Camilo Jose Cela

11:32 15/12/2007
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

- Về phần mình, tôi phải tự hào tuyên bố rằng trong cái sứ mệnh này, một sứ mệnh phần nhiều chưa được hoàn thành, truyền thuyết văn chương đã luôn luôn - và trong mọi hoàn cảnh vẫn chứng tỏ - mình là một công cụ có tính quyết định; một vũ khí có thể mở đường cho cuộc hành trình vô tận tới tự do. C. J. Cela

CAMILO JOSÉ CELA (11/5/1916 - 17/01/2002)

Giải Nobel Văn học 1989

* Nhà văn Tây Ban Nha

* Nơi sinh: Iria Flavia, Coruna

(Tây Ban Nha)

* Nơi mất: Madrid (Tây Ban Nha)

Camilo Jose Cela
Camilo José Cela được tặng giải Nobel Văn học cho những tác phẩm được viết với một lối văn súc tích, cô đọng thể hiện lòng trắc ẩn vô hạn đối với những phận người cay đắng và hoang mang trong cuộc chiến phi lí. Ông được coi là nhà văn Tây Ban Nha nổi tiếng nhất trong nửa cuối thế kỉ XX, người đã tạo ra văn phong Cela (estilo celiano) độc đáo.

Camilo José Cela là con một gia đình thượng lưu bản xứ, mẹ gốc Anh lai Italia. Lúc ông lên chín tuổi gia đình chuyển về thủ đô Madrid, nơi ông học trung học, rồi theo học ngành y tại Đại học Madrid, nhưng lại thường xuyên nghe các bài giảng văn học tại khoa Triết học. Những năm 30, C.J. Cela bị buộc phải tham gia cuộc nội chiến Tây Ban Nha và chấp nhận đường lối độc tài của tướng Franco, song chỉ được một thời gian ngắn ông trở về quê vì bị lao phổi nặng.

Khỏi bệnh, ông chuyển sang học chuyên ngành luật ở Madrid, đồng thời tập trung vào sáng tác văn học. Năm 1934, ông viết bài thơ đầu tiên Đám tang tôi (Mon enterrement) và từ đó cái chết là đề tài ám ảnh trong các tác phẩm của ông. Năm 1942, C.J. Cela xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên Gia đình Pascual Duarte và nhanh chóng trở nên nổi tiếng; tác phẩm được đánh giá là cuốn tiểu thuyết Tây Ban Nha hay nhất kể từ thời Don Kihote. Từ đây, ông bắt đầu dành toàn bộ thời gian cho sáng tác văn học và làm chủ nhiệm tạp chí Papeles de Son Armadans.

C.J. Cela sáng tác rất nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn, kí, kịch, thơ, truyện dịch, ông còn soạn Từ điển bí mật (1968-1971) 11 tập, gồm những từ vựng kiêng húy, bị cấm đoán, tiếng lóng đường phố..., và Bách khoa tình dục (1976). Song tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tiểu thuyết Tổ ong (viết năm 1943, in năm 1957 ở Argentina, do chế độ kiểm duyệt ở Tây Ban Nha không cho phép), kể về cuộc sống của dân chúng ở thủ đô Madrid sau khi kết thúc nội chiến.

Năm 1983, ông cho ra đời tiểu thuyết cũng rất nổi tiếng, được coi là cuốn sách "trào phúng đen" - Bản mazurca dành cho hai người chết. Năm 1989, C. J. Cela là nhà văn Tây Ban Nha đầu tiên được nhận giải Nobel (trước ông đã có bốn người Tây Ban Nha nhận giải, nhưng đều là nhà thơ hoặc viết kịch). Trong Tuyên bố báo chí, Viện Hàn lâm Thụy Điển coi ông là gương mặt nổi bật nhất trong sự nghiệp đổi mới văn học Tây Ban Nha sau chiến tranh. C. J. Cela mất năm 2002 vì bệnh tim, để lại gần 80 đầu sách, trong đó có 14 tiểu thuyết.

Trong cuộc đời mình, C. J. Cela đã nhận bằng Tiến sĩ Danh dự của 25 trường đại học trên thế giới và đoạt các giải thơởng uy tín như: Giải Văn học Quốc gia năm 1984; Giải Hoàng tử Asturias năm 1987; Giải "Hành tinh" năm 1994; Giải thơởng Cervantes năm 1995. Năm 1966, ông được vua Juan Carlos phong tặng chức hầu tước Iria Flavia. Đồng thời ông cũng là nhà văn gây nhiều tai tiếng nhất. ở Tây Ban Nha ông nổi tiếng là người ham ăn uống, du lịch, phụ nữ. Đầu những năm 1990 ông bị một nhà văn nữ vô danh kiện vì tội đạo văn - lấy nhiều đoạn dài trong cuốn tiểu thuyết cô ta gửi đến để đọc giám định và đưa vào cuốn Thánh giá Thánh Andres (giải Hành tinh năm 1994). Kể cả chúc thư C. J. Cela đã để lại sau khi mất cũng gây bất bình vì ông đã dành hầu hết tài sản cho cô vợ trẻ mà chỉ để lại phần nhỏ cho con và gần như không cho gì bà vợ đầu đã cùng ông chung sống suốt 44 năm.

* Tác phẩm:

Gia đình Pascual Duarte (La familia de Pascual Duarte, 1942), tiểu thuyết.

Những cuộc phiêu lưu mạo hiểm mới của Lazarillo và Tormes (Neuvas andanzas y desventuras de Lazarillo de Tormes, 1944), tiểu thuyết.

Nhà nghỉ (Pabellón de Reposo, 1944), tiểu thuyết [Rest home].

Hành trình tới Alcarria (Viaje a la Alcarria, viết xong 1943, in 1951), ghi chép du lịch [Journey to Alcarria].

Tổ ong (La colmena, 1951), tiểu thuyết [The hive].

Bà Caldwell nói với con (Mrs Caldwell habla con su hijo, 1953), tiểu thuyết [Mrs. Caldwell speaks to her son].

Bánh xe thời gian rỗi (La rueda de los ocios, 1957), kí.

Những câu chuyện Tây Ban Nha (Historias de Espana, 1958), truyện.

Những truyện ngụ ngôn không có tình yêu (Gavila de Fabulas sin amor, 1962) [Loveless Fables].

Đi trên đất nước Tây Ban Nha (Viajes por Espana, 1965-1968) (3 vols), ghi chép.

Maria Sabina (1967), kịch.

San Camilo, 1936 (1969), tiểu thuyết.

Vai trò của bóng tối (Ojicio de tinieblas, 1973), truyện.

