Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực là một trong những vấn đề trung tâm, cốt lõi của lý luận văn học, được quan tâm nghiên cứu từ thời cổ đại đến nay.

1. Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực là một trong những vấn đề trung tâm, cốt lõi của lý luận văn học, được quan tâm nghiên cứu từ thời cổ đại đến nay. Nhận thức bản chất mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng đối với sáng tạo và tiếp nhận văn học.

Ở Việt Nam, quá trình hiện đại hóa lý luận văn học diễn ra trong điều kiện lịch sử, văn hóa đặc biệt của thế kỷ XX, gắn liền với những cuộc kháng chiến vệ quốc, vì vậy, mối quan hệ giữa văn học và hiện thực chưa có điều kiện được nghiên cứu, nhận diện thường xuyên và đầy đủ. Sau năm 1986, đất nước bước vào công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, lý luận văn học Việt Nam đã có bước phát triển mới, trong đó vấn đề mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đã được kiến giải đa dạng, linh hoạt hơn. Tuy nhiên, trong không gian văn hóa, tri thức đa dạng và cởi mở, cùng với sự tiếp xúc ngày càng sâu rộng với văn học thế giới, nhiều lý thuyết văn học đã được giới thiệu và tiếp nhận ở nước ta, khiến cho thực tiễn tồn tại hai xu hướng lý thuyết đối lập, hoặc phủ nhận mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, hoặc quá đề cao vai trò của hiện thực đối với sáng tạo, cứng nhắc trong kiến giải mối quan hệ này. Vì vậy, vấn đề mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cần phải được tiếp tục đặt ra và nghiên cứu một cách hệ thống, sâu sắc hơn nữa. Trong bài viết này, chúng tôi xem xét quan niệm của lý thuyết ký hiệu học văn hóa về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. 

