Đổ hột có phải là một kỹ thuật đặc trưng Ca trù?

17:10 15/07/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Nếu như kỹ thuật đổ hột sử dụng độ rung của thanh hầu, thì đổ con kiến sử dụng độ ngắt của thanh hầu, đổ hột bị ngắt hơi, còn đổ con kiến phải giữ hơi, đổ hột lấy hơi ra ngoài, còn đổ con kiến lại vừa đẩy hơi ra ngoài vừa lấy hơi vào trong. Như vậy kỹ thuật đổ con kiến phức tạp hơn nhiều so với đổ hột.

> “Đổ hột là một kỹ thuật đặc trưng của ca trù”?

Như thế nào gọi là đổ hột?

Do hot co phai la mot ky thuat dac trung Ca tru
GS Trần Quang Hải

Có thể coi một định nghĩa đơn giản về đổ hột như sau: Đổ hột hay còn gọi là nảy hạt là một kỹ thuật thanh nhạc đặc biệt của dân ca Việt Nam, trong đó có sử dụng yếu tố rung của thanh hầu. Theo định nghĩa này thì chỉ khi hơi đưa ra phối hợp được với kỹ thuật ngắt đoạn ở thanh hầu thì mới được gọi là đổ hột, sở dĩ chúng tôi nói như vậy vì khi nói tới hát ca trù là người ta nghĩ ngay tới việc mím miệng rung trong cổ họng và bắn ra những âm thanh ư hự đứt đoạn liên tiếp và cho rằng đó là đổ hột. Nếu coi đó chính là đặc trưng hát ca trù thì rất lẫm lẫn.

Ông Nguyễn Hùng Vĩ – giảng viên khoa Văn học – Đh KHXH & NV, cũng đồng thời là một nhà nghiên cứu Quan Họ lâu năm, giải thích: Sở dĩ trong dân ca Việt Nam cần dùng đến đổ hột là vị thanh điệu tiếng Việt khác với người phương Tây. Kết cấu theo kiểu Phụ âm – nguyên âm – phụ âm như vậy trong khi nói bình thường thì không có vấn đề gì nhưng khi hát do thiếu mất phần đuôi của thanh điệu nên bắt buộc phải có một số kỹ thuật làm cho đầy và tròn tiếng thì bắt một chữ mới thật chuẩn, thật tròn. Kỹ thuật đổ hột hay nảy hạt sinh ra để làm nhiệm vụ như vậy.

Bên cạnh đó cũng có thêm một số các kỹ thuật khác để khắc phục nhược điểm trên như:

Xuyến: Tức là hát cho tròn trĩnh, mượt, đẹp và vững vàng
Dằn: Tiếng tròn, nặng và đều
Rẫy: tiếng dền, giòn
Vợi: Tiếng cao mà trong sáng

Trong Ca trù do nguyên tắc số một là phải hát tròn vành rõ chữ, các đào nương muốn nhả một chữ cho thật tròn trịa và sâu thì phải sử dụng rất nhiều kỹ thuật, trong đó có một kiểu kỹ thuật ém hơi: Tức là lấy hơi ém chữ đó xuống, sau khi xuống hết rồi lại đẩy lên cho hơi hết ra ngoài, như vậy vừa tạo nên độ sâu trong tiếng lại độ tròn trong chữ. Thực chất đó chỉ là một kỹ thuật của các đào nương Ca trù cổ xưa.

Kỹ thuật đổ hột có phải là đặc trưng của Ca trù?

Do hot co phai la mot ky thuat dac trung Ca tru
Hội thảo quốc tế về ca trù

Một số nhà nghiên cứu cho rằng kỹ thuật đổ hột là một đặc trưng Ca trù, tiêu biển là các ông Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, và một số nhà nghiên cứu trong nước như ông Đặng Hoành Loan hay Vũ Nhật Thăng. Nhưng hoàn toàn không giải thích, hay phân tích gì cho cụ thể. GS Trần Quang Hải dựa trên những chứng cứ khi dùng máy đo thanh học qua giọng hát của Nguyễn Thuý Hoà (Ca trù Thái Hà) và nghệ nhân Nguyễn Thị Kim (Ca trù Thanh Hoá). Tuy vậy hầu như trong bảng thanh phổ qua việc đo giọng hát của nghệ nhân Nguyễn Thị Kim chúng ta không thấy có dấu hiệu của kỹ thuật đổ hột trong Ca trù như những gì ông Trần Quang Hải chứng minh tại Viện âm nhạc (28/6) khi thuyết trình về kỹ thuật Đồng song thanh với sự minh hoạ của nhóm Ca trù Thái Hà.