Bản mazurca dành cho hai người chết (Mazurca para dos muertos, 1983), tiểu thuyết [Mazurca for two dead people].

Từ điển bí mật (Diccionario secreto, 1968-1971) [Secret dictionary].

Bách khoa tình dục (Enciclopedia del erotismo, 1976).

Chuyến đi mới đến Alcarria (Nuevo viaje a la Alcarria, 1986), ghi chép du lịch.

Chúa Kito đối diện với Arizone (Cristo versus Arinoze, 1988), tiểu thuyết.

Tuyển tập tác phẩm 25 tập (Obras Completas 25 vols, 1989-1990) [Collected works 25 vols].

Thánh giá Thánh Andres (La cruz de san Andres, 1993), tiểu thuyết.

* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

Số đen (tiểu thuyết), Trương Võ Anh Giang dịch, NXB Hội Nhà Văn, 1991.

Vong linh anh bạn cao kều, Ca sĩ hát rong, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004; và trong Truyện ngắn đặc sắc các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 2004.

Diễn từ

Kính thưa các thành viên của Viện Hàn lâm,

Pío Baroja, bạn cũ và thầy của tôi, người đã không được nhận giải Nobel vì ánh hào quang rực rỡ của thành công đôi khi không may mắn đến tay người xứng đáng được nhận nó, có một chiếc đồng hồ treo tường. Trên mặt chiếc đồng hồ đó là những lời khai ngộ, một câu châm ngôn làm bạn run rẩy trong khi những chiếc kim đồng hồ quay tròn. Đó là: "Mỗi giờ gây thương tích; giờ cuối cùng giết chết".

Trong trường hợp của tôi, nhiều tiếng chuông du dương đã rung trong tim tôi và trong tâm hồn tôi bởi những chiếc kim đồng hồ đó - không bao giờ quay ngược - và hôm nay, một chân còn vướng trong cuộc đời dài để lại phía sau còn chân kia đặt trong hi vọng tương lai, tôi tới đây trước các bạn để nói vài lời về khẩu ngữ và để suy ngẫm, với tinh thần thiện chí và hy vọng là một cách hữu ích, về tự do và văn chương.

Tôi không biết chính xác khi nào người ta bước qua ngưỡng cửa thất thập cổ lai hy, nhưng để cho chắc, tôi xin mượn tạm lời của Don Francisco de Quevedo [i] : “Tất cả chúng ta đều mong muốn một tuổi già chín chắn, nhưng không ai trong chúng ta sẵn sàng thừa nhận rằng chúng ta đã tới ngưỡng đó”.

Tuy nhiên, không ai có thể phớt lờ một sự thật quá hiển nhiên. Tôi cũng biết rằng thời gian không ngừng trôi về phía trước. Vì vậy tôi sẽ nói rằng những gì tôi phải phát biểu ở đây vào lúc này sẽ không viện tới cảm hứng hay ứng tác bởi tôi không thích cả hai cách đó.

Tại đây ngày hôm nay, đọc diễn văn trước các bạn trên bục diễn thuyết mà khó khăn lắm người ta mới giành được này, tôi bắt đầu tự hỏi liệu những ngôn từ lấp lánh - ngôn từ của tôi trong trường hợp này - có gây ấn tượng đối với các bạn hay không vì đối với bản thân tôi, tôi cảm thấy công trạng của tôi quả là quá nghèo nàn so với niềm vinh hạnh mà các bạn đã dành cho tôi. Rất khó viết văn bằng tiếng Tây Ban Nha; tiếng Tây Ban Nha là một món quà do Chúa ban tặng mà chúng tôi đã mặc nhiên đón nhận.

Do đó, tôi hoàn toàn tin rằng các bạn muốn tôn vinh cái ngôn ngữ vinh quang này chứ không phải anh nhà văn khiêm nhường dùng ngôn ngữ đó để thể hiện mọi ý nghĩa mà nó có thể biểu đạt: niềm vui và sự hiền minh của Nhân loại, vì văn học là hình thức nghệ thuật của mọi người và cho mọi người, mặc dầu được viết ra không nhằm chiều theo bất cứ ai, chỉ chú tâm vào tiếng thì thầm vô thanh không thể gọi tên của một nơi nhất định và một thời khắc nhất định.

Tôi viết từ nỗi cô đơn và cất lên tiếng nói trong cô đơn. Mateo Alemán [ii] trong tác phẩm Cuzmoon de Alfarache và Francis Bacon [iii] trong bài tiểu luận “Of solitude” (Về cô đơn) - cả hai được viết đại để cùng một lúc - đều cho rằng trong con người đi tìm nỗi cô đơn vừa có sự thánh thiện vừa có thú tính. Tuy nhiên, tôi không đi tìm nỗi cô đơn. Tôi đã tìm thấy nó. Và từ nỗi niềm cô đơn của mình tôi nghĩ, sống và làm việc - và tôi tin rằng tôi viết và cất lời với sự điềm tĩnh và nhẫn nhục hầu như vô tận.

Trong cô đơn của mình tôi tiếp tục ghi trong tâm khảm nguyên lí mà Picasso, một người bạn cũ và người thầy khác nữa của tôi đã đề ra, rằng không một tác phẩm nghệ thuật vĩnh cửu nào có thể đạt được mà không có nỗi cô đơn to lớn. Dù suốt đời tôi luôn gây ấn tượng mình là kẻ luôn luôn hăm hở đấu tranh, tôi có thể nói về nỗi cô đơn mà không một chút lúng túng và, ở mức độ nào đó, thậm chí còn với sự chấp nhận đầy biết ơn, dẫu có đau đớn.

Phần thưởng lớn lao nhất là biết rằng mình có thể nói nên lời, phát ra những thanh âm rành mạch, thốt lên những từ ngữ miêu tả được sự vật, sự kiện và cảm xúc.

Khi định nghĩa về con người, các triết gia theo truyền thống đã áp dụng phương pháp chuẩn mực phân loại theo sự gần gũi về giống và sự khác biệt về loài để tham chiếu về nguồn gốc loài vật và cơ sở gây nên sự khác biệt. Từ zoon politikon (sinh vật chính trị) của Aristotle [iv] cho tới res cogitans (tinh thần) của Descartes [v] , những cơ sở tham chiếu như vậy đã trở thành nhân tố quan trọng để phân biệt con người với con vật. Nhưng dù các triết gia đạo đức học có phản bác những gì tôi sắp nói như thế nào đi nữa, tôi vẫn kiên định ý kiến rằng không khó tìm ra vô số bằng chứng xác định ngôn ngữ là cội nguồn quyết định của bản tính người, cái bản tính mà, dù xấu hay tốt, đã đặt chúng ta ra ngoài các loài vật khác.