2. Văn học là một hình thức giao tiếp liên chủ thể, trong đó mỗi tác phẩm văn học là một sự kiện giao tiếp giữa những chủ thể giao tiếp và bức tranh thế giới được nói tới bằng hệ thống ký hiệu. Abrams khi xem xét mối quan hệ giữa văn học với thế giới, tác giả, người đọc đã đề cập đến bốn khuynh hướng lý luận tồn tại trong lịch sử: “tác phẩm với thế giới: thuyết bắt chước, sau này là phản ánh; tác phẩm với người đọc: thuyết giáo huấn, sau này là tiếp nhận; tác phẩm với tác giả: thuyết biểu hiện; tác phẩm với chính nó: thuyết khách quan, sau này là cấu trúc, kí hiệu, ngôn ngữ, văn bản”(1). Sự cắt rời từng mối quan hệ để xem xét sẽ không lý giải đầy đủ bản chất của văn học. Với những thành tựu của ngôn ngữ học, thông diễn học, mỹ học tiếp nhận,... vấn đề văn học là một hình thức giao tiếp đã được thống nhất trong lý luận văn học hiện đại, mặc dù cách tiếp cận những nội dung cụ thể của mô hình này còn rất phức tạp. Mô hình giao tiếp phổ biến được Jakobson đề xuất bao gồm 6 thành phần: người phát, người nhận, thông tin (văn bản), mã (ngôn ngữ), ngữ cảnh và sự tiếp xúc, theo cơ chế: “người phát diễn đạt thông tin nhờ sự trợ giúp của ngôn ngữ và có tính đến ngữ cảnh, anh ta chuyển thông tin ấy cho người nhận thông qua kênh tiếp xúc”(2). Mô hình này đã bị phê phán trên nhiều phương diện(3). Trường phái ký hiệu học văn hóa Tartu – Moskva mà đại diện là Iu.M. Lotman xác lập quan điểm mô tả các quá trình ký hiệu học theo hướng chỉnh thể, khẳng định chỉ khi nào được bao bọc trong một ký hiệu quyển, ký hiệu mới hoạt động. Trong hệ thống ký hiệu quyển, giao tiếp được duy trì, và đó là quá trình phiên dịch liên tục, giải mã thông tin giữa người phát – người nhận như những chủ thể ký ức. Văn bản văn học là một cấu trúc ký hiệu học đa tầng bậc, phức tạp. “Một văn bản đa tầng và tạp chủng về phương diện ký hiệu học sẽ không còn là một thông tin sơ giản chuyển từ người phát tới người nhận, mà có khả năng gia nhập vào các quan hệ phức tạp với cả ngữ cảnh văn hóa bao bọc quanh nó, lẫn công chúng độc giả. Tìm được khả năng kết tụ thông tin, văn bản chiếm hữu, sở đắc ký ức. Đồng thời, nó có được phẩm chất mà Héraclite gọi là “lời tự lớn lên”. Ở giai đoạn làm phức tạp hóa cấu trúc ấy, văn bản có được những phẩm chất của một tổ chức trí tuệ: nó không chỉ chuyển tải một thông tin được đưa từ bên ngoài vào đó, mà làm thay đổi thông tin và tạo ra những thông tin mới. Trong những điều kiện ấy, chức năng giao tiếp – xã hội của văn bản sẽ trở nên đặc biệt phức tạp”(4). Theo Lotman, các chức năng ấy thể hiện rõ nét qua 5 quá trình: giao tiếp giữa người phát và người nhận; giao tiếp giữa cử tọa và truyền thống văn hóa; giao tiếp của người đọc với chính bản thân mình; giao tiếp giữa người đọc với văn bản; giao tiếp giữa văn bản với ngữ cảnh văn hóa(5). Như vậy, sự vận động các quan niệm đến ký hiệu học văn hóa đã vượt lên mô hình giao tiếp khởi đi từ F. de Saussure đến các nhà hình thức chủ nghĩa, rằng văn bản chứa đựng ý nghĩa sẵn có, được chuyển từ người phát đến người nhận với sự chính xác tối đa. “Các công trình nghiên cứu văn bản văn hóa cho phép rút ra thêm một chức năng nữa của các hệ thống ngôn ngữ và, ứng với nó, các văn bản. Ngoài chức năng giao tiếp, văn bản còn có chức năng tạo nghĩa, do nó hoạt động không giống như một bao bì đựng nghĩa thụ động, mà như một cỗ máy sinh nghĩa”(6). Với quan niệm này, nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và hiện thực về bản chất là xem xét các cơ chế kiến tạo bức tranh thế giới ký hiệu học, cơ chế tạo nghĩa của văn bản. 

