vậy kia chứ? Thế này thì thật kinh khủng!... Thế này thì thật kinh khủng, thưa các ngài! - Ông lặp lại, hướng về phía những con cóc trong chuồng nuôi thí nghiệm, nhưng chúng đang ngủ say sưa và không đáp lại lời bộc bạch của nhà bác học.

Ông im lặng một lát, rồi bước đến bên cửa sổ, kéo màn che lên, tắt hết đèn trong phòng và nhìn vào ống kính hiển vi. Khuôn mặt ông trở nên căng thẳng, hai hàng lông mày rậm rì của ông nhướng lên.

Hừ-hừm, - ông hầm hừ, - biến mất rồi. Ta đã hiểu ra. Ta đã hi-ê-ểu ra, - ông kéo dài giọng, mắt nhìn đầy kích động và man dại lên ngọn đèn trần trên đầu, - điều đó thật đơn giản.

Ông lại hạ các tấm màn sột soạt xuống và bật ngọn đèn trần lên, rồi nhìn vào ống kính hiển vi, nhe răng ra sung sướng và hung bạo:

Ta sẽ tóm được nó, - ông trang trọng và đắc thắng tuyên bố, chĩa một ngón tay lên trời, - ta sẽ tóm được nó. Có thể là do cả mặt trời.

Những tấm màn lại được kéo lên. Mặt trời đã mọc. ánh nắng tưới đẫm những bức tường của Viện và trải dài trên mặt phố Gersen. Giáo sư nhìn qua cửa sổ, đoán xem đến trưa tia mặt trời sẽ dọi vào đâu. Lúc lùi, lúc tiến, ông như đang nhảy một vũ điệu nào đó, và cuối cùng nằm vắt ngang người trên bệ cửa sổ, bắt đầu một công việc bí ẩn và quan trọng. Ông lấy một cái lồng kính chụp lên cỗ kính hiển vi. Dùng ngọn lửa đèn xì màu xanh biếc đốt cháy một mẩu xi và gắn mép của lồng chuông đó xuống bàn, ấn ngón tay cái của mình lên các vết xi. Tắt đèn, ra khỏi phòng làm việc và khóa cửa lại bằng chiếc khóa Anh.

Hành lang của Viện tối mờ mờ. Giáo sư lần bước đến phòng của Pancrat và gõ cửa rất lâu. Cuối cùng, từ bên trong cánh cửa nghe vẳng ra tiếng gầm gừ như tiếng chó bị xích, tiếng khạc nhổ và lẩm bẩm, rồi Pancrat hiện ra trong khung cửa, mặc quần đùi kẻ sọc, với những dải băng buộc ở mắt cá. Đôi mắt anh ngơ ngác nhìn nhà bác học, miệng vẫn gầm gừ chưa tỉnh ngủ hẳn.

Pancrat, - giáo sư nhìn anh qua phía trên cặp kính, - xin lỗi vì đã đánh thức anh dậy. Thế này anh bạn ạ, sáng mai không vào phòng của tôi nhé. Tôi còn làm dở công việc ở đó, không được xê dịch gì cả. Hiểu chưa?

Hừ-ừ-ừ hi-ểu hiểu rồi ạ, - Pancrat đáp, vẫn chưa hiểu gì cả. Anh lảo đảo và gầm gừ.

Này, cậu tỉnh hẳn lại đi, Pancrat, - nhà sinh vật học nài nỉ và khẽ thúc vào sườn Pancrat, khiến cho trên mặt anh thoáng hiện vẻ sợ hãi và một bóng tư duy lướt qua cặp mắt. - Phòng làm việc tôi đã khóa lại rồi, - Perxicov nói tiếp, - cho nên không cần thu dọn gì ở đấy cả cho đến khi tôi tới. Hiểu chưa?

Vâng ạ, - Pancrat đáp khàn khàn.

Tốt. Vào ngủ tiếp đi.

Pancrat quay lưng, biến vào sau cánh cửa và lập tức quăng mình xuống giường, còn giáo sư thì bắt đầu sửa soạn ra về ở ngoài tiền sảnh. Ông khoác vào người tấm áo khoác mùa hè màu xám và đội lên đầu chiếc mũ mềm; rồi sực nhớ đến bức tranh vừa trông thấy trong ống kính hiển vi, ông nhìn chằm chằm lên đôi ủng cao su của mình mất mấy giây hệt như lần đầu tiên trông thấy chúng. Sau đó, ông xỏ chân trái vào ủng trái, rồi định xỏ tiếp cả ủng phải lên chân trái, nhưng không vào.

Một sự tình cờ khủng khiếp là cậu ta gọi mình đi, - nhà bác học nói, - nếu không mình đã chẳng nhận thấy nó. Nhưng điều này sẽ hứa hẹn cái gì? Nó sẽ hứa hẹn một điều chỉ có trời mới biết!...

Giáo sư cười khẩy, nheo mắt nhìn đôi ủng cao su, cởi chiếc trái ra và đi chiếc phải vào.

Lạy chúa tôi. Thậm chí không thể hình dung nổi tất cả những hậu quả nó sẽ mang lại... - Giáo sư khinh bỉ đá văng chiếc ủng trái ương bướng không chịu đi vừa vào chân phải, rồi cứ thế khập khiễng trong một bên ủng bước ra cửa. Đến đây, ông đánh rơi chiếc khăn mùi xoa và đóng sầm cánh cửa ra vào nặng nề lại. Đứng trên bậc tam cấp, ông tìm rất lâu bao diêm trong các túi, tay vỗ mãi vào hai bên sườn, cuối cùng cũng tìm thấy và cất bước dọc theo đường phố với điếu thuốc không châm lửa trên môi.

Cho tới tận nhà thờ nhà bác học không gặp một người nào. Đến đó, ông dừng lại, ngẩng đầu lên nhìn đỉnh nóc mạ vàng của nhà thờ được ánh nắng rực rỡ chiếu sáng một bên.

Làm sao mà trước đây mình không nhìn thấy nó, thật là ngẫu nhiên!... Hừ, đúng là ngớ ngẩn, - giáo sư cúi nghiêng đầu ngẫm nghĩ, mắt chằm chằm nhìn đôi chân đi lộn ủng. - Hừm... làm sao bây giờ? Quay lại nhờ Pancrat? Không, Chẳng thể nào đánh thức cậu ta dậy nổi đâu. Vứt nó đi thì tiếc, cái đồ thổ tả này. Đành phải xách nó vậy.

Ông cởi chiếc ủng cao su ra và cầm nó trên tay với một vẻ ghê tởm.

Có ba người từ ngõ Pretrixtenca rẽ ra trên một chiếc xe hơi cà tàng. Hai gã đàn ông say rượu, và ngồi trên đầu gối của họ là một ả đàn bà phấn son lòe loẹt mặc chiếc quần lụa ống rộng mốt năm 1928.

Ê bố già! - ả ta hét lên bằng giọng khàn khàn. - Bố uống rượu chiếc ủng kia rồi à?

Đúng là ông lão xả láng ở quán Alkazar rồi, - gã say ở bên trái ré lên, còn gã bên phải thò đầu ra khỏi xe và hét:

Này, bố, tiệm đêm ở Volkhonca còn mở không? Bọn này đi đến đó đây!

Giáo sư nghiêm khắc nhìn bọn họ qua phía trên cặp kính, đánh rơi điếu thuốc lá đang ngậm trong miệng, rồi ngay tức khắc quên đi sự tồn tại của đám người kia.

Một dải nắng chạy dọc theo đại lộ Pretrixtenca, còn chóp tròn trên đỉnh nhà thờ bắt đầu cháy chói chang. Mặt trời đã lên cao.

Chương Ba

Perxicov đã tóm được

Đầu đuôi sự việc là như sau. Khi vị giáo sư ghé con mắt thiên tài của mình vào ống thị kính, ông lần đầu tiên trong đời nhận thấy rằng trong luồng sáng nhiều màu có một tia đặc biệt đậm và rõ nét. Đó là một tia sáng màu đỏ chói gắt, nó như một mũi kim nhỏ tách ra khỏi luồng sáng.

Cái không may là chính cái tia sáng đó trong vài giây đồng hồ đã thu hút sự chú ý của ánh mắt dày dạn kinh nghiệm của nhà bác học lão luyện.

