Maurice Maeterlinck

13:47 30/03/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Vở kịch nổi tiếng nhất của Maeterlinck - Con chim xanhđã trở thành một điển cố văn học, biểu tượng cho hạnh phúc tình yêu.

Maurice Maeterlinck (29/8/1862 - 6/5/1949)

Giải Nobel Văn học 1911

* Nhà viết kịch, nhà thơ, nhà triết học người Bỉ, viết bằng tiếng Pháp

* Nơi sinh: Ghent (Bỉ)

* Nơi mất: Nice (Pháp)

Maurice Maeterlinck

Maurice Maeterlinck (1862-1949)

Maurice Maeterlinck được trao giải nhờ những tác phẩm kịch mang nội dung phong phú, giàu tưởng tượng đầy thi vị. Ông thường sử dụng thể loại cổ tích bởi vì cổ tích là biểu hiện sâu nhất và giản dị nhất của nhận thức tập thể, khơi dậy những cảm xúc con người. Vở kịch nổi tiếng nhất của ông - Con chim xanhđã trở thành một điển cố văn học biểu tượng cho hạnh phúc tình yêu.

Maurice Maeterlinck có tên đầy đủ là Count Maurice Polidore Marie Bernhard Maeterlinck, sinh ra trong một gia đình giàu có. Sau khi tốt nghiệp trung học và đại học Luật tại Ghent, Maurice Maeterlinck lên tu nghiệp về luật tại Paris. Năm 1886, ông gia nhập Đoàn Luật sư Ghent, viết thơ, kí, phê bình cho các báo và tạp chí như Nước Bỉ trẻ (La Jeune Belgique), La Wallonie. Năm 1886 ông in truyện ngắn đầu tiên Cuộc tàn sát những kẻ vô tội; năm 1889 xuất bản tập thơ đầu tiên và vở kịch đầu tiên, được một nhà phê bình Pháp rất có thế lực là O. Mirbau hết lời khen ngợi. Từ đó ông bỏ nghề luật sư. Trong những năm tiếp theo, ông viết hàng loạt vở kịch cổ tích, tượng trưng, kịch rối... Năm 1895 M. Maeterlinck cưới vợ là Leblanc - diễn viên tham gia đóng các vở kịch của ông và năm 1896 sang Paris sinh sống. M. Maeterlinck ủng hộ nghệ thuật thuần túy, là một trong những đại diện tiêu biểu của trường phái tượng trưng cả trong thơ ca lẫn sân khấu, trong các tác phẩm của mình mở ra một thế giới đầy màu sắc, mộng ảo chống lại số phận khắc nghiệt. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Con chim xanh (1909) là một kiệt tác sân khấu kể về những cuộc phiêu lưu kiếm tìm hạnh phúc qua hình tượng con chim xanh. M. Maeterlinck đã cho nhà đạo diễn cách tân Nga vĩ đại Stanislavski được quyền dựng vở kịch này lần đầu tiên tại nhà hát Nghệ thuật Moxcva, được công chúng Nga và các nhà văn như M. Gorki, A. Blok đánh giá rất cao.

Năm 1911 Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao cho ông giải Nobel Văn học, đặc biệt đánh giá cao vở kịch Aglavaine và Sylysette (mặc dù ngày nay vở kịch này được ít người nhắc đến, trái ngược với vở Con chim xanh). Vì bệnh M. Maeterlinck không tới Thụy Điển dự lễ, Đại sứ Bỉ tại Pháp thay mặt ông đến nhận giải. Sau khi nhận giải Nobel, M. Maeterlinck được đề nghị trở thành thành viên Viện Hàn lâm Pháp nhưng ông từ chối vì không muốn bỏ quốc tịch Bỉ. Trong Thế chiến I, ông xin vào dân quân nhưng không được chấp nhận vì quá tuổi, và nhà văn đã thể hiện lòng yêu nước bằng hàng loạt cuộc nói chuyện tuyên truyền ở Châu Âu và Mỹ. Sau khi li dị vợ cũ, năm 1919 ông lấy vợ mới, cũng là một diễn viên đóng vai trong vở kịch Con chim xanh; tiếp tục viết báo, kịch. Bị đe dọa bởi chiến tranh Quốc xã, năm 1939 ông sang Bồ Đào Nha, rồi sang Mỹ; năm 1947 M. Maeterlinck trở về Pháp và qua đời tại đây năm 1949.