3. Thế giới ký hiệu học về hiện thực trong tác phẩm văn học có tính nội tại trong tương quan với hiện thực bên ngoài văn bản. M.M. Bakhtin trong công trình Vấn đề thể loại lời nói đã đặt vấn đề nghiên cứu đời sống của lời nói, xem phát ngôn như đơn vị thực tế của giao tiếp lời nói. Theo Bakhtin, cấu trúc của phát ngôn có ba đặc điểm: có ranh giới rõ rệt; tính hoàn kết đặc biệt của phát ngôn; tính đối thoại nội tại. Theo đó, mỗi một phát ngôn được xác định ranh giới dứt khoát, nghiêm ngặt, ứng với sự thay đổi các chủ thể lời nói, bao hàm trong nó cái mở đầu tuyệt đối và cái kết thúc tuyệt đối. Phát ngôn có mối quan hệ bền chặt, từ trong bản chất với những phát ngôn trước và sau nó. Chính tính chỉnh thể hoàn kết đặc biệt của phát ngôn đảm bảo cho sự hồi đáp ở phát ngôn tiếp theo. Những tư tưởng về thể loại lời nói của Bakhtin đã gặp gỡ ký hiệu học văn hóa khi xem văn bản là đối tượng nghiên cứu trung tâm, đồng thời mở ra những khả năng mới mẻ trong việc nghiên cứu bản chất mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Với tính hoàn kết đặc biệt của tác phẩm văn học, ngôn ngữ tự nhiên được sử dụng trong tác phẩm như là chất liệu ký hiệu và mang những phẩm chất mới. Bakhtin đã phân định giữa các thể lời nói nguyên sinh (ngôn ngữ tự nhiên, đơn giản) với lời nói thứ sinh (ngôn ngữ nghệ thuật, phức tạp). Theo đó, “trong quá trình hình thành, chúng hấp thụ và nhào nặn lại các thể rất khác nhau của loại lời nói nguyên sinh (đơn giản) vốn được ra đời trong những điều kiện giao tiếp trực tiếp bằng lời. Khi đã trở thành một bộ phận của các thể loại lời nói phức tạp, các thể loại lời nói nguyên sinh tự biến đổi trong đó và có một đặc điểm đặc biệt: chúng đánh mất mối quan hệ trực tiếp với thực tại hiện thực và những phát ngôn lạ trong thực tế, chẳng hạn, lời thoại của đối thoại sinh hoạt và thư tín trong tiểu thuyết, trong khi giữ lại hình thức và ý nghĩa sinh hoạt trên bề mặt của nội dung tiểu thuyết, chúng chỉ có thể nhập vào thực tại hiện thực qua tiểu thuyết trong tính chỉnh thể của nó, tức nhập vào thực tại như một sự kiện của đời sống văn học, nghệ thuật, chứ không phải sự kiện của đời sống thường nhật. Tiểu thuyết trong chỉnh thể của nó là một phát ngôn giống như lời đối đáp trong đối thoại sinh hoạt hoặc một lá thư của cá nhân (nó cùng có chung một bản chất với chúng), nhưng khác với chúng, đây là phát ngôn thứ sinh (phức tạp)”(7). Chính bởi sự thu hút, biến đổi các thể loại lời nói nguyên sinh trong tổng thể cấu trúc của lời nói thứ sinh – lời nói mang tính quan niệm, tư tưởng hệ, giao tiếp trong văn học đồng thời tồn tại hai kênh: kênh ngôn ngữ và kênh hình tượng, ngôn ngữ tự nhiên phục vụ ngôn ngữ hình tượng. Hình tượng nghệ thuật được hiểu như là một hệ thống ký hiệu quan trọng của tác phẩm văn học: “ngôn ngữ (văn bản) là cái biểu đạt của hình tượng, đến lượt mình hình tượng chuyển thành cái biểu đạt của tư tưởng, tìm cảm”(8). Từ cách hiểu hình tượng văn học như là đối tượng ngôn ngữ quan trọng nhất của sáng tạo văn học (với ý nghĩa là cái biểu đạt tư tưởng, tình cảm) dẫn đến quan niệm, thế giới trong tác phẩm văn học có tính độc lập tương đối, cản trở khả năng quy chiếu đứt mạch đối với hiện thực. Văn học sử dụng chất liệu của hiện thực nhưng chất liệu ấy được thu hút, biến đổi, bộc lộ ý nghĩa trong chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm. Thế giới trong tác phẩm tự nó tạo thành một đường biên của sân chơi, nơi những nhân vật (bao hàm cả ngôn ngữ) vận hành theo luật chơi đã được quy ước. 

4. Hiện thực trong tác phẩm văn học đóng vai trò chất liệu ký hiệu học, vì vậy, mối quan hệ giữa văn học và hiện thực luôn luôn là sự phiên dịch. “Tác phẩm nghệ thuật là mô hình hữu hạn của một thế giới vô hạn. Hẳn là vì, về nguyên tắc, tác phẩm nghệ thuật là sự phản ánh cái vô cùng trong cái hữu hạn, cái chỉnh thể trong một trường đoạn, cho nên, không thể kiến tạo ra tác phẩm giống như là sự sao chép đối tượng trong những hình thức vốn có của nó. Nó là sự phản ánh một hiện thực này vào một hiện thực khác, có nghĩa, nó bao giờ cũng là sự phiên dịch”(9). Ngôn ngữ, với tính chất ký hiệu của nó trở thành hiện thực của tư duy. Con người tư duy thực chất không bao giờ chạm được vào hiện thực mà chỉ là tư duy trên cơ sở những ký hiệu về hiện thực. Bởi thế, trong quá trình sáng tạo, ngôn ngữ đã gián cách nhà văn ra khỏi thế giới hiện tồn, đồng thời là phương tiện hiện thực hóa thế giới tinh thần, tư tưởng của người sáng tạo. Quá trình này, nhà văn không chỉ đối diện với “tính ngoan cố” của ngôn ngữ mà còn đối diện với vô vàn những yếu tố khác (vô thức, những kiềm tỏa vô hình từ bối cảnh lịch sử, văn hóa và thậm chí từ người đọc tiềm ẩn tồn tại suốt quá trình viết,...). Đến khi tác phẩm thành hình, tồn tại dưới dạng văn bản, người đọc tham gia quá trình hiện thực hóa, tái diễn giải ý nghĩa của tác phẩm. 