Trong tia sáng đó vị bác học đã nhìn thấy một điều còn lớn lao, còn quan trọng hơn ngàn vạn lần chính bản thân tia sáng mong manh được ngẫu nhiên sinh ra bởi sự chuyển dịch của mặt kính và ống thị kính hiển vi. Nhờ việc viên trợ lí gọi giáo sư đi, những con amip đã được nằm khoảng nửa tiếng đồng hồ dưới tác động của tia sáng đỏ đó, và kết quả là: trong lúc trên mặt đĩa ở phía ngoài tia sáng những con amip dạng hạt vẫn nằm uể oải đờ đẫn, thì trong vùng tia sáng đỏ nhọn như một mũi kiếm chiếu tới đã xảy ra những hiện tượng lạ. Trong vòng ánh sáng đỏ cuộc sống như sôi lên. Những con amip xám vươn những chiếc chân giả cố sức trườn vào khu vực dải sáng đỏ và ở đó, như có phép màu, chúng liền được hồi sinh. Một sức mạnh nào đó đã thổi sức sống cho chúng. Chúng kéo nhau cả đàn tranh giành chỗ sống dưới tia sáng đỏ. Tại đó diễn ra một sự sinh sản điên cuồng - không thể chọn được từ nào khác để diễn đạt. Phá vỡ và đảo tung tất cả các quy luật mà Perxicov biết rõ như năm đầu ngón tay của mình, chúng sinh sôi nảy nở trước mắt ông nhanh như điện chớp. Chúng phân thân thành từng mảnh trong dải sáng, và mỗi mảnh như vậy sau hai giây đồng hồ đã trở thành một cơ thể mới. Các cơ thể mới này trong khoảnh khắc đã phát triển, trưởng thành, và đến lượt mình lại tự phân thân để tạo ra thế hệ tiếp theo. Trong vùng tia sáng đỏ, sau đó là trên toàn bộ mặt đĩa đã dần dần trở nên chật chội, và bắt đầu một cuộc chiến tranh tất yếu. Những con trùng vừa được sinh ra lập tức nhảy bổ vào nhau, xé nhau ra từng mảnh và nuốt chửng nhau. Giữa những con vừa được sinh ra nằm ngổn ngang xác của những con vừa bỏ mạng trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Con nào khỏe hơn, mạnh hơn thì giành được phần thắng. Những con khỏe hơn này trông thật khủng khiếp. Thứ nhất, chúng lớn gấp hai lần những con amip trung bình; thứ hai là chúng linh hoạt và dữ tợn khác thường. Chúng chuyển động rất nhanh, và các chân giả của chúng dài hơn bình thường, được sử dụng, nói không ngoa chút nào, chẳng khác gì những cái vòi bạch tuộc.

Ngày thứ hai, giáo sư Perxicov, người hốc hác và nhợt nhạt, quên cả ăn uống, chỉ rít những điếu thuốc lá cuộn to tướng, mê mải nghiên cứu thế hệ amip mới; còn đến ngày thứ ba ông mới quay sang tìm hiểu nguồn gốc của chúng, tức là tia sáng đỏ.

Tiếng khí đốt reo khe khẽ trong ngọn đèn xì; ngoài phố lại vẳng đến tiếng xe cộ; và giáo sư, sau khi tự đầu độc mình bằng điếu thuốc thứ một trăm, nhắm mắt lại, ngả người ra trên chiếc ghế bành quay.

Đúng, bây giờ tất cả đã rõ. Tia sáng đỏ đã làm chúng sống lại. Đây là một tia sáng mới, chưa được ai phát hiện, chưa được ai nghiên cứu. Cái đầu tiên phải làm sáng tỏ, là chúng được sinh ra dưới ánh điện hay cả dưới ánh sáng mặt trời, - Perxicov lẩm bẩm nói một mình.

Và qua một đêm nữa việc đó đã được làm sáng tỏ. Bằng ba chiếc kính hiển vi dưới ánh điện ông bắt được ba tia sáng, còn bằng ánh nắng mặt trời thì không thu được kết quả gì, và ông kết luận như sau:

Có thể nói rằng trong quang phổ mặt trời không có nó... hừm... tóm lại có thể nói rằng chỉ có thể tạo ra nó bằng ánh sáng điện. - Ông âu yếm ngước lên nhìn bóng đèn tròn đục ở trên trần, phấn khởi suy nghĩ một lúc, rồi cho gọi Ivanov vào phòng làm việc của mình.

Ông kể hết đầu đuôi cho viên trợ lí nghe, rồi chỉ cho anh xem những con amip.

Phó giáo sư Ivanov tỏ ra vô cùng kinh ngạc: làm sao một điều đơn giản đến thế, cái tia sáng mỏng manh này, lại không có ai nhận thấy trước đó? Bất kì một người nào, ít ra là anh, Ivanov chẳng hạn, và điều này quả thật quái lạ. Các người cứ thử nhìn xem...

Bác xem này, bác Vladimir Ipatievitr, - Ivanov nói, kinh hoàng dán mắt vào ống thị kính, - chúng làm gì thế này? Chúng lớn lên ngay trước mắt!... Bác nhìn xem, nhìn xem...

Tôi đã quan sát chúng cả ba ngày nay rồi, - Perxicov hào hứng đáp.

Rồi giữa hai nhà bác học diễn ra một cuộc hội ý mà nội dung có thể tóm tắt lại như sau: Phó giáo sư Ivanov chịu trách nhiệm thiết kế một camera bằng các tấm gương và thấu kính dùng để tạo ra được tia sáng đỏ bí ẩn kia ở dạng phóng đại và nằm ngoài kính hiển vi. Ivanov hi vọng, thậm chí tuyệt đối tin chắc rằng: điều đó là cực kì đơn giản. Anh sẽ bắt được tia sáng kia. Bác Vladimir Ipatievitr có thể an tâm về chuyện đó. Đến đây thì nảy sinh một mắc míu nhỏ.

Anh Piot"r Xtepanovitr này, khi nào công bố công trình, tôi sẽ viết rằng các camera là do anh thiết kế, - Perxicov lên tiếng, cảm thấy cần phải giải quyết ngay chút mắc míu đó.

Ô, cái đó không quan trọng... Mà thật ra, tất nhiên...

Thế là chút mắc míu lập tức đã được giải quyết xong. Kể từ lúc đó tia sáng như cuốn hút mọi tâm trí của Ivanov. Trong khi Perxicov, ngày một hốc hác, gầy rộc đi, ngồi suốt ngày cho đến tận nửa đêm bên cạnh kính hiển vi, thì Ivanov loay hoay với những tấm gương và thấu kính trong "Phòng vật lí" rực rỡ ánh đèn. Giúp việc anh có một kĩ thuật viên cơ khí.

Từ nước Đức, theo lời yêu cầu của Perxicov, thông qua Hội đồng Dân ủy Giáo dục, người ta gửi đến ba hòm hàng gồm những tấm gương, những thấu kính lồi, những thấu kính lõm, thậm chí có cả những thấu kính vừa lồi vừa lõm được mài nhẵn bóng. Kết quả là Ivanov đã thiết kế xong một camera và dùng nó có thể tạo ra được tia sáng đỏ. Cần phải công bằng mà nói, nó được tạo ra thật hoàn hảo: tia sáng rất mạnh, sắc, to, đường kính phải đến bốn centimet.

Mồng một tháng Sáu, camera được đưa vào phòng làm việc của Perxicov, và ông háo hức bắt đầu những thí nghiệm với đám trứng ếch được đặt dưới tia sáng. Kết quả thật chấn động. Sau hai ngày đám trứng nở thành hàng nghìn con nòng nọc. Nhưng chưa hết, sau một ngày đêm nữa, đám nòng nọc đã lớn lên rất nhanh và biến thành những con ếch dữ tợn và háu ăn đến nỗi trong nháy mắt một nửa số ếch đó đã bị nửa kia ăn thịt hết. Những con sống sót ngay tức thì, không cần thời hạn nào hết, bắt đầu đẻ trứng và sau hai ngày nữa, lần này thì không cần đến bất kì thứ tia sáng nào, đã tạo ra một thế hệ ếch mới đông vô vàn. Trong phòng làm việc của nhà bác học bắt đầu có trời biết là cái gì: những con nòng nọc từ đó bò ra khắp Viện; trong các buồng thí nghiệm, trên sàn nhà trong tất cả các ngõ ngách, tiếng ếch kêu râm ran hệt như ở ngoài đầm lầy. Pancrat, vốn từ trước đã sợ Perxicov như sợ lửa, giờ đây chỉ cảm thấy đối với ông một điều: khiếp đảm. Sau một tuần lễ, đến chính nhà bác học cũng cảm thấy bắt đầu như mất trí. Khắp Viện nồng nặc mùi ete và xianua cali, khiến Pancrat suýt nữa thì ngộ độc vì bỏ mặt nạ ra không đúng lúc. Cuối cùng thì thế hệ động vật đầm lầy bành trướng quá mức cũng đã bị tiêu diệt hết bằng hơi độc, các phòng làm việc được thông khí cẩn thận.

Perxicov nói với Ivanov như sau:

Piot"r Xtepanovitr, anh biết không, tác động của tia sáng đối với chất nuôi và nói chung đối với tế bào trứng thật đáng kinh ngạc.

Ivanov, một chàng trai phong nhã, lạnh lùng và kín đáo, bỗng ngắt lời giáo sư bằng một giọng khác thường:

Bác Vladimir Ipatievitr, bác lại đi nói về những chi tiết nhỏ nhặt, về chất nuôi. Phải nói thẳng ra rằng: bác đã phát hiện ra một điều chưa từng thấy! - Rồi, với vẻ căng thẳng, nhưng Ivanov vẫn buộc mình thốt ra được: - Thưa giáo sư Perxicov, giáo sư đã phát hiện ra tia sáng cuộc sống!

Đôi má nhợt nhạt đã lâu không cạo của Perxicov hơi ửng hồng lên.

Chà, chà, chà, - ông lẩm bẩm.

Bác, - Ivanov nói tiếp, - bác sẽ có một danh tiếng... Cháu cảm thấy choáng ngợp. Bác hiểu không, - anh sôi nổi nói tiếp, - bác Vladimir Ipatievitr ạ, các nhân vật của Wells(1) so với bác chỉ là những gã lùn tịt... Còn cháu thì nghĩ đây chỉ là truyện cổ tích... Bác có nhớ Thức ăn của các vị thần của ông ta không?