Ông được tặng bằng tiến sĩ danh dự và được nhà vua Bỉ phong tước hiệu Bá tước (1932).

Việc nghiên cứu triết học từ Plotinus đến R. W. Emerson khiến ông đi sâu hơn vào chủ nghĩa thần bí. Kịch của ông thể hiện những hệ thống triết lí hình thành một cách trực giác. Mô típ cái chết thường xuyên hiện diện trong tác phẩm của ông ở giai đoạn cuối mang thêm màu sắc của chủ nghĩa thần bí. M. Maeterlinck được coi là một trong những người khởi đầu của sân khấu kịch phi lí; nhiều vở kịch của ông đến ngày nay vẫn được dàn dựng ở nhiều nước trên thế giới.

* Tác phẩm:

Cuộc tàn sát những kẻ vô tội (Le massacre des innocénts, 1886), truyện.

Vườn kính (Serres chaudes, 1889), tập thơ.

Công chúa Maleine (La princesse Maleine, 1889), kịch.

Người đột nhập (L"intruse, 1890), kịch [The intruder].

Những người mù (Les aveugles, 1890), kịch [The blind].

Bảy nàng công chúa (Les sept princesses, 1891), kịch.

Pelleas và Mélisande (Pelléas et Mélisande, 1892), kịch.

Alladine và Palomides (Alladine et Palomides, 1894), kịch.

Ở đó phía trong (Interieur, 1894), kịch.

Cái chết của Tintagiles (La mort de Tintagiles, 1894), kịch.

Kho báu của những kẻ nhẫn nhục (Le trésor des humbles, 1896), luận văn mĩ học.

Mười hai bài hát (Douze chansons, 1896), thơ.

Aglavaine và Selysette (Aglavaine et Selysette, 1896), kịch cổ tích.

Khôn ngoan và định mệnh (Le sagesse et la destinée, 1898), khảo luận triết học.

Xơ Beatrice (La soeur Béatrice, 1900), kịch.

Đời sống loài ong (La vie des abeilles, 1900), khảo luận.

Ariane và gã Râu Xanh (Ariane et Barbe-Bleue, 1901), kịch.

Monna Vanna (1902), kịch.

Ngôi đền vùi lấp (Le temple enseveli, 1902) [The buried temple].

Joyselle (1903), kịch.

Điều kì diệu của thánh Antoine (Le miracle de Saint-Antoine, 1903), kịch.

Trí tuệ của hoa (L"intelligence des fleurs, 1907).

Con chim xanh (L"oiseau bleu, 1909), kịch.

Thị trưởng Stilemonde (Bourgmestre de Stilemonde, 1919) [The burgomaster of Stilemonde].

Lễ đính hôn (Les fiançailles, 1918), kịch.

Miền tiên cảnh lớn (La grande féerie, 1924), tiểu luận.

Tai họa đã qua (Le malheur passe, 1925), kịch.

Đời sống của mối (La vie des termites, 1926), tiểu luận.

Đời sống không gian vũ trụ (La vie de l"espase, 1928), tiểu luận.

Đời sống loài kiến (La vie des fourmis, 1930), tiểu luận.

Quy luật vĩ đại (La grande loi, 1933), tiểu luận.

Trước mặt Chúa (Devant Dieu, 1937), tiểu luận.

Thế giới khác, hay khớp vũ trụ (L"autre monde ou le cardan stellaire, 1942), tiểu luận.

Những bong bóng xanh (Những hồi ức hạnh phúc) (Bulles bleues (souvenirs heureux), 1948), hồi kí.

* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

Con chim xanh (kịch), Nguyễn Trường Lịch dịch, NXB Giáo Dục, 1997.

Nếu ngày kia anh trở lại (thơ), Phạm Nguyên Phẩm dịch, in trong tập 100 bài thơ Pháp, NXB Giáo Dục, 1998.

Chiếc mũ trí tuệ (truyện ngắn), Dương Thu Ái dịch, in trong Tuyển tập truyện nổi tiếng thế giới, NXB Văn hóa - Thông tin, 2004.

Tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển

C.D. af Wirsén, Thư kí thường trực Viện Hàn lâm Thuỵ Điển

Năm nay, các vị có thẩm quyền đã đề cử một số tác giả làm ứng cử viên giải Nobel văn chương. Không ít người trong số đó đã trình làng những tác phẩm tuyệt diệu và có giá trị khác thường đến nỗi khó lòng đánh giá được hết giá trị của chúng. Khi quyết định trao giải thưởng năm nay cho Maurice Maeterlinck, một tác giả đã từng được đề cử và xem xét kĩ lưỡng trong những lần trước, Viện Hàn lâm Thụy Điển căn cứ trước hết vào tính độc đáo khác thường và sâu sắc trong tài năng văn chương của ông, một văn phong khác hẳn các hình thức văn học thông thường. Tính cách duy tâm của tài năng này đã được nâng lên một tầm vóc tâm linh hiếm có và huyền bí, làm rung động những gì tế vi và ẩn mật trong chúng ta. Con người phi thường này chắc chắn không phải là một người nông cạn, và, hãy còn chưa tới tuổi năm mươi, ông vẫn tiếp tục viết hoàn toàn theo giọng riêng của mình, với khả năng kì diệu có thể đồng thời vừa bí ẩn, vừa sâu sắc lại vừa đại chúng, qua một cách thể hiện đầy lôi cuốn. Đọc tác phẩm của ông, đôi khi ta liên tưởng đến lời của Sophocles "Con người chỉ là chiếc bóng phù du" hoặc của Calderon "đời là giấc mộng". Tuy vậy Maeterlinck hiểu rất rõ làm thế nào diễn dịch những nét đẹp của đời sống tinh thần chúng ta bằng sức mạnh của một nhà thấu thị. Những gì mà trong hoàn cảnh thông thường vẫn tiềm tàng trong chúng ta, thuộc về những tầng sâu bí ẩn trong bản thể chúng ta, ông đánh thức dậy bằng cú gõ của chiếc đũa thần, và ta chợt hiểu rằng ông đã gợi lên những gì thực nhất trong bản thể sâu kín của chúng ta, những gì xưa nay vẫn khuất trong cõi u minh huyền bí. Ông làm việc đó một cách chẳng hề lên gân, màu mè hay kiểu cách, mà với một tính xác thực không thể bàn cãi và một sự tinh tế cổ điển, dẫu cho hành động và cảnh trí thường mơ hồ - giống như trong kịch rối bóng Trung Hoa - nhưng lại rất hoà hợp với sự tinh tế kì diệu trong thơ của ông. Tuy là truyện truyền thuyết và huyền thoại, nhưng đối thoại rất được chú trọng. Trên nền nhạc thì thầm, nhà thơ đưa ta đến cõi bất ngờ trong bản thể sâu xa của chúng ta, và ta cảm nhận cùng Goethe rằng “Alles Vergongliche/Ist nur ein Gleichnis” (Vạn sự phù du/chỉ là một ẩn dụ). Chúng ta linh cảm rằng ngôi nhà thực sự của mình ở đâu đó rất xa, không nằm trong giới hạn của cuộc sống trần thế. Chúng ta hầu như không bao giờ có thể vượt qua linh cảm này với Maeterlinck, mặc dù thơ của ông cũng thoáng cho ta thấy những khoảng cách khó lòng vươn tới được.

Maurice Maeterlinck sinh năm 1862 tại Ghent trong một gia đình khá giả. Ông được đào tạo tại trường dòng Tên (Jesuit) ở Saint-Barbel. Ông không thích trường này, nhưng chắc chắn ngôi trường có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tinh thần của ông và hướng ông theo con đường thần bí. Sau khi ra trường và thi đỗ tú tài, Maeterlinck theo học luật và sinh cơ lập nghiệp ở Ghent bằng nghề này để chiều theo ý nguyện của cha mẹ. Tuy nhiên, theo Gerard Harry, người viết tiểu sử của ông, Maerterlinck chỉ thành công trong việc chứng tỏ rằng mình không thích hợp với nghề luật, bởi ông có “những nhược điểm may mắn” khiến ông hoàn toàn không hợp với những vụ việc cãi cọ vụn vặt và đọc diễn văn trước toà án. Văn học có sức lôi cuốn lớn lao đối với ông. Sự lôi cuốn này càng tăng trong thời gian ông ở Paris và làm quen với nhiều nhà văn trong đó có Villiers de l’Isle Adam, người rõ ràng đã có ảnh hưởng rất lớn đối với ông. Paris mê hoặc ông đến mức ông đã quyết định ở lại lập nghiệp, đó là năm 1896. Tuy nhiên, đô thành rộng lớn này không thực sự là nơi phù hợp để một tâm hồn trầm mặc và cô đơn có thể định cư lâu dài. Ông chỉ thỉnh thoảng tới đây để gặp các chủ bút, còn mùa hè ông thích sống ở Saint-Wandrille, một tu viện Normand cổ mà ông đã mua và cứu khỏi bị tàn phá. Mùa đông, ông tìm nơi trú ẩn tại thành phố Grasse ấm áp, một nơi nổi tiếng về các loài hoa.