5. Từ việc xác định văn học như một quá trình giao tiếp ký hiệu học liên chủ thể và tác phẩm văn học là một hình thức mô hình hóa hiện thực, ký hiệu học văn hóa đặc biệt nhạy cảm với cơ chế trò chơi. Trò chơi đã được nghiên cứu từ thời cổ đại đến nay. Trò chơi (game), sự chơi (play) được xem là những nhân tố cấu thành đặc biệt và không thể tách rời với đời sống con người. Với những chỉ dẫn, luật lệ, khuôn mẫu, trò chơi được sáng tạo với mục đích gián cách, giải thoát con người (với vai trò người chơi) khỏi tình thế hiện tồn, giải phóng năng lực thể chất và trí tuệ. Sự “quên lãng tạm thời” trong phạm vi trò chơi và sự chơi, vì vậy mang ý nghĩa văn hóa và nhân văn sâu sắc. Trong diễn ngôn lý luận, phê bình văn học thế giới thế kỷ XX, “trò chơi” là một trong những “từ khóa” có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Ở Việt Nam, lý thuyết trò chơi đã bước đầu được giới nghiên cứu giới thiệu, tiếp nhận và vận dụng. Việc xem văn học mang bản chất trò chơi là vấn đề còn nhiều ý kiến trái chiều và cần được tiếp tục nghiên cứu, lý giải. Tuy nhiên, có thể khẳng định sự tương hợp giữa cơ chế trò chơi với việc xem xét văn học như một quá trình; sự tương hợp giữa cơ chế trò chơi và sự kiến tạo, giải nghĩa văn bản văn học hay sự tương hợp giữa cơ chế trò chơi và cơ chế mô hình hóa hiện thực trong tác phẩm văn học. “Các văn bản hư cấu cũng dùng cùng những cơ chế quy chiếu như các sự sử dụng ngôn ngữ mà không hư cấu, để quy chiếu về các thế giới hư cấu coi như những thế giới có thể có. Độc giả được đặt vào bên trong thế giới của sự hư cấu và trong thời điểm diễn ra trò chơi, họ coi thế giới ấy là thực, cho đến lúc nào nhân vật bắt đầu vẽ những vòng tròn hình vuông, điều này phá vỡ giao ước về đọc, sự “tự nguyện đình chỉ lòng hoài nghi” trứ danh”(10). A.E. Makhov trong công trình Thi pháp học – Từ điển thuật ngữ và khái niệm thông dụng do N.D. Tamarchenko chủ biên khẳng định: “Trong việc tạo ra tình huống trò chơi (khiến ta nhớ tới “hiện thực ảo” của văn học), có hai thủ pháp thường được sử dụng là mô phỏng (imitation) và tổ hợp (combination) – hoán vị và kết hợp các yếu tố có sẵn từ một tổ hợp nào đó theo những luật lệ nhất định. Mô phỏng và tổ hợp là hai bình diện quan trọng bậc nhất của trò chơi, ở một mức độ nào đó, các bình diện ấy đối lập nhau: nếu trò chơi – mô phỏng tạo ra một tình huống ảo mang tính chỉnh thể nào đó và do đó làm cho trò chơi hiện lên ở bình diện cấu trúc của nó, thì trò chơi – tổ hợp, các tổ hợp tạm thời của các yếu tố được tháo rời thành nhiều bộ phận, rồi các bộ phận cấu thành này lại được nối kết với nhau theo kiểu mới, lại chứa đựng trong mình rất rõ các yếu tố giải cấu trúc”11. Như vậy, dù có những cách diễn giải khác nhau nhưng mô phỏng và tổ hợp (sắp đặt) là hai cơ chế cơ bản nhất chi phối, tạo ra hai loại hình mô hình hiện thực phổ biến tồn tại suốt chiều dài lịch sử văn học của nhân loại. Sự phát triển, vai trò của mô hình mô phỏng và tổ hợp được thể hiện khác nhau trong lịch sử văn học. Trước thế kỷ XX, với quan niệm tác phẩm như một chỉnh thể hoàn kết, mô hình tổ hợp có vai trò rất hạn chế. Đến thế kỷ XX, “việc cự tuyệt cấu trúc tác phẩm theo kiểu đơn tuyến định sẵn dẫn tới sự khước từ lập trường đầy quyền uy của tác giả - đấng hóa công, cũng giống như “sự lưỡng lự mang tính đặc thù” quan tâm đặc biệt tới “ý thức chơi” (Gadamer), khi đã đưa trò chơi tổ hợp vào văn bản, tác giả cũng thể hiện sự “lưỡng lự” (thật hoặc giả vờ), nhường cho độc giả quyền lựa chọn xu hướng vận động tiếp theo, trong trò chơi, rốt cuộc, mỗi “nước đi” của văn bản trở thành ngã ba ngã bẩy tạo cho độc giả những lựa chọn mới”(12). 