Chúng ta khác những loài động vật khác, mặc dù kể từ thời Darwin ta biết rằng ta đã tiến hoá từ loài vật. Quá trình tiến hóa của ngôn ngữ do đó là nhân tố nền tảng mà ta không thể bỏ qua.

Lịch sử chủng loài của con người trải qua quá trình tiến hóa trong đó các cơ quan có chức năng sản sinh và nhận biết âm thanh cùng bộ óc chuyên làm rõ nghĩa của những âm thanh đó đã phát triển trong một thời gian dài bao gồm cả giai đoạn khai sinh ra Loài người. Không một hiện tượng nào sau đó, dù là El Cantar de Mio Cid, El Quijote [vi] hay thuyết lượng tử, có thể sánh với tầm quan trọng khi lần đầu tiên những sự vật cơ bản nhất được đặt tên. Tuy nhiên, vì những lí do hiển nhiên, tôi sẽ không đề cập ở đây về quá trình tiến hóa của ngôn ngữ theo nghĩa nguyên sơ và cơ bản nhất của nó. Thay vào đó, tôi sẽ đề cập đến ý nghĩa phái sinh và ngẫu nhiên nhưng khá quan trọng đối với những ai trong chúng ta được sinh ra trong một xã hội có truyền thống mang tính văn chương hơn là thế tục.

Các nhà dân tộc học nổi tiếng như A.S. Diamond cho rằng lịch sử của ngôn ngữ, của mọi loại ngôn ngữ, đều theo một mô hình trong đó những câu nói đầu tiên đều rất đơn giản và sơ khai, nhưng dần dần trở nên phức tạp hơn về các biến thể ngữ nghĩa và cú pháp. Bằng cách ngoại suy từ xu hướng biến đổi theo lịch sử này, có thể suy ra rằng tính phức tạp ngày càng tăng này đã tiến hóa từ giai đoạn đầu khi sự giao tiếp chủ yếu dựa trên động từ và phát triển dần cho tới hiện nay, khi mà chính danh từ, tính từ và phó từ mang lại tính biểu cảm và chiều sâu cho câu. Nếu lí thuyết này là đúng, và nếu ta vận dụng chút ít trí tưởng tượng, ta có thể kết luận rằng từ đầu tiên được dùng là một động từ ở thể trực tiếp và cấp thiết nhất, đó là thể mệnh lệnh.

Và trên thực tế, mệnh lệnh cách vẫn giữ vai trò tương đối quan trọng trong giao tiếp. Đó là một thể rất khó sử dụng. Nó phải được vận dụng hết sức cẩn trọng, và nó đòi hỏi một vốn hiểu biết sâu sắc về các quy luật của trò chơi, những quy luật không phải lúc nào cũng đơn giản. Một câu mệnh lệnh đặt không đúng chỗ có thể mang lại hậu quả ngược với mong muốn của chúng ta. Phân biệt ba khái niệm nổi tiếng của John Langshaw Austin [vii] (locutionary, illocutionary and perlocutionary language: ngôn ngữ phong cách, ngôn ngữ hành vi và ngôn ngữ kêu gọi hành vi) là một minh chứng hùng hồn cho giả thuyết rằng ngôn ngữ kêu gọi hành vi có xu hướng gợi lên hành vi cụ thể về phía người đàm thoại. Thật vô ích khi đưa ra một mệnh lệnh nếu kẻ mà mệnh lệnh đó nhắm tới lại tảng lờ và cứ làm gì tùy thích.

Do đó, từ zoon politikon (sinh vật chính trị) cho tới res cogitans (tinh thần) ta có thể rút ra đầy đủ sự khác biệt giữa loài vật vốn chỉ biết kêu rống với con người biết cất tiếng hát, mặc dầu không phải lúc nào cũng bằng một giọng êm ái du dương.

Trong tác phẩm Dialogue (Đối thoại) của Plato vốn mang tên ông, Cratylus [viii] giấu Heraclitus [ix] giữa những nếp gấp chiếc áo choàng tunic của ông. Triết gia Democritus [x] qua người đối thoại Hermogenes bàn về khái niệm đầy đủ và trống rỗng. Cũng có thể nói như vậy về Protagorus [xi] , nhà phản hình học từng khăng khăng không chút nhượng bộ rằng: “Con người là thước đo vạn vật”: họ là gì và họ như thế nào, họ không là gì và họ không như thế nào.

Cratylus cũng quan tâm tới ngôn ngữ - ngôn ngữ là gì và không là gì - và phát triển thêm những ý tưởng này trong cuộc tranh biện với Hermogenes. Cratylus tin rằng về bản chất, tên gọi của sự vật gắn liền với chính bản thân sự vật. Mọi vật đều được sinh ra, được tạo tác, được phát hiện ra, hay được phát minh. Ngay từ ban đầu, sự vật đã hàm chứa đúng cái tên vốn dĩ nhận diện chúng và phân biệt chúng với những sự vật khác. Ông dường như cố nói với chúng ta rằng sự khác biệt này là đơn nhất và bắt nguồn từ trong trứng nước của chính sự vật/hiện tượng.

Ngoại trừ trong thế giới lí tính của nhà từ nguyên học, một con chó luôn luôn là một con chó trong mọi ngôn ngữ cổ và tình yêu vẫn luôn là tình yêu ngay từ cái thuở ban đầu người ta cảm nhận được tình yêu. Ranh giới của những nghịch lí trong tư duy của Cratylus đối lập với các giả thuyết của Heraclitus ẩn chứa trong sự bất khả phân hay sự thống nhất của những đối lập, sự hòa hợp (giữa ngày và đêm), chuyển động không ngừng và sự tái xác nhận bản chất của chúng. Điều này cũng đúng trong trường hợp bản thân các từ với tư cách sự vật (không có chó nếu không có mèo và không có tình yêu nếu không có căm ghét).

Ngược lại, Hermogenes cho rằng từ ngữ chỉ là những quy ước do con người lập ra vì mục đích hợp lí là để hiểu được nhau. Con người đối mặt với sự vật hay sự vật được trình diện trước con người. Gặp một cái gì mới, con người lại đặt cho nó một cái tên. Tầm quan trọng của sự vật không phải là con suối trong rừng mà là cái giếng do tay người đào lên. Đường biên hình parabol của mọi ý nghĩa và của sự biểu đạt - mà Hermogenes nêu ra, còn Democritus, đôi khi là Protagoras lại giấu đi - cứ trở đi trở lại: liệu có phải con người là kẻ đo lường để xác định vạn vật mang tính chung nhất hay cá biệt? Liệu việc đo lường vạn vật này có phải là một khái niệm thuần túy nhận thức luận? Liệu vạn vật chỉ là vật chất thuần tuý vật lí hay chúng còn là cảm giác và khái niệm? Bằng cách quy giản tồn tại thành ảo tưởng, Hermogenes giết chết chân lí từ trong trứng nước; cái kết luận đầy mâu thuẫn rằng những luận đề duy nhất khả dĩ là những luận đề mà con người tự lập ra cho chính y, làm cho cái gì đúng và cái gì không đúng đều trở nên có thật.