à, đó là một cuốn tiểu thuyết, - Perxicov đáp.

Vâng, đúng thế, rất nổi tiếng.

Tôi quên mất rồi,- Perxicov đáp, - tôi nhớ là đã đọc nhưng quên mất rồi.

Làm sao bác lại không nhớ được, bác nhìn đây này. - Ivanov cầm lấy chân một con ếch chết với cái bụng trương phồng to chưa từng thấy từ trên mặt bàn kính. Trên mõm của nó cả sau khi chết vẫn mang một vẻ thật dữ tợn. - Cái này quả thật là kinh khủng!

Chương Bốn

Bà vợ cố đạo Drozdova

Có trời biết tại sao, hoặc là do Ivanov, hoặc là vì các tin tức giật gân tự chúng truyền đi trong không khí, mà ở thành phố Moxcva khổng lồ và náo động người ta bỗng nhiên bắt đầu bàn tán về tia sáng đỏ và về giáo sư Perxicov. Thật ra, chỉ mới rất sơ qua và khá mơ hồ. Cái tin về phát minh kì diệu đó cứ chập chờn trong thủ đô rực sáng như một con chim bị thương, lúc mất hút, lúc lại vùn vụt bốc lên, cho đến giữa tháng Sáu, khi trên trang hai mươi của tờ báo Tin tức, trong đề mục Tin khoa học và kĩ thuật xuất hiện một mẩu tin ngắn nói về tia sáng đỏ. Bài báo chỉ thông báo khô khan, rằng một giáo sư nổi tiếng của trường Đại học Tổng hợp số Bốn đã phát hiện ra tia sáng có tác động cực mạnh đến hoạt động sống của các sinh vật bậc thấp, và tia sáng đó cần phải được kiểm chứng. Họ tên nhà bác học dĩ nhiên là bị thay đổi thành "Pevxicov".

Ivanov mang tờ báo đến cho giáo sư Perxieov.

"Pevxicov", - Perxicov vẫn không rời camera trong phòng làm việc, lẩm bẩm, - mà làm sao cái bọn hớt lẻo này biết được nhỉ?

Than ôi, cái họ tên đã bị biến dạng kia vẫn không cứu được nhà bác học khỏi gặp phải các sự kiện khó chịu, và chúng đã bắt đầu ngay vào ngày hôm sau, liền tức khắc phá hoại cả cuộc đời của Perxicov.

Pancrat, sau khi gõ cửa, bước vào phòng và trao cho Perxicov một tấm danh thiếp bằng giấy bóng cực đẹp.

Ông ta đang ở ngoài kia, - Pancrat rụt rè nói thêm.

Trên tấm danh thiếp ghi:

ALFRED ARCADIEVITR BRONXKI

Cộng tác viên các tạp chí Moxcva

Ngọn lửa đỏ, Quả ớt đỏ, Tạp chí đỏ, Đèn pha đỏ, và báo Buổi chiều Moxcva đỏ.

Tống cổ hắn ta đi, - Perxicov nói bằng giọng đều đều và ném tấm danh thiếp xuống gầm bàn.

Pancrat quay gót, bước ra khỏi phòng và sau năm phút lại quay vào với vẻ mặt đau khổ chìa ra bản thứ hai của vẫn tấm danh thiếp đó.

Cái gì, anh đùa đấy hả? - Perxicov rít lên và có vẻ trông thật đáng sợ.

Từ GPU(1) đến, anh ta bảo thế, - tái xanh mặt mày, Pancrat đáp.

Perxicov một tay giật lấy tấm danh thiếp, suýt nữa thì làm nó rách làm đôi, tay kia ném chiếc kẹp nhíp xuống mặt bàn. Trên tấm danh thiếp được viết thêm bằng nét chữ bay bướm lòng vòng: "Thưa giáo sư kính mến, xin lỗi giáo sư và xin được tiếp kiến ba phút về những vấn đề xã hội của báo chí và cộng tác viên tạp chí trào phúng Con ó dddỏ, cơ quan ngôn luận của GPU".

Gọi vào đây, - Perxicov nói và thở hắt ra.

Từ sau lưng Pancrat ngay tức khắc hiện ra một người đàn ông còn trẻ với bộ mặt cạo nhẵn nhụi, nhưng mà nó khiến người ta kinh ngạc bởi đôi lông mày bao giờ cũng dướn lên như người Trung Quốc, và phía dưới là cặp mắt màu mã não không một tích tắc nào nhìn thẳng vào mắt người đối thoại. Anh ta ăn mặc thật đúng mốt và lịch sự không chê vào đâu được. Chiếc áo khoác ngoài hẹp và dài đến đầu gối, quần ống loe rất rộng và đôi ủng đánh xi có mũi giống như móng ngựa. Trong tay anh ta cầm cây can, chiếc mũ chóp nhọn đầu và quyển sổ tay.

Anh cần gì? - Perxicov hỏi bằng một giọng khiến Pancrat phải tức khắc biến ra phía ngoài cánh cửa. - Người ta đã nói với anh là tôi bận kia mà?

Thay cho câu trả lời, người đàn ông trẻ nghiêng đầu về bên phải rồi bên trái chào giáo sư hai lần, sau đó anh ta lướt cặp mắt khắp gian phòng làm việc và ngay tức khắc làm một dấu hiệu gì đó vào cuốn sổ tay.

Tôi bận, - giáo sư nhắc lại, với vẻ kinh tởm nhìn thẳng vào mắt người khách, nhưng không đạt được một hiệu quả nào cả, bởi ánh mắt của anh ta là không thể bắt gặp được.

Tôi xin ngàn lần được xá tội, thưa giáo sư vô cùng kính mến, - người đàn ông trẻ mở miệng phát ra một giọng cao lanh lảnh, - về việc tôi xông vào và làm mất thời giờ quý báu của giáo sư, nhưng cái tin về phát minh tầm cỡ thế giới của giáo sư làm chấn động khắp cả địa cầu khiến tờ tạp chí của chúng tôi phải xin ở giáo sư vài lời giải thích.

Lời giải thích nào cho khắp cả địa cầu? - Perxicov rên lên the thé và mặt ông vàng bệch ra. - Tôi không có trách nhiệm phải giải thích gì với anh cả... Tôi bận... tôi đang rất bận.

Giáo sư đang nghiên cứu vấn đề gì vậy? - Tay đàn ông trẻ ngọt ngào hỏi và vạch thêm một dấu hiệu thứ hai vào quyển sổ.

À tôi... mà anh sao? Anh muốn in một cái gì à?

Vâng, - gã đàn ông trẻ đáp và bỗng ngoáy lia lịa vào sổ tay.

Thứ nhất, tôi không dự định công bố một cái gì cả trong khi tôi chưa kết thúc công việc... nhất là trên các tờ báo của các anh... Thứ hai, từ đâu mà anh biết những chuyện này? - Và Perxicov bỗng nhiên cảm thấy lúng túng.

Cái tin giáo sư phát minh ra tia sáng cuộc sống mới có chính xác không ạ?

Cuộc sống mới nào? - Giáo sư điên tiết lên. - Anh lảm nhảm gì vậy? Cái tia sáng tôi tìm ra còn lâu mới được nghiên cứu đến nơi đến chốn, và nói chung còn chưa có gì rõ ràng cả! Có thể là nó kích thích hoạt động sống của chất nuôi...

Lên bao nhiêu lần? - Gã đàn ông trẻ hấp tấp hỏi.

Perxicov trở nên lúng túng thật sự... "Hừm, cái thằng cha. Có trời biết được cái gì thế này?"

Anh hỏi gì mà ngớ ngẩn vậy?... Cứ cho là một nghìn lần!...

Trong cặp mắt gã đàn ông trẻ tuổi hiện ra một vẻ vui mừng tàn bạo của một con thú săn mồi.

Sẽ tạo ra những sinh vật khổng lồ chứ?

Hoàn toàn không có gì như vậy cả! Hừ, thật ra những sinh vật do tôi tạo ra có lớn hơn bình thường... Hừ, chúng có một số đặc tính mới... Nhưng cái cơ bản không phải là độ lớn, mà tốc độ sinh sản nhanh không tưởng được, - Perxicov buột miệng nói và ngay tức khắc cảm thấy kinh hoàng.

Gã đàn ông trẻ viết kín cả trang giấy, giở sang trang sau và hấp tấp ghi tiếp.

Anh đừng có viết gì cả! - Cảm thấy bất lực và cảm thấy mình đã nằm trong tay gã đàn ông trẻ, Perxicov tuyệt vọng rít lên. - Anh viết cái gì vậy?

Có đúng là sau hai ngày từ trứng ếch có thể tạo ra hai triệu con nòng nọc?

Từ bao nhiêu trứng mới được chứ? - Perxicov lại phát khùng lên hỏi. - Đã bao giờ anh nhìn thấy, chẳng hạn, một cái trứng nhái chưa, hả?

Cứ cho là từ từ hai trăm gam đi! - Gã đàn ông trẻ vẫn không bối rối, hỏi tiếp.

Persieov đỏ tím mặt.

Ai lại đi đo đếm như vậy hả? Phù! Anh nói cái gì vậy? Hừ, tất nhiên, nếu như lấy hai trăm gam trứng ếch... thì khi đó có thể được một số lượng gần như thế, mà cũng có thể nhiều hơn!