Tác phẩm đầu tiên của Maurice Maeterlinck được xuất bản là một tuyển tập thơ mỏng mang tên Móng vuốt sắc (1889) (Serres chaudes). Những áng thơ dằn vặt này là một bất ngờ ngoài những gì người ta chờ đợi từ bản tính thâm trầm điềm tĩnh của ông. Cùng năm ấy (1889) ông cho xuất bản câu chuyện bi thảm La Princesse Maleine (Công chúa Maleine). Đó là một câu chuyện u buồn, khủng khiếp và đơn điệu một cách có dụng ý bởi những tình tiết cố tình lặp đi lặp lại nhằm tạo ấn tượng về thời gian kéo dài không dứt. Nhưng những yếu tố thần tiên hết sức cuốn hút lại ngự trị toàn vở kịch, được viết bằng một phong cách mạnh mẽ mà người đọc không thể ngờ từ tác giả của tập thơ Móng vuốt sắc. Dù sao đi nữa, đây vẫn là một tác phẩm nghệ thuật quan trọng. Công chúa Maleine đã được Octave Mirbeau ca ngợi hết lời trong tờ Le Figaro, và từ đó Maurice Maeterlinck không còn là một tác giả vô danh. Sau đó, ông cho ra đời một loạt sáng tác bi kịch. Chuyện kịch hầu hết xảy ra ở những thời đại không thể xác định và ở những nơi không có tên trong bản đồ. Cảnh trí hầu hết là những lâu đài cổ tích với những đường ngầm bí mật, công viên đầy bóng mát, hoặc một ngọn hải đăng và đại dương ở phía xa xa. Trong quang cảnh ảm đạm ấy, những bóng người chuyển động, giấu mình sau tấm mạng như chính bản thân ý tuởng. Trong một số kịch phẩm toàn bích nhất, Maurice Maeterlinck chứng tỏ ông là nhà tượng trưng và nhà bất khả tri, nhưng không vì thế mà ta kết luận ông là người theo chủ nghĩa duy vật. Với trực giác và trí tưởng tượng của nhà thơ, ông cảm nhận được rằng con người không chỉ thuộc về thế giới hữu hình, và ông nói rõ rằng thơ ca sẽ không viên mãn nếu nó không khiến ta cảm nhận được hình chiếu của một thực tại bí ẩn và sâu xa hơn, khởi nguồn của mọi hiện tượng. Đôi khi, cái hậu cảnh (cái thực tại sâu xa) này đối với ông có vẻ mơ hồ và bí ẩn, nó giống như một tập hợp những năng lực huyền bí mà con người dễ dàng là nạn nhân, và rồi chính con người lại gán cho năng lực huyền bí đó một quyền năng hiển nhiên và tuyệt đối, nó thủ tiêu tự do của chúng ta. Nhưng trong nhiều vở kịch ông cố làm nhẹ bớt ý niệm này. Ông dành nhiều chỗ cho hi vọng và cho những ảnh hưởng thần bí hỗn hợp hơn là cho thực tại. Tư tưởng chính quán xuyến và luôn ngự trị trong sáng tác của ông, đặc biệt trong những tác phẩm hay nhất, đó là: cuộc sống tâm linh, cuộc sống đích thực, nội tại và sâu kín của con người, cuộc sống hiển lộ trong chính những hành vi tự phát nhất, ta phải tìm nó ở trong cõi bên kia tư duy và lí trí tư biện. Chính trong những vở kịch này, Maeterlinck tỏ ra xuất sắc trong việc tái hiện sức mạnh tưởng tượng gần như mộng du và tâm hồn mộng tưởng của một nhà thấu thị nhưng với sự chính xác của một nghệ sĩ điêu luyện. Đồng thời, sự biểu hiện được cách điệu hóa, kĩ xảo được đơn giản hoá đến tận cùng mà vẫn không phương hại đến cách hiểu vở kịch.