Bạn sẽ nhớ lại rằng theo luận thuyết nổi tiếng của Victor Henry, con người có thể đặt tên cho sự vật nhưng không thể đòi quyền kiểm soát chúng; anh ta có thể thay đổi ngôn ngữ nhưng không thể thay đổi nó theo bất cứ cách nào anh ta muốn. Khi nói về tính chính xác của các tên gọi bằng những từ có lẽ quá ư thận trọng, Plato dường như gián tiếp cảm thông với với vị thế của Cratylus: sự vật được gọi tên đúng như chúng cần phải được gọi (một lý thuyết hữu cơ và có cơ sở đang trên đường được công nhận một cách rất chính đáng như là một nguyên lí) chứ không phải con người muốn gọi chúng ra sao thì gọi tùy gió thổi chiều nào trong lúc này hoặc lúc kia (đây là một hệ luận bất nhất, thậm chí bấp bênh, tùy thuộc vào những giả định bất nhất hiện diện cùng một lúc hoặc trước một sự vật nào đó).

Thái độ này, về cơ bản không thực tế và và do đó mang tính huyễn dụ, là xuất phát điểm cho các nhà thơ Latinh, đứng đầu là Horace [xii] . Nó gây ra mọi căn bệnh từng làm chúng ta phải khổ sở trong lĩnh vực này kể từ thời đó và chúng ta chưa có cách nào cứu chữa. ars Poetica (Nghệ thuật thơ ca), câu 70 đến 72, ca ngợi thói quen sử dụng trong quá trình tiến hóa của ngôn ngữ (một sự phát triển không phải lúc nào cũng được hoan nghênh):

Multa renascentur quae iam cecidere cadentque
quae nunc sunt in honore vocabula, si volet usus,
quem penes arbitrium est et ius et norma loquendi.

tạm dịch ý:

Nhiều từ nay bị lãng quên rồi sẽ lại hồi sinh, và nhiều từ nay đang được trọng dụng rồi sẽ chết, một khi [thói quen] sử dụng đã muốn như vậy - ý muốn của [thói quen] sử dụng chính là "ý trời" đối với ngôn ngữ [xiii] .

Quả bom hẹn giờ này, dẫu đầy thiện ý, có một vài hệ luận phức tạp mà cuối cùng dẫn tới giả thiết rằng ngôn ngữ là do con người tạo ra - và tất yếu là chỉ bởi con người - và thật phù phiếm nếu thử buộc ngôn ngữ phải tuân theo những quy tắc chính xác và hợp lí của lôgíc. Sự khẳng định nguy hiểm này của Horace - rằng chính việc sử dụng [ngôn ngữ] có vai trò quyết định trong việc phân định cái gì đúng và có thể chấp nhận trong ngôn ngữ - đã tạo ra một thùng rác bị lèn chặt bởi những nỗ lực quá mức trong đó đường tắt trở thành đường cao tốc mà trên đó con người thẳng tiến với ngọn cờ ngôn ngữ phấp phới bay run rẩy trong làn gió, tiếp tục ngoan cố nhầm lẫn thắng lợi với tính phụ thuộc cố hữu trong chính hình ảnh của nó.

Dù Horace có phần đúng (và ta không nên phủ nhận điều này), ông cũng sai trên nhiều phương diện và ta cũng không nên tìm cách che giấu. Nhưng ta cũng nên thừa nhận sự đóng góp của Cratylus và Hermogenes với việc hoàn thiện những nguyên lí của họ. Vị trí của Cratylus nằm trong những gì được nhắc tới như là ngôn ngữ tự nhiên, thông thường hoặc ngôn ngữ nói, vốn là sản phẩm của việc thường xuyên sử dụng một lối mòn có tính lịch sử và tâm lí, trong khi vị trí của Hermogenes khớp với những gì được ta hiểu là ngôn ngữ không tự nhiên, ngôn ngữ chuyên dụng hoặc tiếng lóng, bắt nguồn từ một sự sắp xếp ít nhiều hình thức hoặc từ một vài phương pháp hình thức nào đó dựa trên lôgic nhưng không hề có truyền thống lịch sử hay tâm lí nào đằng sau - ít nhất là vào thời điểm nó được tạo thành. Tác phẩm đầu tiên của Wittgenstein [xiv] tác giả của Tractatus [xv] là một diễn giải hiện đại trứ danh cho giả thuyết của Hermogenes.

Vậy hiểu theo nghĩa này sẽ không hề phi lôgic nếu bàn về ngôn ngữ Cratylus - ngôn ngữ tự nhiên hay ngôn ngữ người - và ngôn ngữ Hermogenes - ngôn ngữ nhân tạo hay ngôn ngữ siêu người. Cũng như Horace, điểm tham chiếu của tôi rõ ràng là cái thứ nhất, ngôn ngữ của văn học và cuộc sống, không hề có rào cản kĩ thuật hay phòng thủ. Max Scheler [xvi] - thực tế là các nhà nghiên cứu hiện tượng học nói chung - cũng đề cập tới những gì tôi gọi là ngôn ngữ Cratylus khi ông nói về ngôn ngữ như một chỉ báo, một thông báo hay một biểu đạt, cũng như Karl Bühler [xvii] khi ông phân loại ba chức năng của ngôn ngữ là hiện tượng (symptom), dấu hiệu (signal) và biểu tượng (symbol).

Khỏi phải nói rằng ngôn ngữ Hermogenes về bản chất thích nghi với tính nhân tạo vốn dĩ của nó. Trong khi đó, ngôn ngữ Cratylus không thích nghi với vùng ngoại giới nơi thường xuyên ẩn giấu những cạm bẫy xa lạ với tính trong sáng tự bản chất của nó.