Theo đánh giá của chúng tôi quan điểm của GS Trần Quang Hải có rất nhiều chỗ sơ hở:

Thứ nhất: Ông Trần Quang Hải mới chỉ chứng minh có kỹ thuật đổ hột trong giọng hát của đào nương ngày nay chứ không chứng minh được kỹ thuật đổ hột trong các mẫu giọng hát của các đào nương trước đây. Trong khi đáng lẽ ra phải chứng minh được sự thống nhất, liên tục trong việc đổ hột của các đào nương trước và bây giờ thì ông Hải lại không làm được thế.

Thứ hai: Số mẫu phân tích ông Trần Quang Hải đưa ra quá ít (2 đào nương) chưa đủ độ tin cậy, điều này theo một cách hiểu logic thì xác xuất sai sẽ rất nhiều. Trong khi đó trong 2 mẫu phân tích đó, chúng ta lại không thấy có yếu tố của kỹ thuật đổ hột trong giọng hát của bà Nguyễn thị Kim ở Thanh Hoá, trong khi bà Kim là người đào nương có tuổi đời gấp đôi cô Thuý Hoà và tuổi nghề thì gấp nhiều lần hơn thế nữa.

Thứ ba: Ông Trần Quang Hải cũng chưa đưa ra được lý luận cụ thể là tại sao Đổ hột là kỹ thuật đặc trưng của Ca trù. Nếu chỉ nói thông qua sự lổn nhổn của các hạt trên bảng thanh phổ khi ông đo giọng hát của Nguyễn Thuý Hòa mà đã vội kết luận đó là sự đặc trưng của Ca trù thì quả là thiếu thận trọng.

Chúng tôi đã liên hệ và trao đổi với ông Nguyễn Hùng Vĩ, ông theo quan điểm: Đổ hột là đặc trưng của Ca trù, và được ông phân tích một cách cụ thẻ dựa trên 2 yếu tố:

Thứ nhất là: Dựa trên đặc điểm của thanh điệu tiếng Việt mà chúng tôi đã nêu ở trên.

Thứ hai là: Dựa trên tiếng láy của tiếng phách Ca trù thì kỹ thuật đổ hột hay nảy hạt chính là một sự minh hoạ bằng tiếng hát từ tiếng láy phách.

Ông Nguyễn Hùng Vĩ đưa ra một kết luận là kỹ thuật đổ hột xuất hiện phổ biến trong Ca trù, thứ nhì là Chèo và Quan Họ sau cùng

Dựa trên những quan điểm của các nhà nghiên cứu chúng tôi xin đưa ra quan điểm của mình như sau:

Thứ nhất trong các bài viết về âm nhạc về Ca trù từ đầu thế kỷ đến giờ của các tác giả như Nguyễn Đôn Phục trong Khảo luận về cuộc hát Ả Đào, Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề trong Việt Nam Ca trù biên khảo, Phạm Duy trong Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam, rồi đến Nguyễn Xuân Khoát hay Ngô Linh Ngọc không hề có một tác giả nào nhắc đến kỹ thuật đổ hột, hay còn gọi là nảy hạt là kỹ thuật đặc trưng của Ca trù.

Thứ hai: Là chúng tôi có được nghe các băng tư liệu của các cụ Chu Thị Năm, Chu Thị Bốn, Đàm Mộng Hoàn, bà Châu Doanh, bà Kim Đức ở Khâm Thiên; bà Quách Thị Hồ ở Vạn Thái, bà Quách Thị Mai, Quách Thị Cuộng ở Sơn Tây, bà Đinh Thị Bản ở Vĩnh Phúc, bà Nguyễn Thị Diện ở Thanh Hóa, bà Phạm Thị Mùi, Nguyễn Thị Nhiên, Nguyễn Thị Sông ở Lỗ Khê thì chỉ có duy nhất có một người trong khi hát có sử dụng kỹ thuật đổ hột đó chính là bà Quách Thị Hồ.