Giá như Maeterlinck có một lập trường thần luận dứt khoát hơn, điều đó sẽ ảnh hưởng tốt đến sáng tác của ông, bởi nhờ đó kịch của ông sẽ ít giống hơn với những vở kịch bóng. Dẫu vậy ta không nên xem nhẹ những sáng tạo thiên tài của ông. Giống như Spinoza và Hegel, vốn đều là những nhà tư tưởng vĩ đại chứ không phải nhà thần luận, Maeterlinck là một nhà thơ vĩ đại, dù quan niệm của ông về cuộc sống và hiện tượng không phải là quan niệm của một nhà thần luận. Ông không phủ nhận điều gì, mà chỉ đi tìm nguyên lí của hiện hữu ẩn giấu trong những cái bóng. Hơn nữa, chẳng lẽ thuyết bất khả tri không hề có lỗi ở chừng mực nào đó, bởi không một lí trí nào của con người có thể đề ra một ý niệm chính xác về nguồn gốc của hiện hữu, cái nguồn gốc mà trên nhiều phương diện chỉ có thể tiếp cận bằng trực giác và lòng tin? Và nếu nhân vật của Maurice Maeterlinck đôi khi chỉ là những tạo vật trong giấc mơ thì họ vẫn rất người, và Shakespeare đã không lầm khi nói:

Chúng ta chỉ là thế

Do những giấc mơ tạo thành, và đời nhỏ nhoi chúng ta

khép lại bằng giấc ngủ.

Hơn nữa, Maeterlinck hoàn toàn không phải một nhà luận chiến. Hầu hết tác phẩm của ông toát ra một linh hồn thuần khiết, đôi khi u buồn, chính vì vậy nét đẹp thơ ca ông vượt trội hơn rất nhiều tác giả mà quan niệm của họ về thế giới có lẽ dựa nhiều hơn vào ý niệm về cá nhân. Maurice Maeterlinck rõ ràng là một người từng cảm nhận và suy tư một cách sâu sắc. Chúng ta phải tỏ lòng kính trọng đối với những khao khát lẽ phải chân thành của ông, và ta phải nhớ rằng với ông, luôn luôn tồn tại một luật lệ và lẽ phải nội tại, nó điều khiển và hướng dẫn con người một cách nhất quán trong một thế giới nơi có quá nhiều sự việc dường như chỉ cổ súy cho sự bất công. Nếu Maurice Maeterlinck, người đã trải qua quá nhiều giai đoạn phát triển nội tại, đôi khi nói đến "trọng lực" (gravitation) như một lực điều khiển thế giới và rõ ràng muốn dùng nó để thay cho tôn giáo, ta hầu như không thể sai nếu hiểu rằng từ “trọng lực”, dựa trên tính biểu tượng trong ngôn từ của ông, được dùng như một biểu tượng để diễn tả qui luật của “trọng trường tôn giáo-đạo đức” (religio-ethical gravity) và với qui luật đó, muôn loài đều phải tuân theo, nếu có thể nói như thế.

Không đủ thời gian để liệt kê tất cả những tác phẩm của Maeterlinck. Tuy nhiên, nhân buổi lễ long trọng này, tôi cho phép mình được trình bày ngắn gọn một số tác phẩm điển hình của ông.

Sức mạnh huyền bí và tàn bạo của cái chết hiếm khi được thể hiện một cách sầu thảm hơn tác phẩm Người đột nhập (L"Intruse) của Maeterlinck (1890). Trong số những người có mặt xung quanh một bà mẹ đang bị ốm nặng, tất cả đều hi vọng bà sớm bình phục, duy chỉ có người ông bị mù nhận ra có tiếng bước chân nhẹ nhàng, lén lút trong vườn, nơi những cây bách bắt đầu kêu xào xạc và con hoạ mi đang hót bỗng im tiếng. Ông cảm thấy có một luồng hơi lạnh lướt qua, ông nghe tiếng lưỡi hái tử thần đang được mài dũa, ông biết rằng có một người vô hình đã lẻn vào ngồi giữa họ. Khi chuông đồng hồ điểm mười hai tiếng, bỗng có tiếng động giống như ai đó đột nhiên đứng dậy bỏ đi, và cũng ngay lúc đó người mẹ đang ốm trút hơi thở cuối. Người khách không mời và không ai tránh được vừa mới ghé qua. Điềm gở được mô tả bằng một sức mạnh và sự tinh tế phi thường. Vở kịch ngắn Những người mù (1890) (Les Aveugles) cũng miêu tả một tai hoạ được báo trước, có lẽ còn bi thương hơn. Những người mù đi theo người dẫn đường, một linh mục già đau ốm. Đến giữa khu rừng, họ phát hiện ra rằng đã lạc mất ông. Trên thực tế, người dẫn đường vẫn ở trong số họ, nhưng ông đã chết. Dần dần, những người mù cũng phát hiện ra ông đã chết. Bây giờ họ biết nương tựa vào đâu?