Đôi mắt gã đàn ông sáng rực lên và gã viết một mạch hết thêm cả trang giấy nữa.

Có đúng điều này có thể gây ra một cuộc cách mạng thế giới trong ngành chăn nuôi không?

Anh hỏi nhăng cuội gì thế? - Perxicov gầm lên. - Và nói chung tôi cấm anh viết những chuyện nhảm nhí. Qua nét mặt anh tôi thấy là anh đang viết những điều gớm guốc!

Thưa giáo sư, xin giáo sư một tấm ảnh nhỏ, - gã nói và gấp sổ ghi chép lại.

Cái gì? ảnh của tôi ấy à? Cho tạp chí của các anh ấy à? Với những chuyện quỷ quái mà các anh viết ở đó ấy à? Không, không, không... Tôi đang bận... xin mời anh ra!...

Ảnh cũ cũng được. Và chúng tôi sẽ hoàn lại cho giáo sư ngay.

Pancrat! - Giáo sư hét lên trong cơn điên.

Xin phép giáo sư, - gã đàn ông trẻ nói và biến mất.

Thay vào chỗ Pancrat, phía ngoài cửa nghe vang lên tiếng máy nổ đều đều kì lạ, tiếng đế sắt gõ lên sàn nhà và trong phòng xuất hiện một người đàn ông to béo khác thường, mặc áo blu, quần dài may bằng vải nỉ chần. Chân trái anh ta là chân giả gõ ầm ầm, kêu lạch cạch, tay mang một chiếc cặp lớn. Khuôn mặt tròn cạo nhẵn của anh ta như được phủ lớp thịt đông màu vàng nở nụ cười cởi mở. Anh ta cúi chào giáo sư theo kiểu nhà binh và ưỡn thẳng ngực lên khiến cho chiếc chân giả nhún gõ đánh cộp xuống sàn. Perxicov đứng sững như hóa đá.

Thưa ngài giáo sư, - người lạ nói bằng một giọng hơi khàn khàn dễ nghe, - xin ngài tha thứ cho sự đường đột của kẻ nhỏ mọn này.

Anh là phóng viên? - Perxicov hỏi. - Pancrat!

Tuyệt nhiên không, thưa ngài giáo sư, - người đàn ông to béo đáp. - Xin phép ngài được tự giới thiệu: Thuyền trưởng tàu viễn dương và cộng tác viên của báo Tin tức công nghiệp trực thuộc Hội đồng Dân ủy.

Pancratl! - Perxicov hét lên một cách điên dại, liền đó ở trong góc phòng một tín hiệu đỏ bật lên nhấp nháy và tiếng chuông điện thoại ngân dịu dàng. - Pancrat! - Giáo sư lặp lại. - Tôi nghe đây.

Cùng lúc đó ngoài cửa chính của Viện bắt đầu vang lên những tiếng chuông gọi cửa.

*

Vụ giết người khủng khiếp trên phố Bronnaia đây! - Những giọng rao khản đặc không tự nhiên rên rỉ vút lên, quanh quẩn trong biển ánh sáng giữa những vòng bánh xe quay và những luồng đèn pha trên mặt đường tháng Sáu nóng bỏng. - Sự xuất hiện khủng khiếp bệnh dịch gà của bà góa cố đạo Drozdovak có kèm ảnh đây!.. Phát minh khủng khiếp ra tia sáng cuộc sống của giáo sư Perxicovr đây!

Perxicov nhảy một bước, suýt nữa đâm vào ô tô trên phố Mokhovaia và giận dữ chộp lấy một tờ báo.

Ba copec, thưa ông! - Cậu bé bán báo hét to, rồi luồn vào đám người trên vỉa hè, lại gào lên: - Báo Buổi chiều đỏ đây, phát minh tia ich-xờ đây!

Choáng váng, Perxicov mở toang tờ báo và tựa mình vào cột đèn. Trên trang hai, ở góc trái, trong một khung ảnh nhòe nhoẹt nhìn ông là một người đầu hói, với đôi mắt trống rỗng, mất trí và hàm dưới sệ xuống. Đó là kết quả sự sáng tạo nghệ thuật của Alfred Bronxki. "V.I. Perxicov, người phát hiện ra tia sáng đỏ bí ẩn", - dòng chữ đề dưới bức ảnh.

Thấp hơn một chút, dưới hàng tít:

"Một điều bí ẩn tầm cỡ thế giới"

Bài báo bắt đầu bằng những lời sau:

"- Mời anh ngồi, - nhà bác học danh tiếng Perxicov vui vẻ nói với chúng tôi..."

Dưới bài báo kí tên: Alfred Bronxki (Alonzo).

Một luồng sáng xanh nhợt dựng lên phía trên mái nhà trường Đại học Tổng hợp, và trên nền trời hiện ra dòng chữ đỏ rực Báo truyền thanh, và ngay tức khắc người đổ ra tràn ngập phố Mokhovaia.

"- Mời anh ngồi?!!” - từ trong chiếc loa trên mái nhà chợt rít lên một giọng the thé cực kì khó chịu, giống hệt như giọng của Alfred Bronxki được nhân lên hàng nghìn lần. - "Nhà bác học danh tiếng Perxicov vui vẻ nói với chúng tôi: "Đã từ lâu tôi muốn giới thiệu với giai cấp vô sản Moxcva kết quả phát minh của tôi..."

Có tiếng vó ngựa gõ nhẹ phía sau lưng Perxicov, và một người nào đó kéo tay áo ông. Quay lại, nhà bác học nhìn thấy khuôn mặt tròn vàng ệch của chủ nhân chiếc chân giả. Cặp mắt anh ta đẫm lệ, còn đôi môi thì run rẩy.

Thưa ngài giáo sư, ngài đã không muốn giới thiệu với tôi kết quả phát minh kì diệu của ngài, - anh ta rầu rĩ nói và thở dài thườn thượt. - Thế là mất đứt của tôi mấy chục bạc...

Anh ta buồn bã nhìn lên nóc nhà trường Đại học Tổng hợp, nơi gã Alfred vô hình vẫn đang quay cuồng giữa khoảng không đen ngòm. Perxicov không hiểu sao chợt cảm thấy thương hại người đàn ông to béo này.

Tôi không hề nói mời ngồi mời nghiếc gì với hắn ta cả. - Ông làu bàu, nghe những lời từ trên trời dội xuống với vẻ hết sức căm ghét. - Đây quả là thằng đểu cáng đến mức khác thường! Tôi xin lỗi anh, nhưng quả thật khi đang làm việc lại có người xông vào... Tôi không nói về anh, tất nhiên...

Thưa ngài giáo sư, có thể ngài cho tôi xin vài lời mô tả về camera của ngài không ạ? - Người đàn ông chân giả lắp bắp với vẻ đau khổ thê thảm. - Với ngài thì bây giờ có mất gì đâu...

"Từ hai trăm gam trứng ếch trong vòng ba ngày sẽ nở ra một số lượng nòng nọc nhiều đến mức không có cách nào đếm xuể," - người vô hình vẫn ré lên trong loa.

Tu-tu, - còi ô tô rú trên đường Mokhovaia.

Hô-hô-hô... Ghê chưa, hô-hô-hô, - đám đông dọc phố ngước mặt lên trời, xuýt xoa.

Cái thằng, đểu đến thế là cùng! Hả?... - Cáu giận đến run cả người, Perxicov rít lên với anh chàng chân giả. - Anh thấy thế nào? Tôi sẽ kiện hắn!

Đúng là quá quắt! - Anh chàng to béo tỏ vẻ đồng tình.

Một luồng sáng màu tím chói lòa đập vào mắt giáo sư, và tất cả xung quanh như cháy bùng lên: cột điện, mặt hè phố, bức tường vàng khè, những bộ mặt tò mò.

Người ta chụp ảnh ngài đấy, giáo sư!

Người đàn ông to béo thán phục thì thào và đeo chặt vào cánh tay giáo sư hệt như một quả tạ cân.

Trong không khí có tiếng gì đó nổ lách tách.

Quỷ tha ma bắt chúng đi! - Perxicov rầu rĩ rít lên và với quả tạ trên tay lách ra khỏi đám đông. - Ê taxi! Đến phố Pretrixtenca!

Một chiếc xe cũ kĩ lở loét, model năm 1924, đang nổ bành bạch cạnh hè đường, và vị giáo sư cố thoát khỏi tay đàn ông to béo, chui vào xe.

Anh làm vướng tôi, - ông quát lên và đưa tay che mặt khỏi luồng ánh sáng tím.

Các người đọc chưa?! Họ hét gì vậy?... Giáo sư Perxicov với lũ con đã bị giết trên phố Malaia Bronnaia!... - Đám người xung quanh la hét.

Ta không có con cái nào hết, lũ chó đẻ ạ! - Perxicov gầm lên và bỗng rơi vào đúng ống kính của một chiếc máy ảnh đen ngòm, nó đã kịp chộp được bộ mặt nhìn nghiêng của ông với cái miệng mở to và đôi mắt đầy thịnh nộ.

Bạch-bạch-bạch-bạch, - chiếc taxi rít lên lạch xạch và xông thẳng vào đám đông.