Quả thật nguy hiểm nếu thừa nhận rằng trong phân tích cuối cùng này, ngôn ngữ tự nhiên - ngôn ngữ Cratylus - là kết quả của cuộc hôn phối huyền bí giữa con người và cơ hội. Bởi quần chúng không tạo ra ngôn ngữ, mà họ xác định quá trình phát triển của nó. Ta có thể nói - dù với đôi chút dè dặt - rằng quần chúng giải quyết ở mức độ nào đó những rắc rối của ngôn ngữ bằng cách đặt tên cho sự vật; nhưng họ cũng pha trộn và lai tạp nó. Nếu như quần chúng không phải đối mặt với những cạm bẫy ẩn giấu mà tôi vừa nói ở trên, vấn đề này sẽ càng cấp bách hơn và trực tiếp hơn. Điều không được nêu ra nhưng dẫu vậy vẫn ẩn náu trong cốt lõi của vấn đề, ấy là chỉ một điều, cũng một điều đó và đã được minh định; và không ai, kể cả tôi, có thể thay đổi nó.

Ngôn ngữ Cratylus, cấu trúc hay hệ thống được Ferdinand de Saussure [xviii] miêu tả như là "langue", là ngôn ngữ chung của một cộng đồng (hay trong một cộng đồng hơn là của một cộng đồng), được hình thành và chứng thực bởi các nhà văn và được chế định và nhìn chung được định hướng bởi các Viện Hàn lâm. Ba thực thể này - cộng đồng, nhà văn và Viện Hàn lâm - không phải lúc nào cũng hoàn thành nghĩa vụ của mình. Rất thường xuyên, họ xâm nhập và can thiệp vào những lĩnh vực khác. Dường như cả Viện Hàn lâm, nhà văn lẫn cộng đồng đều không hài lòng với vai trò của bản thân họ.

Dù không đủ năng lực, họ vẫn thích định nghĩa vai trò của những người khác, những vai trò mà thậm chí dù là đúng trên nguyên tắc vẫn luôn luôn không rõ ràng và được định nghĩa tồi, và - còn tệ hại hơn - rốt cuộc lại làm phân tán hoặc lu mờ chủ đích sự quan tâm của họ, cụ thể là ngôn ngữ và động từ, mà vốn tự bản chất cần phải trong sáng. Đại số và công cụ thuần túy không có giá trị gì ngoài sự hữu ích, trong phép phân tích cuối cùng như trong tác phẩm Tình yêu và sư phạm (Love and pedagogy) của Miguel de Unamuno [xix] .

Nhân tố quyết định cuối cùng, Nhà nước, vốn không phải cộng đồng hay nhà văn, cũng không phải Viện Hàn lâm, lại ra điều kiện và giới hạn mọi thứ, can thiệp bằng một nghìn cách (ngôn ngữ hành chính, tuyên bố chính thức của chính phủ, truyền hình...), bằng những ví dụ tồi hơn là bằng sự cấm đoán, tạo ra vô trật tự và lộn xộn, hỗn mang và nhầm lẫn.

Nhưng không ai nói gì về sự quá đáng của ngôn ngữ đại chúng, ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ hàn lâm, ngôn ngữ nhà nước và những ngôn ngữ khác. Ngôn ngữ không chỉ tiến hóa theo cách của riêng mình, dù về nguyên tắc là có thể, mà đúng hơn là được thúc đẩy bởi những lực đối kháng quanh nó.

Cái cộng đồng mà những dòng của Horace hướng tới rốt cuộc tin rằng đây là cách thức một ngôn ngữ nên tiến hóa và ra sức kết hợp những cụm từ, dấu câu và thành ngữ không phát sinh từ trực giác cũng chẳng phải là sản phẩm của tiềm thức - vốn dĩ ít nhất có thể sản sinh cái gì đó hợp lệ hay hợp lí - mà là được phát minh một cách cố tình và có ý thức, hay còn tệ hơn, được du nhập (vào thời điểm không thích hợp và ngược lại với cảm quan thông thường về thanh âm).

Các nhà văn, dĩ nhiên trừ một số ngoại lệ, thì theo lối sử dụng thường xuyên khiếm khuyết trong môi trường của họ để đưa ra và chuẩn y những thành ngữ rườm rà - thậm chí còn tệ hơn - xa rời tinh thần cốt tử của ngôn ngữ.

Vấn đề của Viện Hàn lâm phát sinh từ chính nền tảng hoạt động của họ: là những thể chế, họ có khuynh hướng bảo thủ và sợ thử thách.

Sự xói mòn ngôn ngữ Cratylus bởi ảnh hưởng của ngôn ngữ Hermogenes ngày càng lộ rõ và có nguy cơ sẽ làm khô cằn cái ngôn ngữ sống động đó, biến ngôn ngữ tự nhiên thành ngôn ngữ giả tạo. Như tôi đã nói, mối nguy đó gây ra bởi thứ ngôn ngữ được sáng chế, được lắp ghép một cách vô lối, được phục hồi hoặc tái sinh một cách không hợp thời.

Dường như có một lí do chính trị nào đó đằng sau cái động lực mà hiện nay - như từng xảy ra trong quá khứ - đang hăm hở dẫn tới việc từ bỏ những quy tắc của một ngôn ngữ khi đối mặt với cuộc tấn công ồ ạt của những gì vây quanh nó. Theo tôi, những rủi ro lớn hơn là những ích lợi - vốn có phần không tưởng - mà người ta hi vọng sẽ thụ hưởng được vào một ngày sau không xác định. Dẫu còn lâu tôi mới là người theo chủ nghĩa thuần túy, tôi vẫn muốn kêu gọi, trước là các nhà văn, sau là các Viện Hàn lâm, ở mức độ thấp hơn là Nhà nước, hãy chấm dứt tình trạng hỗn loạn này. Không nghi ngờ gì nữa, có một tính liên tục trong ngôn ngữ, nó sẽ loại bỏ và thay thế bất cứ sự phân loại nào mà chúng ta muốn lập nên nhưng không phải là cơ sở để xé toang những ranh giới tự nhiên của ngôn ngữ. Nếu cho phép điều đó xảy ra, chúng ta sẽ tiếp tục thừa nhận một thất bại dù nó chưa diễn ra.

Chúng ta hãy cùng tập hợp thiên tài để bảo vệ ngôn ngữ, mọi ngôn ngữ, và đừng bao giờ quên rằng cái thứ thủ tục rắc rối với quy tắc Luật pháp - vốn chỉ săm soi con chữ chứ không nhìn thấu vào tinh thần của Luật pháp - luôn luôn dẫn tới bất công, và bất công, tới lượt nó, vừa là nguồn gốc vừa là hậu quả của vô trật tự.

Tư duy về thực chất gắn liền với ngôn ngữ. Hơn nữa, tự do cũng có thể gắn với những mẫu hình ngôn ngữ và khái niệm nào đó. Cả hai đều mang lại khuôn khổ rộng lớn cho mọi nỗ lực của con người; những ai mưu toan khai phá và mở rộng biên giới con người, và cả những ai tìm cách ngấm ngầm xói mòn vị thế của con người. Tư duy và tự do trong đầu óc bậc anh hùng và tên tội phạm đều như nhau.