Trong tác phẩm Pelléas và Mélisande (1892) (Pelléas et Mélisande) và Alladine và Palomides (1894) (Alladine et Palomides), chúng ta gặp nhiều biến thể khác nhau về sức mạnh vô hạn của tình yêu, được Maeterlinck miêu tả bằng trí tưởng tượng tuyệt vời. Tình yêu đó bị ràng buộc bởi những mối quan hệ khác hay bị tác động của hoàn cảnh bên ngoài, không thể và sẽ không bao giờ có một kết thúc có hậu, mà bị bóp chết bởi một định mệnh nó triệt tiêu sức mạnh của con người.

Maeterlinck dành nhiều cảm hứng nhất cho tác phẩm Aglavaine et Sélysette (1896), một trong những viên ngọc sáng nhất trong nền văn học thế giới. Vở kịch này mang đậm nét u buồn nhưng lại chứa đựng những giá trị thơ ca lớn lao. Méléandre kết hôn với Sélysette dịu dàng và nhút nhát, nhưng lại đem lòng yêu cô gái Aglavaine và cũng được Aglavaine đáp lại. Đó là một tình yêu trong sáng, đã giúp họ vượt lên số phận chung. Nhưng Sélysette lại vô cùng đau khổ vì trái tim Méléandre không chỉ thuộc về cô. Người con gái dịu dàng ấy, với tấm lòng tận tụy quên mình, quyết định hi sinh bản thân vì hạnh phúc của chồng với Aglavaine. Nàng gieo mình qua ô cửa một toà tháp nhỏ, nhưng một phần của bức tường cũ bị vỡ vụn làm Sélysette rơi xuống, không phải xuống biển như nàng nghĩ mà xuống bãi cát trên bờ biển. Nàng bị thương và được mang về nhà. Khi kề bên cái chết, nàng vẫn không nghĩ đến bản thân, vẫn tha thứ cho họ, cố gắng làm Méléandre và Aglavaine tin rằng nàng bị ngã từ trên tháp xuống chỉ do vô tình. Trong bi kịch này, tác giả đã tô đậm trạng thái tâm hồn con người. Tất cả các nhân vật đều cao thượng và khoan dung. Aglavaine và Méléandre đều nhận ra rằng hạnh phúc mà họ theo đuổi phải trả giá bằng đau khổ của người khác thì thật phù phiếm và vô nghĩa. Họ cảm thấy bị hấp dẫn không cưỡng được về phía nhau, đấy hoàn toàn không phải họ đang buông mình cho những dục vọng thấp hèn, mà là họ hiến mình cho một sự lôi cuốn mạnh mẽ được tinh thần hoá. Họ đấu tranh chống lại số phận, một cuộc đấu tranh ngày một đau đớn bởi họ hoài nghi rằng liệu tình yêu giữa anh và em rốt cuộc sẽ thế nào, rồi cuối cùng tất cả sẽ dẫn họ đến hợp nhất trọn vẹn, điều mà họ tránh xa như tội lỗi. Những lời của Aglavaine thật đẹp: "Nếu có ai đó phải chịu đựng đau khổ, đó nên là chúng ta. Việc phải làm thì có hàng ngàn, nhưng em nghĩ, người ta chẳng mấy khi sai lầm khi cố làm khuây khoả một kẻ yếu hơn mình bằng cách hứng chịu đau khổ đó về mình". Vở kịch có sức hấp dẫn rất lớn được xếp vào hàng những sáng tác hay nhất của thế kỉ.