Người đàn ông to béo đã ngồi trong xe và sưởi ấm một bên sườn cho giáo sư.

Chương Năm

Chuyện gà

Tại thị trấn nhỏ Xteclovxc, tên trước đây là Troitxc, thuộc tỉnh Coxtromxcaia, huyện Steclovxki, một người đàn bà đầu vấn khăn, mặc áo vải hoa xám bước ra thềm ngôi nhà trên phố Nhà Thờ cũ, nay đổi thành phố Cán Bộ, và òa ra bên khóc. Người đàn bà đó là vợ góa của vị cựu linh mục nhà thờ Drozdov; bà ta khóc to đến nỗi chỉ loáng sau từ ngôi nhà ở phía bên kia đường một cái đầu đàn bà chít khăn lông thò ra cửa sổ và hỏi:

Sao thế, chị Xtepanovna, hay lại bị nữa?

Con thứ mười bẩy! - Vừa khóc nức nở, bà góa Drozdova vừa đáp.

úi chu cha, - người đàn bà chít khăn lúc lắc mái đầu và kêu lên the thé, - mà sao lại như thế nhỉ? Đúng là Đức chúa Ngài nổi giận rồi. Mà chẳng lẽ nó chết thật ư?

Thì cô xem đây, xem đây, Mat"rena, - bà cố đạo góa lẩm bẩm, tiếp tục rên rỉ thật to và thật thảm thiết, - cô xem nó đây này.

Chiếc cổng vườn xiêu vẹo cót két mở ra, những bàn chân đàn bà để trần lạch bạch bước qua con đường đất mấp mô đầy bụi, và bà linh mục góa đầm đìa nước mắt dắt Mat"rena vào khu chuồng gà của nhà mình.

Cần phải nói rằng bà vợ góa của ông linh mục Savvati Drozdov - ông ta tạ thế năm 1926 vì những nỗi đau khổ phản tôn giáo, - đã không chịu bó tay ngồi yên sau khi chồng chết, mà lập nên một trại nuôi gà cực tuyệt. Nhưng khi công việc làm ăn của bà góa vừa phất lên, thì người ta đặt cho bà một mức thuế cao đến nỗi sự nghiệp nuôi gà của bà thiếu chút nữa phải tiêu vong. May mà có những người tốt bụng, họ bày cho bà góa gửi đơn lên chính quyền địa phương xin thành lập tổ hợp tác nuôi gà. Thành phần của tổ gồm có bà Drozdova là một, cô người ở trung thành Mat"rexca là hai và cô cháu họ câm điếc của bà là ba. Người ta miễn thuế cho bà góa, và trại nuôi gà của bà phát đạt đến mức năm 1928 trong khoảng sân bụi mù nằm giữa các chuồng gà đã có đến hai trăm năm mươi ả gà mái chen chúc, trong số đó thậm chí có cả giống cực hiếm. Trứng của bà góa các ngày chủ nhật xuất hiện ở chợ Xteclovxc, trứng của bà góa được người ta buôn đến tận Tambov, và có khi chúng còn được bầy trong các quầy kính của cửa hiệu trước đây vốn là "Pho mát và bơ Tritkin ở Moxcva".

Vậy mà hôm nay mới từ sáng đến giờ con gà thứ mười bẩy, một ả gà cưng mào đỏ, đang đi lại trong sân bỗng lăn đùng ra đất. "Khe - khe - úc - úc ô - ô” - ả phát ra tiếng rên và đảo cặp mắt buồn thương về phía mặt trời như thể đây là lần cuối cùng ả được trông thấy nó. Một tổ viên của tổ hợp tác, Mat"rexca, ngồi xổm trước mũi ả gà với chén nước trong tay.

Nào mào đỏ, cưng nào, nào-nào-nào... uống nước đi, - Mat"rexca nài nỉ và đưa chén nước vào dưới mỏ ả mào đỏ. Nhưng ả không muốn uống. ả há mỏ ra thật rộng, ngẩng đầu lên thật cao, rồi bắt đầu khạc ra máu...

Trời đất ơi! - Người khách vừa vào hét lên, vỗ đèn đẹt vào hai đùi. - Sao lại thế này? Cứ như bị cắt tiết. Chưa bao giờ tôi thấy gà cũng đau bụng như người cả.

Đó là những lời tiễn biệt cuối cùng nói với ả gà mái. Nó bỗng đổ nghiêng về một bên, bất lực cắm mỏ vào mặt đất lầm bụi, mắt đảo liên hồi. Rồi nó lật ngửa người ra, hai chân chĩa lên trời, nằm bất động. Mat"rexca òa lên khóc giọng trầm, làm đổ hết cả nước trong chén; bà linh mục góa, tổ trưởng tổ hợp tác, cũng khóc; còn cô khách thì ghé sát miệng vào tai bà góa, thì thầm:

Chị Xtepanovna này, em xin thề là gà của chị bị người ta phá hoại rồi. Đời thuở nào lại thế này. Gà làm gì có thứ bệnh như vậy! Đúng gà của chị bị ai phù phép bỏ bùa rồi.

Ôi! Những kẻ thù của đời tôi ơi! - Bà vợ góa ông linh mục ngửa mặt lên trời than. - Tại sao chúng lại muốn giết chết ta như thế này!

Đáp lại lời bà là tiếng gà trống kêu rất to; rồi từ trong chuồng, một con gà trống lớn gân guốc nhảy vọt xuống, dáng liêu xiêu hệt như một gã say hốt hoảng chạy ra từ quán bia. Nó giương mắt dữ tợn nhìn mấy người đàn bà, dẫm chân tại chỗ, hai cánh dang ra như chim ưng, nhưng nó không bay đi đâu cả mà bắt đầu chạy quanh sân theo vòng tròn như ngựa bị giữ một đầu dây. Đến vòng thứ ba nó dừng lại và bắt đầu nôn, vừa thở khò khè vừa khạc ra xung quanh mình những bãi máu, rồi nó lật ngửa người, hai chân chống thẳng lên trời như hai cột buồm. Tiếng la khóc của mấy người đàn bà inh ỏi khắp sân. Đáp lại, từ trong các chuồng gà là tiếng cục tác, tiếng đập cánh, tiếng xô đẩy đầy bất an.

Thấy chưa, chẳng phải bùa phép là gì? - cô khách đắc thắng hỏi. - Gọi cha Xerghi đến cúng đi thôi.

*

Vào sáu giờ chiều, khi mặt trời treo rất thấp, lơ lửng như một chiếc đĩa lửa đỏ rực giữa những bông hướng dương non, ở sân trại gà, cha Xerghi, cha xứ của nhà thờ sở tại, vừa kết thúc lễ tạ ơn, cởi chiếc áo choàng lễ ra. Những mái đầu tò mò của đám hàng xóm ngấp ngó trên hàng dậu gỗ và giữa các khe hở của nó. Bà vợ góa của ông linh mục đau khổ hôn lên cây thánh giá, nhỏ nước mắt làm ướt đẫm đồng rúp sứt mẻ vàng khè rồi trao nó cho cha Xerghi; đáp lại, cha thở dài và lẩm bẩm một câu gì đó ý nói rằng đức Chúa Trời đã nổi giận đối với chúng ta. Vẻ mặt của cha Xerghi lúc đó cho thấy rằng cha biết rất rõ vì sao đức Chúa Trời nổi giận, chỉ có điều cha không nói ra mà thôi.

Liền đó đám đông giải tán ai về nhà nấy, và vì loài gà đi ngủ rất sớm nên không ai biết rằng ở nhà hàng xóm của bà góa Drozdova có ba con gà mái và một con gà trống chết ngay một lúc trong chuồng. Chúng cũng bị nôn hệt như lũ gà của bà Drozdova, chỉ khác là cái chết của chúng xảy ra lặng lẽ trong ngăn chuồng đóng kín. Một chàng gà trống bị rơi từ trên sào đậu xuống và lìa dời trong tư thế đó. Còn nói về bầy gà của bà góa, chúng đã đồng loạt từ giã cõi trần ngay khi buổi lễ tạ ơn kết thúc, và đến tối thì trong các ngăn chuồng dều im ắng đầy tang tóc, những thân gà cứng đờ nằm chất thành từng đống lớn.

Sáng hôm sau thành phố thức dậy sửng sốt như sét nổ ngang tai, vì rằng tai họa đã mang một quy mô quái dị và khủng khiếp. Đến trưa trên phố Cán Bộ chỉ còn lại ba con gà còn sống ở ngôi nhà cuối cùng, nơi viên thanh tra tài chính của huyện thuê trọ, nhưng tới một giờ chiều thì chúng cũng tịch nốt. Buổi chiều cả thị trấn Xteclovxc sôi sục, ồn ào như ong vỡ tổ, mọi người truyền nhau một từ đáng sợ: dịch gà. Họ tên của bà góa Drozdova được nhắc đến trên tờ Chiến Sĩ Đỏ trong bài báo với đầu đề Chẳng lẽ là dịch gà?, và từ đó tin tức bay thẳng về Moxcva.