Nhưng sự khái quát hóa này khiến lu mờ nhu cầu đòi hỏi sự chính xác cao hơn nếu chúng ta tiến tới việc hiểu ý nghĩa đích thực của việc thế nào là tư duy và thế nào là tự do. Trong chừng mực ta có thể xác định những hiện tượng diễn ra trong tâm trí, tư duy đối với con người nghĩa là tư duy về tự do. Đã có nhiều lập luận đề cập tới việc có phải tự do này là một cái gì đó cụ thể hay liệu nó chỉ là thêm một hiện tượng bề nổi khác sinh ra do đầu óc con người. Nhưng lập luận như vậy có thể là vô ích. Một triết gia hiền minh người Tây Ban Nha đã chỉ ra rằng ảo tưởng và hình ảnh thực của tự do là một và chỉ là một. Nếu con người không tự do, nếu anh ta bị trói buộc bởi những xiềng xích mà tâm lí học, sinh học, xã hội học và lịch sử tìm cách nhận diện, thì, với tư cách một con người, anh ta cũng mang ý nghĩ - có thể là ảo tưởng nhưng tuyệt đối mang tính phổ quát - rằng anh ta tự do. Và nếu ta mong muốn tự do, ta sẽ tổ chức thế giới của mình phần nhiều giống như ta sẽ làm nếu ta tự do.

Mẫu hình kiến trúc mà ta đã cố gắng xây dựng thành công, hoặc nếu không thì cơ cấu phức tạp của xã hội chúng ta, hàm chứa những nguyên lí cơ bản về tự do của con người, và chính trong ánh sáng của nguyên lí này, chúng ta đánh giá, ngợi ca, bêu riếu, trừng phạt và chịu đựng: hào quang tự do là tinh thần được gìn giữ trong những quy ước đạo đức, nguyên lí chính trị và hệ thống luật pháp.

Ta biết rằng ta suy nghĩ. Ta suy nghĩ vì ta tự do. Mối liên hệ giữa tư duy và tự do giống như một con cá tự cắn đuôi nó hay đúng hơn là một con cá muốn tóm đuôi chính nó; vì tự do vừa là hệ quả trực tiếp lại vừa là điều kiện cần của tư duy. Thông qua tư duy, con người có thể tách mình ra khỏi quy luật của tự nhiên tới mức độ nào tùy thích; anh ta có thể chấp nhận và phục tùng những quy luật đó, chẳng hạn như nhà hóa học đã vượt qua giới hạn của lí thuyết về sự cháy, thành công và uy tín của ông ta dựa trên chính sự chấp thuận và phục tùng này. Tuy nhiên trong tư duy, lãnh địa của những điều lố bịch nằm kề bên đế chế của lôgíc, bởi người ta không chỉ nghĩ về những điều có thật và những điều có thể xảy ra. Đầu óc ta có thể đập tan những sơ đồ của chính mình ra hàng nghìn mảnh và sắp xếp chúng lại thành một hình ảnh hoàn toàn khác.

Do đó, người ta có thể có nhiều cách hiểu thế giới dựa theo các nguyên lí thực nghiệm bởi điều mà kẻ tư duy mong muốn chủ yếu dựa trên cơ sở lời hứa hẹn của tự do. Tự do suy nghĩ hiểu theo nghĩa hẹp này là phản đề của thế giới thực nghiệm và được thể hiện trong truyền thuyết. Do đó, năng lực tạo ra truyền thuyết sẽ là nhân tố thứ ba trong vị thế con người - hai cái còn lại là tư duy và tự do -, và năng lực này có thể xoay vần vạn sự sao cho những sự vật mà trước khi trở thành đề tài của truyền thuyết vốn dĩ hoàn toàn không thật cũng trở thành sự thật.

Thông qua quá trình tư duy, con người bắt đầu khám phá sự thật ẩn giấu trong thế giới, anh ta có thể tạo ra một thế giới khác của riêng mình theo bất cứ nghĩa nào anh ta muốn thông qua truyền thuyết. Do đó, sự thật, tư duy, tự do và truyền thuyết có một mối tương quan phức tạp và đôi khi đáng ngờ. Nó như một hành lang tối với những ngã rẽ lạc hướng, một mê cung không có lối ra. Nhưng nhân tố rủi ro này luôn luôn là sự biện minh tốt nhất cho việc dấn thân vào một cuộc phiêu lưu.

Truyền thuyết và chân lí khoa học không phải là những dạng thức tư duy. Chúng là những thực thể khác loại không thể so sánh với nhau, vì chúng vận hành theo những quy luật và phương cách hoàn toàn khác nhau. Do đó, thật không thích hợp nếu trưng ra chuẩn mực văn chương trong cuộc đấu tranh nhằm giải phóng tâm trí con người. Văn chương nên được coi như đối trọng với sự quy phục một cách nô lệ vào khoa học. Tôi sẽ còn đi xa hơn để nói rằng, tôi tin cần phải rút ra được một sự phân biệt sáng suốt và cẩn trọng giữa các hình thức khoa học và văn chương vốn gắn kết với nhau nhằm trói buộc con người trong những giới hạn khắt khe nhằm phủ nhận mọi ý tưởng tự do, và chúng ta cần phải táo bạo bù đắp lại những hình thức đó bằng những trải nghiệm khoa học và văn chương khác mà mục đích là nhen nhóm hi vọng.

Bằng cách tin tưởng tuyệt đối vào tính ưu việt của tự do và phẩm giá con người hơn là ngờ vực những chân lí đáng ngờ tan biến trong một biển những giả định, việc đó có thể là một dấu hiệu cho thấy rằng chúng ta đã tiến bộ. Tuy nhiên, bản thân điều đó chưa đủ. Nếu chúng ta đã học được một điều gì thì điều đó là: chính khoa học không có khả năng biện chính cho những khát vọng tự do, ngược lại, nó dựa vào những trụ chống, nhưng rồi những trụ chống này lật nghiêng nó (khoa học) về hướng đối nghịch. Khoa học chỉ nên dựa trên đòi hỏi cấp bách sâu xa nhất của tự do và và ý chí con người. Đó là cách duy nhất làm khoa học tách ra khỏi chủ nghĩa thực dụng vốn không chống đỡ nổi những cạm bẫy về số lượng và kích thước. Điều này dẫn chúng ta tới nhu cầu phải nhận ra rằng văn chương và khoa học, mặc dầu khác loại, không thể cứ mãi mãi cách li nhau trong một nỗ lực phòng vệ nhằm xác định khu vực ảnh hưởng, và điều đó là vì hai lí do: đó là vị thế của ngôn ngữ (phương tiện cơ bản của tư duy) cũng như nhu cầu xác định những giới hạn và phân biệt giữa những gì đáng ngợi khen, đáng được ngợi ca với những gì cần phải được lên án bởi tất cả những cá nhân thiện chí.

