Người tìm đến tận nguồn tri thức

07:49 13/11/2005
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Nguoi tim den tan nguon tri thuc
GS Hà Văn Tấn đã công bố 250 công trình trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước, đồng thời hướng dẫn 20 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ sử học, khảo cổ học.
TTCN - Ngày 1-9-2000, Nhà nước ta phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 cho các công trình khoa học xã hội và nhân văn của tám học giả: Đào Duy Anh, Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn, Phạm Huy Thông, Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Tài Cẩn và Trần Đức Thảo (+).

“Trẻ” nhất trong số các học giả nổi tiếng nói trên nhưng Hà Văn Tấn (sinh năm 1937) hoàn toàn xứng đáng được coi là một gương mặt hàng đầu về khoa học xã hội ở nước VN đương đại.

Quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh (cùng làng với đại thi hào Nguyễn Du), năm 1957 tốt nghiệp cử nhân sử học, Hà Văn Tấn trở thành một trong mấy cán bộ giảng dạy trẻ tuổi nhất ở Trường đại học Tổng hợp Hà Nội.

Hẳn là giáo sư Đào Duy Anh phải là người có “biệt nhãn” khi giao cho Hà Văn Tấn hiệu đính và chú thích bản dịch cuốn Dư địa chí, tác phẩm của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán vào thế kỷ 15, được cụ cử nhân nho học Phan Huy Tiếp dịch ra chữ quốc ngữ.

Gọi là “chú thích” nhưng dài tới 115 trang, gấp bốn lần chính văn (38 trang). Bởi vì, với “chú thích” ấy, phải định vị được các tên đất có trong sách qua các thời kỳ lịch sử xa xăm cho đến tận ngày nay. Và như vậy phải đọc hết các sách ghi chép về địa lý VN qua các đời do người VN cùng người Trung Quốc viết.

Gần đây, nhà sử học Nguyễn Vinh Phúc thử lập một bản “thống kê sơ bộ” thì thấy: để tìm tài liệu cho phần chú thích, Hà Văn Tấn đã phải đọc 30 bộ sách Trung Quốc, 16 bộ sách VN, tất cả đều trong nguyên văn chữ Hán, như: Thủy kinh chú, Tiền Hán thư, Hậu Hán thư, Thục chí, Nam Thục chí... của các tác giả Trung Quốc, rồi Toàn thư, Cương mục, An Nam chí lược… của các tác giả VN.

Cũng ở phần chú thích này, Hà Văn Tấn còn chỉ ra một số chỗ sai trong bản Dư địa chí hiện có, do người đời sau thêm vào.

GS sử học Phan Huy Lê cho biết: dạo ấy, trong một buổi họp bộ môn lịch sử cổ – trung đại VN, GS Đào Duy Anh đã nhận xét về công trình đầu tay ấy của Hà Văn Tấn: “Rất công phu, nghiêm túc. Tôi rất hài lòng và tin cậy tác giả.”

Một cuốn sách khác của Hà Văn Tấn gây xôn xao dư luận là cuốn Kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ 13 (cùng viết với Phạm Thị Tâm) xuất bản năm 1968. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh viết bài hết lời khen ngợi, coi cuốn sách là một công trình sử học nghiêm túc, có nhiều khám phá mới, đồng thời lôi cuốn bạn đọc hơn cả một bộ tiểu thuyết! GS Hoàng Xuân Hãn cũng chỉ ra một số điều mới do cuốn sách mang lại.

Để viết cuốn sách đó, Hà Văn Tấn đã phải tham khảo ngót trăm cuốn sách khác bằng đủ các thứ chữ: quốc ngữ, Nôm, Hán, Nga, Pháp, Đức, Nhật Bản, Ba Lan... để rồi khảo chứng công phu, trước thuật chính xác, biện luận sâu xa. Kể cả bộ Sử biên niên viết bằng chữ Ba Tư (Persian) của nhà sử học nổi tiếng thế kỷ 13 Fazl Allah Rasid ud-Din ở vùng Teheran Hà Văn Tấn cũng không bỏ qua.

Chính nhờ ông mà ta được biết ngay từ thế kỷ 13, chiến thắng của Kiefce-Kue (Giao Chỉ quốc) đánh bại Tugan (Thoát Hoan) buộc y phải tháo chạy về Lukin-fu (Long Hưng phủ ở Giang Tây) đã vang vọng đến miền Tây Á xa xôi, khiến nhà sử học thành Hamadhan gần Teheran ấy phải ghi lại trong bộ Sử biên niên của ông bằng thứ chữ không dễ đọc, dễ hiểu chút nào, nhất là với những người ở thế kỷ 20!

Không lâu trước khi qua đời, Bác Hồ đã đọc cuốn sách này và hỏi thăm về hai tác giả Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm.

GS sử học Phan Đại Doãn kể: “Vào thời kỳ sơ tán ở Vạn Thọ, Đại Từ, Thái Nguyên, trong những năm 1966-1968, tôi thường hay trò chuyện với cụ Trần Lê Hữu, một nhà Hán học vui tính. Có lần tôi hỏi: Bác xem tướng bọn trẻ chúng cháu thấy thế nào? Bấy giờ chúng tôi mới ngoài 30 tuổi. Cụ Trần Lê Hữu trả lời: Mình cũng đã từng đèn sách, lều chõng đi thi nhưng vẫn phải phục chữ nghĩa Hán học của Tấn đấy! Cụ không chỉ nói nhận xét đó với riêng tôi, mà còn với nhiều người.”