Aglavaine et Sélysette, tuyệt tác của Maeterlinck ra mắt năm 1896. Năm 1902, tác giả cho ra đời bi kịch Monna Vanna, một tác phẩm được nhiều người biết đến và đã được công diễn ở Thụy Điển. Vở kịch diễn ra trong bối cảnh thời hhục hưng ở Italia. Kết cấu của vở kịch rất rõ ràng và hoàn toàn thoát khỏi môtíp không - thời gian mơ hồ thường thấy trong nghệ thuật của Maeterlinck. Trong vở kịch, ý tưởng bi tráng về nghĩa vụ làm cơ sở cho hành động thuờng gây ra tranh cãi, với nhiều ý kiến trái ngược. Vở kịch rất táo bạo và thú vị về khía cạnh tâm lí, nhưng có lẽ Maeterlinck có sở trường hơn trong những vở kịch ngắn mang tính biểu tượng tinh tế, trong đó ánh sáng rực rỡ của ban ngày không ngự trị nhưng lại mở ra viễn cảnh kì diệu cho những linh cảm sâu kín nhất của tâm hồn con người.

Maurice Maeterlinck, một tác giả đa tài, đã viết những tác phẩm mang tính triết học, nếu không nói là những công trình thuần tuý triết học. Tiêu biểu là tác phẩm Kho báu của những người hèn kém (1896) (Le Trésor des humbles), một trong những công trình nghiên cứu đáng chú ý chứa đựng những trang viết đầy cảm hứng về Ruysbrock thần bí và về đời sống tâm linh. Chủ nghĩa duy tâm của Maeterlinck thể hiện rõ trong tác phẩm này, bằng một ngôn ngữ thơ ca mà chính ông gọi là thanh cao nhất, một thứ thơ ca mà, như ông nói, nhằm khai mở những con đường cốt yếu dẫn từ thế giới hữu hình đến thế giới vô hình. ở nhiều đoạn trong cuốn sách, ta bắt gặp ý tưởng đã nói ở trên, rằng phía sau bản ngã của ta còn có một bản ngã khác, và đó mới là bản thể đích thực của chúng ta. ý tưởng này có vẻ thần bí đối với những người kinh nghiệm chủ nghĩa; nhưng về thực chất nó cũng có lí như học thuyết của Kant về “tính dễ hiểu” (intelligibility) mà rốt cuộc cũng chính là nguồn gốc của tính duy nghiệm. Trong tác phẩm Ngôi đền bị chôn vùi (1902) (Le Temple enseveli), ta lại tìm thấy ý tưởng về một nhân cách vô hình, nền tảng của nhân cách hữu hình và nhân cách trần thế. Tuy nhiên, nếu qui kết Maeterlinck là theo thuyết định mệnh, người ta cũng nên nhớ lại tinh thần lạc quan rực sáng của ông trong tác phẩm Thông thái và định mệnh (1898) (La Sagesse et la destinée), ở đó số phận con người nằm trong chính con người và phụ thuộc vào cách người đó vận dụng ý chí. Sự thất bại của những nhân vật lịch sử vĩ đại được miêu tả ở đây là do lỗi lầm của chính họ hoặc xuất phát từ chỗ họ bị mất lòng tin ở chính bản thân, do những sai lầm, và trên thực tế là do những hành động ác, họ mất đi sức mạnh để có thể đương đầu giành thắng lợi trong những hoàn cảnh hiểm nghèo.

Năm 1900, La Vie des abeilles (Cuộc sống của loài ong) được xuất bản và gây tiếng vang lớn. Mặc dù Maurice Maeterlinck là người say mê nuôi ong và rất quen thuộc với cuộc sống của loài ong, nhưng ông không có ý viết luận án khoa học về vấn đề này. Sách của ông không phải một bản tóm tắt về lịch sử tự nhiên, mà là một công trình đậm chất thơ và nhiều suy tưởng, toàn bộ nội dung gần như một tuyên ngôn về sự kém cỏi của con người. Tác giả dường như muốn nói, thật vô ích khi muốn tìm hiểu xem liệu sự cộng tác kì lạ giữa đàn ong, sự phân chia công việc của chúng và cuộc sống xã hội của chúng có phải là sản phẩm của một đầu óc biết suy luận hay không. Gọi là “bản năng" hay trí thông minh" đều không quan trọng, bởi đó chỉ làm bộc lộ sự ngu dốt của chúng ta trong vấn đề đó mà thôi. Cái ta gọi là bản năng của loài ong có thể là một bản năng có tính vũ trụ, bắt nguồn từ một linh hồn vũ trụ. Người ta nghĩ ngay đến những vần thơ bất tử của Virgil về loài ong, trong đó ông viết rằng một nhà tư tưởng đã gán cho chúng những đặc tính thần thánh (divina mens), tư tưởng thần thánh và tâm linh thần thánh.