Tôi tin rằng văn học, với tư cách một công cụ để tạo ra truyền thuyết, được xây dựng trên hai trụ chống chủ yếu ban cho nó sức mạnh để đảm bảo rằng những nỗ lực văn chương là xứng đáng. Trước tiên là mĩ học vốn áp đặt đòi hỏi cho một bài tiểu luận, một bài thơ, vở chính kịch hay hài kịch nhằm duy trì những chuẩn mực tối thiểu nào đó phân biệt nó với thế giới văn chương rẻ tiền (hay dưới-văn chương) mà trong đó tính sáng tạo không thể theo kịp cảm xúc của độc giả. Từ chủ nghĩa hiện thực xã hội cho tới vô số trò đồng bóng của đám nghệ sĩ chuyên thử nghiệm nửa mùa, bất cứ nơi nào thiếu tài năng nghệ thuật thì thứ dưới-văn chương trở thành một mớ ngôn từ lê thê chán ngắt không có khả năng tạo ra một truyền thuyết đích thực và xứng đáng.

Trụ chống thứ hai mà nỗ lực văn học dựa vào là đạo đức, vốn bổ sung cho mĩ học và liên quan nhiều tới tất cả những gì từ xưa đến nay người ta vẫn nói về tư duy và tự do. Tất nhiên, đạo đức và mĩ học không hề đồng nghĩa với nhau, chúng cũng không có cùng giá trị. Văn chương có thể tự cân bằng một cách chông chênh chỉ trên mĩ học - nghệ thuật vị nghệ thuật - và rất có thể mĩ học về lâu dài có thể là một khái niệm toàn triệt hơn ý hướng đạo đức. Chúng ta có thể vẫn biết ơn những vần thơ của Homer [xx] và các thánh ca sử thi thời trung cổ, mặc dù ta hẳn đã quên hay ít nhất cũng không còn tự động gắn liền chúng với những hành vi đạo đức tại các thành cổ Hy Lạp hay tại châu Âu phong kiến. Tuy nhiên, nghệ thuật vị nghệ thuật, theo đúng định nghĩa của nó, là cực kì khó tiến hành và luôn có nguy cơ được sử dụng nhằm mục đích bóp méo ý nghĩa đích thực của nó.

Tôi tin chắc rằng đạo đức là nhân tố làm cho tác phẩm văn chương xứng đáng đóng vai trò cao quý trong việc tạo ra truyền thuyết. Nhưng tôi phải giải thích rõ những gì tôi định nói, bởi vì truyền thuyết văn học, với tư cách công cụ biểu đạt cầu nối giữa khả năng suy nghĩ của con người và ý tưởng tự do dẫu là không tưởng của con người, không thể chỉ dựa trên một kiểu ý hướng đạo đức nào đó. Theo tôi hiểu, một tác phẩm văn chương chỉ có thể là ý hướng đạo đức của cá nhân, của tác giả, ý tưởng của riêng anh ta về tự do. Tất nhiên là không ai, thậm chí cả tác giả văn học thông minh nhất và cân bằng nhất, có thể (hoặc đúng hơn là luôn luôn có thể) vượt qua tính người của y; bất kì ai cũng có một điểm mù, và tự do là một khái niệm khá mù mờ khiến người ta có thể phạm phải nhiều sai lầm mù quáng nhân danh tự do. Hay cảm thức thẩm mĩ cũng không thể được tiếp nhận từ một cuốn sách giáo khoa.

Vậy, truyền thuyết văn chương phải dựa trên cả cảm quan đạo đức lẫn ý hướng thẩm mĩ. Đó là cách duy nhất để truyền thuyết có được tầm quan trọng vượt qua những thị hiếu phù du hay sự thừa nhận sai lầm vốn chóng đổi thay. Lịch sử con người hằng chuyển và khúc khuỷu. Do đó, khó lòng tiên đoán những cảm quan thẩm mĩ hay đạo đức. Có những nhà văn nhờ nắm bắt được cảm thức của thời đại mình mà trở thành những nhân vật tầm cỡ của xu hướng chung ngự trị thời thế, và tác phẩm của họ là một phản xạ có điều kiện. Những người khác đảm nhận cái nghĩa vụ bạc bẽo và không được tán dương đầy đủ là mang tự do và sáng tạo của con người tiến xa hơn trên đường, thậm chí dù rốt cuộc cũng sẽ không đi tới đâu.

Đây là cách duy nhất để văn học có thể hoàn thành sứ mệnh xác định chặt chẽ hơn lời cam kết của nó đối với vị thế của con người và, nếu ta muốn tuyệt đối chính xác trong luận đề này, đối với nỗ lực duy nhất có thể công nhiên gọi là văn chương đích thực. Tuy nhiên, xã hội loài người không thể chỉ gắn liền với những thiên tài, vị thánh và bậc anh hùng.

Trong công cuộc kiếm tìm tự do này, truyền thuyết có thế mạnh của một đặc tính được nhiều người biết tới là tính linh hoạt của câu chuyện văn học. Truyền thuyết không cần đặt mình vào bất cứ cái gì có thể thu hẹp phạm vi, tính mới lạ và yếu tố bất ngờ của nó. Do đó, không giống bất kì hình thức tư duy nào khác, nó có thể giương cao lá cờ Không tưởng. Có lẽ đó là lí do tại sao các tác gia luận văn chính trị triết học đầy tham vọng nhất đã chọn câu chuyện văn chương để truyền tải những luận điểm Không tưởng mà người ta không sẵn sàng chấp nhận vào thời đó trừ phi chúng chỉ là hư cấu. Truyền thuyết có thể biểu đạt chủ nghĩa Không tưởng một cách không giới hạn, bởi vì tự bản chất, chính truyền thuyết là dựa trên Không tưởng.