Và một điều rất lý thú là bà Quách Thị Hồ có gốc ở Bắc Ninh. Nơi nổi tiếng với các làn điệu Quan họ. Và ai cũng biết rằng muốn học Quan họ thì phải học kỹ thuật nảy hạt hay đổ hột. Bản thân trong Quan họ cũng phân chia ra rất nhiều loại hột: Hột kê – hột ngô – hột đậu. Chứ Ca trù thì ít thấy phân chia như vậy.

Trong cuốn Tuyển tập thơ Ca trù, nhà nghiên cứu Ngô Linh Ngọc căn cứ theo các tư liệu cổ có chỉ ra 8 chữ để thẩm định một đào nương Ca trù hát hay là:
Quán – xuyến – Dằn – Thét – Diệu- Vợi – Khuôn – Rẫy. Tám chữ này nhấn mạnh vào 4 yếu tố của Ca trù: Tròn vành – Rõ chữ - Sắc tay – Hay nhịp

Trong tám chữ đó cũng chẳng có chữ nào nhắc đến Nảy của nảy hạt hay đổ hột gì cả. Điều đó có thể khẳng định đổ hột không phải là đặc trưng của Ca trù.

Vậy do đâu mà người ta cho rằng Đổ hột là một kỹ thuật đặc trưng của Ca trù?

Lần giở lại lịch sử ba đào của Ca trù, chúng ta thấy lại được những bước thăng trầm của nó. Năm 1954 khi mà miền Bắc đựoc giải phóng Ca trù chia ra làm hai bộ phận số ít vào trong Nam, còn lại thì ở ngoài Bắc. Không hiểu một lý do gì mà sau năm 1954, Ca trù không hoạt động nữa. Chốn giáo phường giấu tiệt nghề của mình, hầu như không còn ai nhận mình là người hát Ca trù.

Trong hoàn cảnh đó, sau năm 1954 bà Quách Thị Hồ chuyển nhà về Khâm Thiên sống. Trong khi chị em trong nghề chôn chặt gốc gác của mình, có người đi bán nước chè ở công viên Lê nin như bà Sính, người chuyển sang đài phát thanh hát trong tổ Chèo như bà Kim Đức, hoặc có người thảm hơn thì chết trong trận B52 rải thảm ở Khâm Thiên (Vị trí tượng đài B52 bây giờ ở Khâm Thiên trước kia là một trong hai nhà hát của bà Đàm Mộng Hoàn thì bà Quách Thị Hồ và bà Nguyễn Thị Phúc cứ mỗi năm tết đến vẫn ra hát mừng xuân ở trong Văn Miếu. Bản thân bà Quách Thị Hồ vẫn còn để lại câu nói dũng cảm khắc sâu trong tâm trí những người yêu Ca trù trước và bây giờ: "Tôi sẵn sàng đeo biển trước ngực đi trên phố để nói tôi là người hát Ca trù". Những người yêu Ca trù bấy giờ cũng như một số văn nghệ sĩ tiền chiến như Nguyễn Tuân vẫn tìm đến bà Hồ, bà Phúc như để tìm đến những người đào nương cuối cùng của Ca trù.

Nhiều nhà nghiên cứu Ca trù sau này có được tìm hiểu trước đó thì cũng chỉ được nghe đến Bà Hồ, bà Phúc vậy một sự thật hiển nhiên là cho đến giờ người ta nghĩ là Ca trù chỉ còn bà Hồ và bà Phúc.

Về sự nổi tiếng thì bà Quách Thị Hồ và Nguyễn Thị Phúc đều đã thành danh ở Khâm Thiên và Vạn Thái trước năm 1945, chúng ta có thể đọc lại những trang văn của Đinh Hùng (Giai thoại về một chầu hát không tiền khoáng hậu – Thạch Lam thẩm âm ký tên là Hoài Điệp Thứ Lang có nhắc đến tên của bà Quách Thị Hồ và Nguyễn Thị Phúc).

Trong làng hát người ta vẫn coi giọng của bà Quách Thị Hồ là một giọng đẹp và lạ: chất giọng khỏe, đanh, sắc như đổ vàng vào tai người nghe, chất giọng đầy uy quyền có thể hiếp đáp được người nghe, giọng bà Quách Thị Hồ là vậy. Và bà Hồ được thừa hưởng hơi hột của bà mẹ cũng là một đào nương Ca trù nhưng quê gốc ở Bắc Ninh. Nơi sản sinh ra những làn điệu Quan Họ.