6. Đến đây chúng ta buộc phải đối mặt với một vấn đề không thể lẩn tránh: cơ chế nào bảo đảm duy trì mối liên hệ giữa văn học và hiện thực? Bằng việc trở lại tìm hiểu nguyên nghĩa mimèsis trong tư tưởng của Aristote và tính toàn diện bị bỏ rơi trong quan niệm ngôn ngữ học của F. de Sausure, Antoine Compagnon đã chỉ ra sự bấp bênh trong lập trường của các nhà cấu trúc, hậu cấu trúc luận mà Jakobson, Barthes và Riffaterre là những đại diện tiêu biểu. Theo đó, nguyên nghĩa mimèsis phong phú, phức tạp hơn nhiều so với tiền giả định về sự “mô phỏng”, “sao chép” trong những công kích triệt để của các tác giả này(13). Khi xem xét mimèsis như là đặc tính chung của thi ca, Aristote không phân tích sự thể hiện câu chuyện như là sự mô phỏng hiện thực, mà như là sự sản sinh một hiện tượng nghệ thuật nhân tạo. Mặt khác, trong công trình Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F. de Sausure, “chưa bao giờ gợi ý rằng lời nói là võ đoán. Nhưng Barthes thản nhiên thực hiện bước nhảy từ một tính quy ước hạn hẹp, nhằm vào bản chất võ đoán của kí hiệu ngôn ngữ, đến một tính quy ước phổ quát, nhằm vào tính phi hiện thực của ngôn ngữ và thậm chí của cả lời nói, một tính quy ước tuyệt đối đến mức các khái niệm về sự tương ứng và sự chân thực mất đi mọi tính thích đáng. Rốt cuộc, bởi mọi mã đều là quy ước, thì các diễn ngôn không phải là tương ứng nhiều hay ít, mà đều là võ đoán hết”(14). Thực tế, F. Sausure phân biệt trục ý nghĩa và trục giá trị. Nếu như trục ý nghĩa biểu thị mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt thì trục giá bị biểu thị mối quan hệ giữa những cái biểu đạt (ký hiệu) với nhau. “Mệnh danh, đó là tách riêng ra trong một chuỗi liên tục: việc cắt một chất liệu liên tục ra thành những ký hiệu gián đoạn là võ đoán, theo nghĩa một sự chia cắt khác có thể diễn ra bởi một ngôn ngữ khác, nhưng điều ấy không có ý bảo rằng việc cắt rời này không nói về chuỗi liên tục nọ. Các ngôn ngữ khác nhau miêu tả khác nhau các sắc màu, nhưng đúng là tất cả chúng đều cắt ra cùng một cầu vồng bảy sắc ấy”(15). Như vậy, “không phải ngôn ngữ võ đoán, mà, chính xác hơn và tiêu biểu hơn, là mối liên hệ của phương diện ngữ âm và phương diện ngữ nghĩa của ký hiệu, của cái biểu đạt và cái được biểu đạt, theo nghĩa là bắt buộc và vô ý thức”(16). Từ đây, trên cơ sở đưa văn chương trở về với những đầu mối để chắp nối lại mối liên hệ với thực tại, Antoine Compagnon cho rằng: “Như vậy, trong hư cấu, diễn ra cũng những hành vi ngôn ngữ như trong thế giới: các câu hỏi được đặt ra, các mệnh lệnh được đưa ra, các lời hứa được giao ước. Nhưng đó là các hành vi hư cấu, được tác giả cấu tứ và kết hợp để cấu tạo nên một hành vi ngôn ngữ duy nhất có thực: bài thơ. Văn chương khai thác các đặc tính quy chiếu của ngôn ngữ, các hành vi ngôn ngữ của văn chương là hư cấu, nhưng một khi ta đã đi vào văn chương, đã yên vị ở đó, thì hoạt động của các hành vi ngôn ngữ hư cấu hệt như hoạt động của các hành vi ngôn ngữ có thực, ở ngoài văn chương”(17). Và đến đây, sự quy chiếu đối mặt với vấn đề: thế giới hư cấu quy chiếu về đâu? Ở đây, “suy tư về quy chiếu văn chương lại được mở ra trong khuôn khổ ngữ nghĩa học về các thế giới có thể có hoặc các thế giới hư cấu”(18). Thế giới trong tác phẩm văn học tồn tại như một thực tại riêng biệt, và đó là “một thực tại tiếp giáp với thực tại của các thế giới có thực. Theo truyền thống, các nhà triết học coi những con người hư cấu là không có phận vị thực thể, vậy tất cả các mệnh đề liên quan đến họ chẳng đúng cũng chẳng sai, mà chỉ là cấu thành không tốt và không thích hợp”(19). 