*

Cuộc sống của giáo sư Perxicov từ nay mang thêm một sắc thái kì lạ, bất an và đầy biến động. Nói ngắn gọn, là trong trạng thái như thế thì không thể nào làm việc được. Sang ngày hôm sau kể từ khi thoát khỏi tay gã Alfred Bronxki, ông buộc phải gỡ bỏ điện thoại của mình trong phòng làm việc ở Viện; còn buổi tối, khi đi xe điện qua phố Okhotnưi, giáo sư nhìn thấy mình trên mái một ngôi nhà rất to với hàng chữ đen Báo Công nhân. Ông, giáo sư, mặt tái nhợt, run rẩy, mắt nháy liên hồi, đang chui vội vào thùng xe taxi, còn bám theo sau, túm chặt lấy tay giáo sư, là gã chân giả tròn như một quả bóng mặc vải nỉ chần. Giáo sư trên màn ảnh trắng trên nóc nhà đang lấy tay che mặt khỏi luồng ánh sáng màu tím. Tiếp liền đó hiện ra hàng chữ lửa: "Giáo sư Perxicov ngồi trong ô tô đang trao đổi với phóng viên nổi tiếng của chúng tôi, thuyền trưởng Xtepanov”. Mà quả đúng vậy: một chiếc ôtô ọp ẹp bò ngang qua nhà thờ Đấng Cứu Thế trên phố Volkhonca, trong xe là giáo sư Perxicov với bộ mặt của một con sói bị săn đuổi.

Quân này đúng là quỷ sứ chứ không phải người, - nhà động vật học rít qua kẽ răng và đi ngang qua.

Cũng vào buổi chiều hôm đó, trở về nhà trên phố Pretristenca, giáo sư nhận được từ tay bà giúp việc Maria Xtepanovna mười bẩy mẩu giấy có ghi số điện thoại của những người gọi điện đến cho ông trong thời gian ông vắng mặt, cùng lời tuyên bố miệng của bà Maria Xtepanovna, rằng bà đã bị hành hạ đến kiệt sức đi rồi. Giáo sư đã định xé tan tập giấy, nhưng vội dừng lại, vì đối diện với một trong những số điện thoại đó ông kịp đọc thấy hàng chữ: "ủy viên Dân ủy Y tế”.

Cái gì thế này? - Nhà bác học ương gàn thực sự ngơ ngác. - Bọn họ làm sao thế này nhỉ?

Mười giờ mười lăm phút cùng buổi tối hôm đó vang lên tiếng chuông cửa, và vị giáo sư già buộc phải nói chuyện với một người ăn mặc cực kì sang trọng. Giáo sư tiếp ông ta là vì tấm danh thiếp ghi (không có họ tên người):

"Tổng Giám đốc thương vụ

các đại lí nước ngoài tại Cộng hòa Xô Viết."

Quỷ tha ma bắt hắn đi, - Perxicov gầm gừ, ném chiếc kính lúp cùng một tờ giản đồ nào đó xuống mặt bàn phủ nỉ xanh và nói với bà Maria Xtepanovna: - Gọi hắn ta, cái lão Tổng Giám đốc kia, vào thẳng phòng làm việc này.

Anh cần gì? - Perxicov hỏi bằng giọng khiến ngài Tổng Giám đốc hơi giật mình. Perxicov đẩy cặp kính từ sống mũi lên trên trán, rồi lại hạ nó xuống và ngắm kĩ vị khách. Toàn thân ông ta bóng lộn như đánh vecni, rực rỡ các loại đá quý, trên mắt phải chễm chệ chiếc kính một mắt. "Một bộ mặt tởm lợm", - không hiểu sao Perxicov thoáng nghĩ.

Ông khách bắt đầu từ xa, cụ thể là xin phép được hút một điếu xì gà, kết quả là Perxicov hết sức miễn cưỡng mời ông ta ngồi. Tiếp đến ông khách nói một thôi một hồi về chuyện ông ta đến muộn. Nhưng ban ngày thì... không thể nào chộp... hì-hì... pardon(1)... gặp được ngài giáo sư (ông khách cười nấc lên hệt như một con linh cẩu).

Vâng, tôi bận! - Perxicov đáp cộc lốc khiến người khách lại rùng mình một lần nữa.

Tuy nhiên ông ta vẫn buộc phải quấy rầy nhà bác học danh tiếng - thời gian là vàng bạc mà, như người ta nói... Ngài giáo sư có phiền vì xì gà không ạ?

Mừm-mừm-mừm, - Perxicov ậm ừ. Ông cho phép...

Có phải giáo sư đã phát minh ra tia sáng cuộc sống không ạ?

Xin lỗi, cuộc sống cuộc chết nào? Đó chỉ là những điều bịa đặt của đám nhà báo! - Perxicov linh hoạt hẳn lên.

Ôi không phải thế, hi-hi-hê... - Ông ta rất hiểu sự khiêm tốn vốn thực sự làm tôn quý thêm tất cả các nhà bác học chân chính... điều đó không cần phải nói... Hôm nay có những bức điện... Trong các thành phố lớn của thế giới, như Varsava và Riga, người ta đã biết về tia sáng kì diệu đó. Tên của giáo sư Perxicov được cả thế giới nhắc đến... Cả thế giới nín thở theo dõi công việc của giáo sư Perxicov... Nhưng tất cả mọi người đều biết rằng hoàn cảnh của các nhà bác học ở nước Nga Xô Viết rất khó khăn. Entre nous soit - dit(1)... Không có người ngoài ở đây chứ ạ?... Thật đáng buồn là ở đây không biết đánh giá lao động của các nhà bác học, vì vậy ông ta muốn thảo luận với ngài giáo sư... Có một quốc gia muốn đề nghị với giáo sư Perxicov sự giúp đỡ hoàn toàn vô tư trong việc tiến hành các thí nghiệm khoa học. Chẳng tội gì mà ở đây để gảy đàn vào tai trâu, như trong Kinh Thánh nói. Quốc gia đó đã biết giáo sư phải khốn khổ như thế nào vào những năm 1919 và 1920 trong thời gian cuộc cách mạng kia. Vâng, tất nhiên, tuyệt đối bí mật... ngài giáo sư sẽ thông báo cho quốc gia đó kết quả của công trình, ngược lại quốc gia đó sẽ cấp kinh phí cho giáo sư. à hình như ngài giáo sư đã thiết kế một camera, sẽ rất thú vị nếu được xem sơ đồ của camera đó.

Nói đến đây người khách rút từ túi trong của áo vét ra một tập giấy trắng như tuyết.

à, một chút quà mọn thôi mà, chẳng hạn năm ngàn rúp đưa trước, ngài giáo sư có thể nhận ngay bây giờ... và không cần kí nhận... giáo sư có thể làm phật lòng ngài Tổng Giám đốc thương vụ nếu như nói đến việc kí nhận.

Bước!!!. - Perxicov đột ngột gầm lên dữ tợn đến nỗi cây đàn dương cầm đặt trong phòng khách bật lên âm thanh ở các nốt cao.

Người khách vụt biến nhanh đến mức một phút sau, vẫn còn run bắn người lên vì giận dữ, Perxicov không dám tin chắc rằng ông ta là có thật hay chỉ là ảo giác.

ủng của hắn à? - Một phút sau Perxicov hét lên ở phòng ngoài.

Ông ta quên, - bà Maria Xtepanovna run rẩy đáp.

Vứt ra ngoài kia!

Tôi vứt đi đâu được? Ông ta sẽ quay lại lấy.

Nộp cho hội đồng quản lí nhà. Kí nhận. Sao cho tôi không thấy bóng chúng nữa. Đưa đến hội đồng ngay! Cứ để cho họ giữ ủng của bọn gián điệp!...

Maria Xtepanovna làm dấu thánh, nhặt đôi ủng da tuyệt đẹp mang ra cửa sau. Đứng một lúc bên cánh cửa, cuối cùng bà mang đôi ủng giấu vào nhà kho.

Nộp chưa? - Perxicov sôi sục hỏi.

Nộp rồi ạ.

Đưa giấy biên nhận cho tôi.

Nhưng mà ông chủ tịch hội đồng không biết chữ, thưa bác Vladimir Ipatievitr!...

Đi. Lấy về ngay. Phải có giấy biên nhận. Bảo một thằng chó đẻ nào đấy biết chữ kí thay vào.

Bà Maria Xtepanovna chỉ biết lắc đầu, bước đi, và mười lăm phút sau quay lại với tờ giấy biên nhận:

"Nhận vào quỹ công của giáo sư Perxicov 1 (một) đôi ủng cao su. Kí tên: Colexov.

Còn cái gì thế này?

Tích kê ạ.

Perxicov ném tấm tích kê xuống đất, lấy chân giẫm lên, còn tờ giấy biên nhận thì đem cất vào cặp. Rồi một ý nghĩ nào đó làm u ám vầng trán rộng của giáo sư. Ông chạy vội đến bên điện thoại, gọi đến Viện cho Pancrat, hỏi anh ta xem mọi chuyện có yên ổn cả không. Pancrat lắp bắp một hồi vào ống nghe, qua đó có thể hiểu được rằng theo ý kiến của anh ta thì mọi chuyện đều ổn.

Nhưng Perxicov chỉ yên tâm được một lúc. Nhăn mày nhăn mặt, ông lại túm chặt lấy ống nghe và hét vào đó như sau:

Cho tôi nói chuyện... với, cái gì nhỉ?... Lubianca(1)... Tôi phải nói với ai trong số các anh đây... ở chỗ tôi có những kẻ đáng ngờ đi ủng cao su lảng vảng... vâng... Giáo sư Perxicov, trường Đại học Tổng hợp số Bốn.