Một số công trình khác của Hà Văn Tấn cũng khiến giới sử học ngạc nhiên, như bài viết Từ một cột kinh Phật năm 973 vừa phát hiện ở Hoa Lư in trên tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử, số 76 - 1965. Cột kinh này là một trụ đá tám mặt, trên các mặt đều có khắc chữ Hán; vì đá mềm, bị vùi lâu dưới đất nên một số chỗ trên trụ bị hỏng, không nhận rõ mặt chữ. Hà Văn Tấn đã viết lại thật rõ các chữ Hán để đưa in, rồi dịch ra âm Hán – Việt, và điều khó khăn hơn nhiều là phục nguyên Phạn văn (vì bản kinh chữ Hán khắc ở Hoa Lư này chỉ là dùng chữ Hán để phiên âm tiếng Phạn) và phân tích ý nghĩa.

Chúng ta đều biết tiếng Phạn (Sankrit) là một cổ ngữ, ngày nay chỉ những nhà bác học mới có thể đọc hiểu. Hà Văn Tấn đã âm thầm tự học chữ Phạn qua tiếng Đức khi mới ngoài 20 tuổi. Qua bài viết nói trên, người đọc có thể nhận thấy tác giả hiểu Phật học đến tận ngọn nguồn.

Rất thành công trong sử học, nhưng chính những công trình khảo cổ học mới mang lại cho Hà Văn Tấn Giải thưởng Hồ Chí Minh. Cuốn Theo dấu các văn hóa cổ lý giải nhiều vấn đề về văn hóa Tiền Đông Sơn như văn hóa Gò Mun, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Phùng Nguyên, chứng minh tính bản địa của các văn hóa ấy.

Đây là một công việc vô cùng khó khăn, bởi vì trước Hà Văn Tấn, một số học giả nước ngoài có tiếng tăm đã cố sức biện luận rằng nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ kia không hề có nguồn gốc bản địa! O. Janse tìm nguồn gốc văn hóa Đông Sơn ở một tộc người trên thảo nguyên Âu - Á. Còn theo B. Karlgren, văn hóa Đông Sơn bắt nguồn từ văn hóa sông Hoài bên Trung Quốc. Rồi R. Heine-Geldern lại cho rằng kẻ sáng tạo ra văn hóa Đông Sơn là người Tokhara đã đến VN sau một cuộc thiên di dài dằng dặc từ bờ biển Đen!

Hà Văn Tấn không tán thành những lập luận ấy. Nhưng muốn bác bỏ thật không đơn giản! Cần tích lũy cho được hàng vạn chứng cứ vững chắc qua hàng chục năm ròng rã đi điền dã, lại còn phải biết vận dụng thành thạo những phương pháp nghiên cứu mới nhất để rồi biện luận chặt chẽ, không ai bắt bẻ được.

Trong hàng loạt bài báo khoa học của mình, Hà Văn Tấn đã chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng văn hóa Đông Sơn là sự tiếp tục phát triển lên từ các văn hóa Tiền Đông Sơn mà các nhà khảo cổ học VN đã phát hiện. Trước văn hóa Đông Sơn là văn hóa Gò Mun. Trước văn hóa Gò Mun là văn hóa Đồng Đậu. Trước văn hóa Đồng Đậu là văn hóa Phùng Nguyên.

Ta có thể tìm đọc các bài viết của Hà Văn Tấn như: Văn hóa Phùng Nguyên và nguồn gốc dân tộc Việt, Người Phùng Nguyên và đối xứng, Từ gốm Phùng Nguyên đến trống đồng... Qua những bài viết ấy, với vô số hình vẽ tỉ mỉ, viện trưởng Viện Khảo cổ học Hà Văn Tấn đã chứng minh rằng xét về mặt từ vựng và ngữ pháp thì ngôn ngữ gốm Phùng Nguyên tương đương với ngôn ngữ đồ đồng Đông Sơn. Ngôn ngữ đó chính là các họa cảnh và họa tiết trang trí.

GS Hà Văn Tấn gắn bó với nghề dạy học gần nửa thế kỷ qua. Nhà nước ta đã phong tặng ông danh hiệu cao quí Nhà giáo nhân dân.

(+) Trong số ấy nay chỉ hai người còn sống là Nguyễn Tài Cẩn (sinh năm 1926) và Hà Văn Tấn (sinh năm 1937).

HÀM CHÂU

contentlength: 10527
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Văn Hóa NỔI BẬT

Con ngoại tình vì vợ vô sinh, lá thư 30 năm trước của mẹ chồng khiến tất cả câm nín

Đêm đó tôi đã lang thang ở ngoài cả đêm. Tôi đi đến những nơi hai đứa từng hẹn hò khi đang yêu và nhớ về ngày xưa. Sau tất cả, sáng hôm sau trở về, tôi quyết định sẽ coi như mình không biết chuyện kia và giữ kín không để ai biết.

Bài được quan tâm

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..