7. Những điều trình bày trên đây khẳng định, vấn đề tính chân thực trong tác phẩm văn học đến nay vẫn không hề mất đi tính thời sự của nó. Mỗi một quan niệm, lý thuyết văn học lại cho những tiêu chuẩn riêng để xác định tính chân thực của tác phẩm văn học. Từ những quan niệm của lý thuyết ký hiệu học văn hóa, có thể hiểu tính chân thực thể hiện trên cả bình diện cấu trúc, tức là hệ thống ký hiệu được tác giả sử dụng trong tác phẩm theo một nguyên tắc kiến tạo nhất định và bình diện ý nghĩa, tư tưởng của tác phẩm. Ở bình diện ký hiệu học, sự tương thích giữa hệ thống ký hiệu và nguyên tắc tổ chức trong tác phẩm quyết định tính chất chân thực của tác phẩm. Một tác phẩm tổ chức thế giới theo nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực thì những ký hiệu về ngôn ngữ, hành động, tâm lý, tính cách của nhân vật phải được tổ chức theo logic chặt chẽ. Trong khi đó, một tác phẩm theo nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo thì sự đan cài các yếu tố hiện thực với các yếu tố huyền ảo hoàn toàn tự do. Trong tác phẩm của Gabriel García Márquez, cái những sự kiện thường nhật hòa lẫn với cái huyền ảo. Không thể nói tác phẩm của Gabriel García Márquez không chân thực, bởi người đọc đã được đưa vào trong một sự tổ chức, ở mức độ đình chỉ sự hoài nghi đặc trưng của văn học hiện thực huyền ảo. Mặt khác, tính chân thực nằm ở tầm vóc của tư tưởng, khả năng kiến giải những vấn đề nhân sinh đặt ra trong tác phẩm. Văn học sẽ không tồn tại nếu nó không bắt nguồn từ những vấn đề của hiện thực đời sống. Sẽ là ảo tưởng nếu có ai đó nói rằng, văn học không liên quan đến hiện thực. Các tác giả cấu trúc và hậu cấu trúc luận khẳng định tính tự trị của văn bản văn học cũng như tìm các lối thoát khác cho nó thì cũng không hề phủ định văn học nói về những vấn đề của đời sống, về con người trong sự đối mặt với hoàn cảnh và với chính mình. Cái họ khước từ ở đây chính là sự quy chiếu văn bản về đời sống hiện thực mà thôi. Tư tưởng của nhà văn trong khám phá, kiến giải con người chính là sự thể hiện tập trung nhất tính chân thực và giá trị của tác phẩm văn học. Ở đây nảy sinh vấn đề, không thể dùng khái niệm tính chân thực để “phân biệt đối xử” với những tác phẩm được tổ chức theo nguyên tắc khác với chủ nghĩa hiện thực. Tính chân thực không chỉ nằm ở bản thân ký hiệu, chất liệu và nguyên tắc tổ chức chúng trong khuôn khổ tác phẩm với sự cam kết với độc giả. Tính chân thực và giá trị của tác phẩm văn học nằm ở chiều sâu tư tưởng, khả năng kiếm tìm những điểm tựa của con người trong cuộc sống.