ống nghe bỗng đột ngột cắt ngang câu chuyện. Perxicov bỏ đi, lẩm bẩm qua kẽ răng những câu chửi thề.

Bác có dùng trà không ạ, bác Vladimir Ipatievitr? - Bà Maria Xtepanovna thò đầu vào phòng rụt rè hỏi.

Không trà với trét gì hết!... Mưm-mưm-mưm, quỷ tha hết tất cả các người đi... Tất cả hóa rồ lên cả rồi.

*

Đúng mười phút sau giáo sư lại tiếp những vị khách mới trong phòng làm việc của mình. Một trong số họ trông có vẻ dễ chịu, to béo và rất lịch sự mặc áo cổ đứng nhà binh giản dị và quần bó đùi cưỡi ngựa. Cặp kính không gọng gắn vào sống mũi ông ta như một con bướm bằng pha lê. Nhìn chung ông ta trông giống như một thiên thần đi ủng đánh vecni. Người thứ hai thấp bé, vẻ mặt cực kì cau có, mặc đồ dân sự, nhưng bộ đồ dân sự đó có vẻ như làm cho anh ta cảm thấy chật chội. Người khách thứ ba có một thái độ đặc biệt, anh ta không bước hẳn vào phòng làm việc của giáo sư, mà đứng lại ở phòng ngoài tranh tối tranh sáng. ở đó anh ta quan sát rất rõ cả căn phòng làm việc được chiếu sáng và dầy đặc khói thuốc lá. Trên bộ mặt người thứ ba này, cũng mặc thường phục, là một chiếc kính đen to tướng.

Hai người trong phòng làm việc quay Perxicov đến mệt bã người, xem đi xem lại tấm danh thiếp, hỏi đi hỏi lại về năm ngàn rúp và bắt ông mô tả bề ngoài của người khách.

Ma quỷ nào biết được hắn, - Perxicov làu bàu, - một bộ mặt kinh tởm. Một kẻ thoái hóa.

Mắt hắn ta có phải mắt giả không? - Người thấp bé hỏi khàn khàn.

Có quỷ nào biết được. Nhưng mà không, không phải mắt giả, nó cứ đảo liên hồi.

Rubinstein? - Người giống như thiên thần quay lại phía người thấp bé mặc thường phục nói khẽ, vẻ dò hỏi. Nhưng người này lắc đầu.

Rubinstein đừng hòng trao tiền mà không đòi giấy biên nhận, không bao giờ, - anh ta lẩm bẩm, - đây không phải bàn tay của Rubinstein. Đây là một kẻ nào bự hơn nhiều.

Câu chuyện về đôi ủng cao su khiến những vị khách đặc biệt quan tâm. Người giống như thiên thần nói ngắn gọn vào ống nghe đến văn phòng hội đồng quản lí nhà: "Cục Chính trị Quốc gia cho gọi thư kí hội đồng nhà cửa Colexov đến ngay căn hộ của giáo sư Perxicov, mang theo đôi ủng cao su", - thế là ngay tức thì Colexov, mặt tái nhợt, xuất hiện trong phòng làm việc của giáo sư, tay ôm đôi ủng.

Vasenca! - Vị khách thiên thần khẽ gọi người ngồi ở phòng ngoài. Anh ta lừng khừng đứng dậy và như cáu kỉnh lê bước vào phòng làm việc. Cặp kính đen che kín hết đôi mắt của anh ta.

Gì? - Anh ta hỏi ngắn gọn và uể oải.

Đôi ủng.

Cặp kính đen nhìn lướt qua đôi ủng, và Perxicov có cảm tưởng như từ phía dưới mắt kính trong một thoáng vụt lóe lên không phải cặp mắt lờ đờ uể oải mà ngược lại, cực kì sắc sảo. Nhưng chúng ngay tức khắc tắt lịm đi.

Thế nào, Vasenca?

Người có tên là Vasenca đáp bằng giọng ngái ngủ:

Chẳng thế nào cả. Của Pelenzcovxki.

Ngay tức thì công quỹ của hội đồng nhà cửa bị tước mất món quà của giáo sư Perxicov. Đôi ủng biến mất trong tờ giấy báo. Tột cùng mừng rỡ, vị khách thiên thần mặc áo nhà binh đứng dậy bắt tay giáo sư và thậm chí còn đọc một bài diễn văn, nội dung tóm tắt như sau: Đây là một vinh dự cho giáo sư... Giáo sư có thể yên tâm... Sẽ không có ai quấy rầy giáo sư nữa, cả ở Viện cũng như ở nhà riêng.... Sẽ có những biện pháp, camera của giáo sư sẽ tuyệt đối an toàn...

Thế các anh có thể bắn hết bọn nhà báo đi được không? - Perxicov nhìn qua phía trên cặp kính, hỏi.

Câu hỏi đó làm cho các vị khách cực kì vui vẻ. Không chỉ người đàn ông nhỏ bé lầm lì, mà cả tay đeo kính đen ở phòng ngoài cũng phải mỉm cười. Vị khách thiên thần như phóng ra hào quang rạng rỡ giải thích rằng điều đó là không thể được.

Thế cái thằng cha đến chỗ tôi là ai thế?

Lần này thì tất cả đều thôi cười, và vị khách thiên thần trả lời lảng đi rằng có lẽ chỉ là một tay lừa lọc nào đó, không đáng để tâm, tuy nhiên ông ta cũng đề nghị công dân giáo sư giữ bí mật tuyệt đối sự việc vừa diễn ra tối nay; và các vị khách ra về.

Perxicov quay vào phòng làm việc, trở lại với những tấm giản đồ của mình, nhưng rốt cuộc ông vẫn không làm việc được. Điện thoại réo, và một giọng đàn bà đề nghị hiến cho giáo sư, nếu ông muốn lấy một bà góa thú vị và say đắm, một căn hộ bảy phòng. Persieov hét vào ống nghe:

Tôi khuyên bà đến chữa ở bệnh viện tâm thần... - và nhận ngay cú điện thoại thứ hai.

Lần này Perxicov hơi xẹp xuống, vì người gọi, một nhân vật khá nổi tiếng, từ điện Cremli hỏi han Perxicov rất lâu và đầy thông cảm về công việc của ông và bày tỏ nguyện vọng đến thăm phòng thí nghiệm. Nói xong chuyện, Perxicov lau mồ hôi trán và gỡ ống nghe ra khỏi máy. Ngay lúc đó từ căn hộ ở tầng trên vọng xuống tiếng kèn đồng vang rền và tiếng gào rú của Valkiria - chiếc radio của ông giám đốc nhà máy dệt dạ đang phát buổi trình diễn vở nhạc kịch của Vagner(1) ở Nhà hát lớn. Trong tiếng rú rít ầm ầm từ trên trần nhà dội xuống, Perxicov tuyên bố với bà Maria Xtepanovna rằng ông sẽ đưa tay giám đốc nhà máy dệt dạ ra tòa, rằng ông sẽ đập tan cái đài kia, rằng ông sẽ đi biệt tăm khỏi Moxcva, vì rõ ràng là người ta đang tìm cách đẩy ông đi. Ông đánh vỡ một chiếc kính lúp, rồi nằm xuống đi văng trong phòng làm việc và thiếp đi giữa tiếng đàn dương cầm du dương của nhà nghệ sĩ nổi tiếng đang chơi trong Nhà hát Lớn.

Những việc bất ngờ tiếp diễn cả ngày hôm sau nữa. Đi tàu điện đến Viện, Perxicov gặp ở bậc tam cấp một người đàn ông đội chiếc mũ nồi xanh rất hợp mốt. Anh ta nhìn Perxicov chằm chằm nhưng không hỏi gì ông cả, vì vậy Perxicov bỏ qua. Nhưng trong tiền sảnh của Viện, ngoài Pancrat có vẻ cực kì bối rối, còn có một người đàn ông đội mũ nồi thứ hai đứng lên đón Perxicov và nhã nhặn cất lời chào:

Xin chào công dân giáo sư.

Anh cần gì? - Perxicov cáu kỉnh hỏi, với sự trợ giúp của Pancrat cố trút bỏ chiếc áo khoác ra khỏi người. Nhưng tay đội mũ nồi đã tức khắc làm cho Perxicov xẹp xuống, bằng giọng hết sức dịu dàng anh ta thì thầm vào tai ông rằng công dân giáo sư không có gì phải lo lắng cả. Anh ta có mặt ở đây chính là để bảo vệ giáo sư khỏi những ông khách đủ loại cứ bám dai dẳng... Rằng giáo sư có thể yên tâm không chỉ với cửa chính mà cả với các cửa sổ nữa. Nói xong người đàn ông lạ mặt lật nhanh vạt áo ngực của mình ra và chỉ cho giáo sư thấy một tấm huy hiệu nào đó.

Hừm... nhưng các anh làm việc bợm thật, - Perxicov hầm hừ, rồi hỏi thêm một cách ngây thơ: - Thế các anh sẽ ăn gì ở đây?

Đáp lại, người đội mũ nồi cười khẩy và giải thích rằng sẽ có người khác đến thay anh ta.