Có một điều đặc biệt nữa là bà Quách Thị Hồ chưa từng mở nhà hát ở Khâm Thiên. Thực chất bà Quách thị Hồ là một chủ nhà hát ở đất Vạn Thái, nay là phố Bạch Mai. Bà Hồ chưa bao giờ hát ở Khâm Thiên cho đến năm 1954 thì bà chuyển nhà về Khâm Thiên và ở đó cho tới lúc trăm tuổi.

Khâm Thiên xưa là giáo phường Ca trù phát triển nhất ở Hà Nội mà chỉ có những đào kép nào có nghề nghiệp cao thì mới được được hát ở đấy, vì đơn giản khách đến Khâm Thiên nghe toàn những người nhiều tiền, họ đòi hỏi về nhu cầu thưởng thức nghệ thuật cao. Những nhà văn nghệ tiền chiến thì cũng chỉ có số ít có tiền mới “nằm vùng” được ở đó. Họ là những Vũ Hoàng Chương (Tác giả của Gác dì Năm viết về bà Chu Thị Năm, một đào nương nức tiếng ở Khâm Thiên) là Vũ Bằng cũng “ăn dầm nằm dề” ở nhà hát. Chúng ta có thể đọc qua những trang viết của Vũ Bằng trong Bốn mươi năm nói láo hay 19 chân dung nhà văn cùng thời.

Nhưng đến sau năm 1954, đa phần trong số họ đã vào Nam, ngoài Bắc thì xa lánh Ca trù, quyền thẩm định thuộc về những nhà nghiên cứu sau này vậy nên nhiều khi bảy hư ba thực.

Năm 1976, Ông Trần Văn Khê về nước được giới thiệu và thu băng lại giọng hát của bà Quách Thị Hồ. Ngay sau đó băng thu âm được trao giải thưởng thứ nhất về âm nhạc tại liên hoan ca nhạc quốc tế được tổ chức tại Bình Nhưỡng, đích thân ông Trần Văn Khê về trao bằng công nhận đó cho bà Quách Thị Hồ. Sau khi có sự tôn vinh của quốc tế, lúc bấy giờ ở Việt Nam, bà Quách Thị Hồ mới được phong tặng Nghệ sĩ nhân dân. Và từ bấy giờ trong tâm thức của mọi người nghiễm nhiên bà Quách Thị Hồ là người đại diện cho Ca trù Việt Nam. Bà Quách Thị Hồ có thể được xưng tụng như một đào nương tài sắc, có giọng hát đẹp “nguy nga lộng lẫy như một toà lâu đài” như đã có nhà nghiên cứu viết. Tuy vậy bà Quách Thị Hồ chỉ là một cá nhân trong tập thể của những danh ca của làng tơ phách, một người có giọng hát lạ lùng đài các nhưng hoàn toàn bà Quách Thị Hồ chưa thể đại diện cho Ca trù Việt Nam. Tiếc thay đó lại là một xác tín sai lầm lớn nhất tồn tại cho đến nay trong giới nghiên cứu Ca trù.

Theo trào lưu hâm mộ như vậy, một số người Việt kiều yêu những giá trị nghệ thuật cổ truyền của dân tộc đã tài trợ cho những gia đình ở trong nước để học lại nghề của các nghệ nhân. Trong số đó có ông Tôn thất Tiết đã tài trợ cho nhóm Ca trù Thái Hà để học lại nghề của bà Quách Thị Hồ. Nhưng đáng tiếc là bà Hồ không dạy cho bất cứ một ai hết, cho nên nhóm Ca trù Thái Hà chỉ được học qua băng ghi âm giọng hát của bà. Chính điều này làm cho các nhà nghiên cứu lại nhầm lẫn một lần thứ hai. Khi mà Nguyễn Thuý Hoà không phát huy được cái đẹp nhất, cái tinh tuý nhất của giọng hát bà Quách Thị Hồ là cái hơi khoẻ và sang trọng và sắc, lại phát huy cái tối đa cái nảy hạt hay đổ hột trong giọng của bà. Trong khi đó, chất đổ hột hay nảy hạt lại là một yếu tố tự nhiên trong giọng của NSND Quách Thị Hồ.

Sau này trong quá trình đi công du ra nước ngoài của nhóm Thái Hà, thông qua sự giới thiệu của ông Trần Văn Khê đã gây nên một nhầm lẫn về sự tiếp nhận nghệ thuật Ca trù cho đến tận bây giờ của giới nghiên cứu.