--------------------------------------

1. Trần Đình Sử, Trên đường biên của lý luận văn học, Nxb Văn học, 2014, tr. 49.

2. Iu.M. Lotman, Kí hiệu học văn hóa, Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình Sử dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, tr. 53.

3. Trần Đình Sử, Sđd, Nxb Văn học, 2014, tr. 137 – 138.

4. Iu.M. Lotman, Sđd, Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình Sử dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, tr. 147.

5. M. Lotman, Sđd, Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình Sử dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, tr. 147-148.

6.M. Lotman, Sđd, Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình Sử dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, tr. 161.

7. Bakhtin, Vấn đề thể loại lời nói, Lã Nguyên dịch, in trong ‘Lí luận văn học những vấn đề hiện đại’, Nxb Đại học Sư phạm, 2012, tr. 11 – 12.

8. Trần Đình Sử, Sđd, Nxb Văn học, 2014, tr. 143.

9. Iu. M. Lotman, Kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, Lã Nguyên dịch, in trong ‘Lí luận văn học những vấn đề hiện đại’, NXB Đại học Sư phạm, 2012, tr. 155 – 156.

10. Antoine Compagonon, Bản mệnh của lý thuyết, Nxb Đại học Sư phạm, 2005, tr. 196.

11. A.E. Makhov, Trò chơi (trong văn học), Lã Nguyên dịch, https://languyensp.wordpress.com/

12. A.E. Makhov, Trò chơi (trong văn học), Lã Nguyên dịch, https://languyensp.wordpress.com/

13. Trần Đình Sử cũng đã dẫn ra các cách hiểu rất phong phú về khái niệm mimesis của Aristote trong công trình Trên đương biên của lý luận văn học, tr. 146. 

14. Antoine Compagonon, Bản mệnh của lý thuyết, Nxb Đại học Sư phạm, 2005, tr. 177.

15. Antoine Compagonon, Sđd, Nxb Đại học Sư phạm, 2005, tr. 176

16. Antoine Compagonon, Sđd, Nxb Đại học Sư phạm, 2005, tr. 175

17. Antoine Compagonon, Sđd, Nxb Đại học Sư phạm, 2005, tr. 194.

18. Antoine Compagonon, Sđd, Nxb Đại học Sư phạm, 2005, tr. 195.

19. Antoine Compagonon, Sđd, Nxb Đại học Sư phạm, 2005, tr. 195.

VietBao.vn
contentlength: 28851
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Văn Hóa NỔI BẬT

Con ngoại tình vì vợ vô sinh, lá thư 30 năm trước của mẹ chồng khiến tất cả câm nín

Đêm đó tôi đã lang thang ở ngoài cả đêm. Tôi đi đến những nơi hai đứa từng hẹn hò khi đang yêu và nhớ về ngày xưa. Sau tất cả, sáng hôm sau trở về, tôi quyết định sẽ coi như mình không biết chuyện kia và giữ kín không để ai biết.

Bài được quan tâm

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..