L"Intelligence des fleurs (1907) (Trí thông minh của loài hoa), một tác phẩm khác của Maeterlinck, là một tác phẩm rất hay trong đó ông miêu tả một cách táo bạo những loài cây có trí thông minh và sở thích riêng. Trong tác phẩm này, ta cũng tìm thấy một trí tưởng tượng thơ ca phong phú, và đôi khi có cả những suy tư thâm thúy.

Với sức mạnh sáng tạo dường như không bao giờ cạn kiệt, Maeterlinck đã soạn một bi kịch tưởng tượng cực kì cuốn hút vào năm 1903, Joyzelle, thể hiện chiến thắng vinh quang của tình yêu chung thủy với bản tính của mình trước bao nhiêu thử thách và buồn đau. Vở Marie Magdeleine (1909) khắc hoạ sự thay đổi trong tâm hồn một kẻ phạm tội biết ăn năn, sự đấu tranh mãnh liệt của cô nhằm chiến thắng sự cám dỗ mạnh hơn khi nó chạm vào đúng tình cảm cao thượng nhất trong bản tính của cô, kêu gọi cô hi sinh bản thân và cuộc đời đạo hạnh mình vừa có được để cứu Messiah-Đấng cứu thế, trong khi cuộc đời đạo hạnh ấy lại do chính Messiah tạo ra cho cô. Nói cách khác, nó kêu gọi cô hi sinh chính công trình cốt tử của Messiah. Tiếp đó, ta được chiêm ngưỡng tác phẩm L"Oiseau bleu (1909) (Con chim xanh), một câu chuyện thần tiên rực rỡ chất thơ của tuổi thơ ấu, dù còn mang nặng suy tư nên không giữ vẹn được tính hồn nhiên thuần khiết. Than ôi! Con chim xanh của hạnh phúc chỉ tồn tại ở bên kia thế giới phù du, nhưng với những người có trái tim trong sáng, họ sẽ không bao giờ tìm kiếm nó một cách vô ích, bởi cuộc sống tình cảm và trí tưởng tượng của họ sẽ làm phong phú và thanh tẩy họ trong chuyến du hành qua xứ sở những giấc mơ.

Và như vậy, chúng ta quay lại điểm xuất phát, xứ sở của những giấc mơ. Có lẽ ta đã không sai khi nói rằng với Maurice Maeterlinck, toàn bộ thực tại trong thời gian và không gian, kể cả khi nó không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng, đều luôn luôn phủ một tấm màn dệt bằng những giấc mơ. Dưới tấm màn này ẩn giấu sự thật của hiện hữu, và một ngày nào đó, khi tấm màn ấy được lật lên, thực chất của mọi sự sẽ được khám phá.

Tôi đã cố gắng giải thích quan niệm của Maurice Maeterlinck về cuộc sống qua những tác phẩm của ông. Người ta không thể phủ nhận vẻ đẹp và sự thanh cao trong quan niệm ấy. Hơn nữa, nó lại được thể hiện dưới một hình thức thơ đặc sắc, lạ lùng và đôi khi kì dị, nhưng luôn luôn đầy hứng khởi.

Maurice Maeterlinck thuộc số những người "đặc tuyển" trong lĩnh vực thơ ca. Thị hiếu có thể đổi thay, nhưng sức cuốn hút của Aglavaine et Sélysette sẽ còn mãi. Ngày hôm nay, Thụy Điển, xứ sở của những saga và những bài hát dân gian, xin trao tặng phần thưởng cao quí cho nhà thơ, người đã làm chúng ta cảm nhận được sự rung động dịu dàng của giai điệu ẩn giấu trong trái tim con người.

  • Phạm Thanh Vân Tân Đôn dịch

Bản quyền bản dịch tiếng Việt bài Tuyên dương này thuộc Trung tâm Culture Globe.

Việt Báo
contentlength: 42944
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Văn Hóa NỔI BẬT

Cậu bé 8 tuổi qua đời vài giờ sau khi được chẩn đoán bị cúm

Chỉ vài ngày trước sinh nhật lần thứ 9, bé Chucky bắt đầu đổ bệnh. Gia đình đưa đi khám thì được bác sĩ chẩn đoán bị cúm thông thường, không ngờ rằng căn bệnh đã cướp đi sinh mạng của em vài giờ sau đó.

Bài được quan tâm

Bài viết khác

Xem tiếp >>

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..