*

Ba ngày tiếp đó trôi qua thật tuyệt vời. Hai lần có khách từ điện Cremli đến thăm giáo sư, một lần các sinh viên đến để Perxicov hỏi thi. Tất cả số sinh viên đó đều bị đánh trượt vỏ chuối, và qua vẻ mặt của bọn họ có thể thấy rõ là đến nay thì Perxicov gợi lên trong họ một nỗi kinh hoàng đầy mê tín.

Anh nên đi bán vé tàu điện thì hơn! Anh không thể nghiên cứu động vật học được đâu, - từ trong phòng vang lên tiếng quát của Perxicov.

Nghiêm lắm à? - Người đàn ông đội mũ nồi hỏi Pancrat.

Chà, còn phải nói, - Pancrat đáp. - Nếu có cậu nào qua được, ra khỏi phòng cũng mặt xanh mày xám, mồ hôi đổ ra như tắm và lập tức chui vào quán bia.

Bận bịu với những việc đó nên giáo sư không nhận thấy ba ngày đã trôi qua, nhưng sang ngày thứ tư người ta lại buộc ông phải quay trở về với thực tại mà nguyên nhân của việc đó là một giọng nói the thé từ ngoài phố vọng vào.

Giáo sư Vladimir Ipatievitr? - Giọng nói chõ vào ô cửa sổ để ngỏ của phòng làm việc hướng ra phía phố Gersen. Giọng nói thật gặp may: Perxicov đã quá mệt mỏi sau mấy ngày vừa qua. Vào đúng thời điểm đó ông đang ngồi hút thuốc trong ghế bành, thư giãn cặp mắt nằm giữa những quầng tròn đỏ thẫm. Ông không thể làm gì thêm. Và vì vậy ông liếc nhìn qua ô cửa sổ với chút ít tò mò, trông thấy trên hè phố gã Alfred Bronxki. Giáo sư lập tức nhận ra chủ nhân của tấm danh thiếp sang trọng nọ qua chiếc mũ đỉnh nhọn và cuốn sổ tay. Bronxki ân cần và ngưỡng mộ cúi chào ô cửa sổ.

Ủa, anh đấy ư? - Giáo sư hỏi.

Ông không còn sức lực để nổi giận nữa và thậm chí còn cảm thấy tò mò muốn biết tiếp theo sẽ là cái gì? Được ô cửa sổ che chở, ông cảm thấy mình an toàn đối với Bronxki. Người đàn ông đội mũ nồi túc trực trên phố lập tức dỏng tai hướng về phía Bronxki. Một nụ cười tột cùng xun xoe nở trên khuôn mặt tay nhà báo.

Xin ngài đôi phút, thưa giáo sư quý mến, - từ ngoài hè đường, Bronxki cao giọng nói, - tôi chỉ xin có một câu hỏi bé, thuần túy động vật học. Giáo sư cho phép chứ ạ?

Kính anh, - Perxicov mỉa mai và ngắn gọn đáp rồi nghĩ bụng: "Dù sao ở cái tay đểu giả này vẫn có một cái gì kiểu Mĩ".

Ngài sẽ nói gì đối với gà, thưa giáo sư quý mến? - Bronxki chụm hai tay lại làm loa, hét to.

Perxicov sửng sốt. Ông ngồi phịch lên bệ cửa sổ rồi lại tụt xuống, ấn nút chuông và hét toáng lên, chọc chọc ngón tay ra ngoài cửa sổ.

Pancrat, cho anh kia vào nhà.

Khi Bronxki xuất hiện trong phòng làm việc, Perxicov tỏ ra thân mật đến mức quát lên với anh ta:

Mời anh ngồi.

Và Bronxki, mỉm cười thán phục, ngồi lên chiếc ghế đẩu quay.

Anh làm ơn cho tôi biết, - Perxicov nói, - anh viết bài cho các báo này của anh à?

Đúng thế ạ, - Alfred Bronxki kính cẩn đáp.

Chỉ có điều tôi không hiểu, anh làm thế nào có thể viết được một khi anh thậm chí không biết nói tiếng Nga? "Đôi phút” và "đối với gà" nghĩa là gì? Có lẽ anh muốn hỏi "về loài gà” phải không?

Bronxki cười nhạt hoét và kính cẩn:

Valentin Pet"rovitr sẽ chữa ạ.

Valentin Pet"rovitr là ai thế?

Trưởng ban văn nghệ ạ.

Thôi được. Thực ra, tôi không phải là nhà ngữ văn. Nhường cho ông Pet"rovitr của các anh. Thế anh muốn biết điều gì về loài gà?

Nói chung tất cả những gì giáo sư nói ra ạ.

Ngay tức khắc cây bút hiện ra trong tay Bronxki. Một ánh đắc ý vụt loé lên trong cặp mắt của Perxicov.

Anh hỏi tôi là không đúng chỗ rồi, tôi không phải là chuyên gia về chim. Tốt hơn là anh nên đến gặp Emelian Ivanovitr Portugalov ở trường Đại học Tổng hợp số Một. Bản thân tôi biết rất ít...

Bronxki mỉm cười thán phục rạng rỡ, tỏ ra là mình đã hiểu câu nói đùa của vị giáo sư quý mến.

"Nói đùa - rất ít!!!” - Anh ta ghi vào sổ tay.

Tuy nhiên, nếu anh quan tâm... Gà là một giống chim thuộc bộ gà. Họ trĩ... - Perxicov cất tiếng nói oang oang, mắt không nhìn Bronxki, mà hướng ra xa như thể trước mặt ông đang có hàng nghìn con người lắng nghe, - thuộc họ trĩ... Phasianidae. Là một loài chim có mào thịt và hai thùy ở dưới hàm dưới... e-hèm... mặc dù cũng có khi chỉ có một thùy ở giữa cổ... Còn gì nữa? Cánh ngắn và tù... Đuôi dài trung bình, xếp thành lớp, những lông đuôi giữa cong hình liềm... - Pancrat... mang từ phòng vật mẫu ra đây mô hình số bảy lẻ năm, con gà trống nhồi... nhưng hình như anh không cần cái đó? Pancrat, thôi đừng mang hình mẫu ra nữa... Xin nhắc lại với anh rằng tôi không phải chuyên gia, hãy đến gặp Portugalov. Bản thân tôi chỉ biết có sáu loài gà hoang... e-hèm... Portugalov biết nhiều hơn... ở ấn Độ và quần đảo Mã Lai. Chẳng hạn, loài gà cỏ, hay Cazintu, sống ở các triền núi Himalaia, ở khắp ấn Độ, ở Assam, ở Miến Điện... Gà đuôi chạc hay Gallus Varius sống ở Lomboc, Sumbava và Flores. Còn trên đảo Giava có loài gà trống nổi tiếng Gallus Eneus, trên miền Đông Nam ấn Độ tôi có thể giới thiệu loài gà Zouneratov rất đẹp... Để sau tôi sẽ chỉ cho anh xem tranh. Còn về Xaylan, thì ở đó có gà Stenli không gặp ở nơi nào khác.

Bronxki ngồi trố mắt chép lia lịa.

Anh cần gì nữa không?

Tôi muốn biết ít nhiều về các loại bệnh gà, - Alfred Bronxki khẽ đáp.

Hừm, tôi đâu phải chuyên gia... anh hãy đến hỏi Portugalov... Tuy nhiên... có thể kể sán xơ mít, sán lá, bọ mát, bọ ghẻ, rận gà, hay là bọ ăn lông, bọ nhảy, dịch tả gà, viêm màng giả bạch hầu niêm mạc... Rồi bệnh nấm phổi, lao, bệnh lở gà... còn bao nhiêu là thứ bệnh khác (những tia lửa nhảy múa trong mắt Perxicov)... Sự trúng độc dại, bệnh u, bệnh còi, bệnh vàng da, bệnh thấp khớp, nấm Achorion Senlaini... một loại bệnh rất thú vị. Khi mắc bệnh, trên mào xuất hiện những vệt mốc...

Bronxki rút chiếc khăn mùi xoa màu lau mồ hôi trán.

Thế thưa giáo sư, theo giáo sư thì cái gì là nguyên nhân của thảm họa hiện nay?

Thảm họa nào?.

Chẳng lẽ giáo sư không đọc báo ư? - Bronxki ngạc nhiên rút từ trong cặp ra một tờ Tin tức nhàu nát.

Tôi không đọc báo, - Perxicov cau mày đáp.

Nhưng vì sao, thưa giáo sư? - Alfred Bronxki dịu dàng hỏi.

Vì rằng chúng chỉ viết những chuyện ngớ ngẩn,- không nghĩ ngợi, Perxicov đáp.

Sao lại thế, thưa giáo sư? - Bronxki khẽ thì thầm và trải tờ báo ra.

Cái gì thế? - Perxicov hỏi và thậm chí còn nhổm người lên. Bây giờ đến lượt những tia lửa nhảy nhót trong mắt Bronxki. Anh ta đưa móng tay nhọn gạch dưới đầu đề một bài báo in bằng chữ cực to chạy suốt trang giấy: “Dịch gà ở nước ta".

Sao? - Perxicov hỏi, đẩy cặp kính lên phía trán...

  • Đoàn Tử Huyến dịch

(Còn tiếp)

-----------------

Chú thích:

(1) GPU: Tên viết tắt của Cục Chính trị Quốc gia, cơ quan mật vụ của Liên Xô (cũ).

Việt Báo
contentlength: 133069
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Bài được quan tâm

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..