Trong Ca trù có đổ hột hay không?

Do hot co phai la mot ky thuat dac trung Ca tru
GS Trần Văn Khê.

Xin khẳng định trong Ca trù hoàn toàn không có đổ hột, hay nảy hạt. Nhưng Ca trù lại có một kỹ thuật gần giống như thế, tuy rằng so sánh về hiệu quả kỹ thuật thì lại là khác nhau. Kỹ thuật đó gọi là Đổ con kiến. Tại sao chúng tôi nói khác nhau?

Nếu như kỹ thuật đổ hột sử dụng độ rung của thanh hầu, thì đổ con kiến sử dụng độ ngắt của thanh hầu, đổ hột bị ngắt hơi, còn đổ con kiến phải giữ hơi, đổ hột lấy hơi ra ngoài, còn đổ con kiến lại vừa đẩy hơi ra ngoài vừa lấy hơi vào trong. Như vậy kỹ thuật đổ con kiến phức tạp hơn nhiều so với đổ hột

Khái quát về kỹ thuật đổ con kiến ta có thể viết qua mấy dòng sau: Đào nương phải nén hơi rồi thả từng chữ ư hự một cách mềm mại, tạo hiệu quả như một làn sóng thông qua việc liên tiếp thả ra hai chữ ứ hự, chữ đẩy hơi ra chữ hự lấy hơi vào để tiếp tục thả chữ của làn sóng tiếp theo. Mặc dù kỹ thuật đổ con kiến tạo ra một chuỗi âm thanh theo kiểu làn sóng lúc âm mạnh lên lúc âm lại nhỏ đi và chìm xuống và kết thúc bằng rung giọng nhẹ dần. Đổ con kiến không tạo ra một chuỗi âm thanh liên tiếp của những âm đứt đoạn.

Thêm vào đó kỹ thuật đổ con kiến không sử dụng thường xuyên, với các đào nương xưa như bà Châu Doanh chúng tôi thấy có sử dụng trong bài Non Mai Hồng Hạnh, hiện giờ còn băng tư liệu trong viện âm nhạc.

Một số bài có sử dụng kỹ thuật đổ con kiến như Thiên Thai hay Hát Truyện Phan Trần. Những người hiểu Ca trù và thông các kỹ thuật có thể lợi dụng việc đổ con kiến để tạo nên hiệu quả âm thanh rất cao. Đơn cử trường hợp NS Phó Thị Kim Đức khi đọc bài Thiên Thai. Đến bài Thứ 3: Lưu Nguyễn xuất Thiên Thai đến câu thơ cuối cùng: “Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài”. Tạm dịch là: Ánh trăng sáng trên đỉnh núi biếc chiếu ánh sáng vào đám rêu xanh. Khi đọc đến câu đó NS Kim Đức ngâm theo hơi sau: Sau khi ngâm rành rọt từng tiếng của bốn chữ đầu đến chữ thứ năm là chữ “Chiếu” bà thả hết hơi đẩy lên cao, rồi ngay ở quãng cao nhất thả xuống chữ “Thương”, cuối chữ “Thương” bà ngân hết và đổ con kiến, sau khi ngân xong đoạn cuối của kỹ thuật con đổ kiến bà nhẹ nhàng thả chữ “Đài”.

Mới trông qua thì tưởng chẳng có gì, nhưng đọc lại phần dịch và nghe bà hát thì tự nhiên ta giật mình vì chính chỗ mà sử dụng kỹ thuật đổ con kiến là người nghệ sĩ đang dịch thơ bằng âm thanh, bởi khi nghe bà đọc câu thơ đó ta có cảm giác ánh trăng chiếu từ trên cao xuống tới đám rêu, nó rọi vào vài hạt sương đọng trên đám rêu, toả ra những tia khúc xạ lung linh rồi mới lan toả ra không gian xung quanh trong đêm tối. Quả là tuyệt diệu..

Và đó mới chính là vẻ đẹp đích thực của Ca trù…

  • Trần Ngọc Linh
Việt Báo
contentlength: 23982
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Đến chùa dâng sao giải hạn là việc làm sai lầm
00:00 / --:--

Bài được quan tâm

Bài viết khác

Xem tiếp >>

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..