Tuy nhiên, những thuận lợi của hình thức thể hiện bằng văn học không chỉ giới hạn ở việc dễ dàng truyền tải những luận điểm Không tưởng. Tính co giãn nội tại của chuyện, tính linh hoạt của các tình huống, tính cách và sự kiện mà truyền thuyết tạo ra đem lại một xưởng đúc tuyệt vời, từ đó người ta có thể xây dựng cả một nhà máy mà không phải gặp rủi ro không đâu, hoặc, nói cách khác, xây dựng một phòng thí nghiệm, ở đó người ta tiến hành thí nghiệm về hành vi của con người trong những điều kiện tối ưu. Nhưng truyền thuyết không chỉ giới hạn ở việc thể hiện tư tưởng Không tưởng. Nó còn có thể phân tích cẩn thận ý nghĩa và các hệ quả của nó trong hằng hà vô số những tình huống đan xen, từ suy đoán có căn cứ cho tới những điều phi lí nhất mà tư duy sáng tạo có thể sinh ra.

Vai trò của văn học như một phòng thí nghiệm đã được nhấn mạnh trong khoa học viễn tưởng; những suy đoán về tương lai mà sau đó trở thành hiện thực. Các nhà phê bình đã không tiếc lời ngợi ca những tiểu thuyết gia có tài dự đoán trong các truyền thuyết của họ những tọa độ cơ bản mà về sau được minh chứng. Nhưng sự hữu ích thực sự của truyền thuyết - với tư cách một “ống nghiệm” - không nằm ở dung lượng giai thoại nhằm tiên đoán chính xác một cái gì có tính kĩ thuật, mà là công cụ truyền tải - một cách kịp thời, trực tiếp hay phủ định - mọi phương diện khả dĩ của một thế giới có thể đã có mặt ngay lúc này hoặc trong tương lai.

Chính công cuộc truy tìm ý hướng của con người, những trải nghiệm bi thảm, mới có thể soi tỏ sự nhập nhằng của những lựa chọn mù quáng trước những đòi hỏi mà thế giới đặt ra trước mắt chúng ta, trong hiện tại hay tương lai, chính nó biến những bức tranh của văn học thành một phòng thí nghiệm. Giá trị của văn học với tư cách một công cụ tiến hành thí nghiệm về hành vi chẳng có liên quan gì với sự tiên đoán, bởi hành vi của con người chỉ có quá khứ, hiện tại và tương lai theo một nghĩa rất hẹp và cụ thể. Tuy nhiên, có những khía cạnh cơ bản của bản tính chúng ta mang một tính vĩnh hằng mãnh liệt, chính nó khiến ta cảm động sâu sắc bởi một câu chuyện bi thương vào một thời đại hoàn toàn khác với thời đại ta đang sống. Chính “con người phổ quát” này là nhân vật được đánh giá cao nhất trong truyền thuyết văn học, một xưởng thử nghiệm mà trong đó không có biên giới và không có tuổi tác. Chính những Don Quixote, Othello và Don Juan [xxi] minh họa cho ta thấy truyền thuyết là một ván cờ chơi hoài chơi mãi, chơi một nghìn lần với bất kì quân cờ nào mà số phận tung ra vào bất cứ lúc nào.

Hiểu theo nghĩa tuyệt đối, có thể điều này dường như làm giảm thiểu cái được gọi là tự do mà tôi đang biện chính, và thực tế sẽ đúng như vậy nếu ta không xét đến vai trò của cá nhân, của tác giả, con người, cái con người không hoàn hảo, lắm lời và lẫn lộn lung tung này. Ma lực của Shylock sẽ không bao giờ bộc lộ nếu không có thiên tài của Bard [xxii] , kẻ mà trí nhớ tồi hiển nhiên là thiếu nhất quán hơn nhiều so với trí nhớ của các nhân vật mà ông ban cuộc sống và những người mà rốt cuộc ông không cho chết. Và những gì của những học giả và những người tung hứng vô danh mà chúng ta chỉ nhớ được qua những thành quả từ tài năng của họ. Không nghi ngờ gì nữa, có điều gì đó mà chúng ta phải nhớ về bất cứ điều gì mà xã hội học hay lịch sử cố gắng áp đặt lên chúng ta, đó là: cho đến nay và trong chừng mực ta có thể tưởng tượng về tương lai nhân loại, tác phẩm văn học là để [đáp ứng] cho nhu cầu của chính tác giả; nghĩa là, cho một ngọn nguồn duy nhất những sự thấu hiểu về thẩm mĩ và đạo đức mà tôi đã đề cập trên đây, một tác giả hành xử như bộ lọc cho cái dòng chảy mà, không nghi ngờ gì nữa, xuất phát từ toàn bộ xã hội xung quanh tác giả đó.

Có lẽ mối liên hệ giữa Con Người với Xã hội này thể hiện đạt nhất chính cái nghịch lí giữa việc một con người tự hào với cá nhân anh ta đồng thời lại gắn bó với cái cộng đồng quanh anh ta mà anh ta không thể khước từ nếu không anh ta sẽ phát điên. ở đây có một quy tắc đạo đức; những hạn chế của văn chương chính là những hạn chế của bản tính con người, và chúng chỉ cho ta thấy còn có một vị thế nữa, đồng nhất theo những cách khác, đó là vị thế của thần thánh và ma quỷ. Đầu óc ta có thể tưởng tượng ra những đấng tạo hóa, và việc con người có thể sáng chế các tôn giáo dễ dàng đến mức nào là chứng minh rành rành cho điều đó. Năng lực sáng tạo truyền thuyết của chúng ta mang lại một phương tiện văn học hữu ích để minh họa những đấng tạo hóa đó, như trên thực tế chúng ta đã liên tục làm kể từ khi Homer viết những vần thơ của ông. Nhưng ngay cả điều đó cũng không thể dẫn chúng ta tới chỗ hiểu sai bản tính của mình hay dập tắt vĩnh viễn ngọn lửa tự do âm thầm cháy trong tận cùng bản thể người nô lệ mà kẻ khác có thể buộc phải vâng lời nhưng không thể buộc yêu, có thể buộc phải chịu đau đớn và chết nhưng không thể buộc thay đổi những suy tư sâu kín nhất của mình.

Khi nhà duy lí mù quáng và ngạo mạn khơi lại trong những tâm hồn được khai sáng sự quyến rũ của Kinh thánh với câu châm ngôn cuối cùng hứa hẹn: “Bạn sẽ như Chúa Trời”, ông ta không tính đến thực tế rằng con Người đã trượt quá xa xuống con đường đó. Sự khổ ải và tự hào mà hàng thế kỉ qua đã đánh dấu những cố gắng của con Người hòng giống như chúa trời đã dạy cho con Người một chân lí hay hơn: rằng qua cố gắng và tưởng tượng họ có thể trở thành Con Người. Về phần mình, tôi phải tự hào tuyên bố rằng trong cái sứ mệnh này, một sứ mệnh phần nhiều chưa được hoàn thành, truyền thuyết văn chương đã luôn luôn - và trong mọi hoàn cảnh vẫn chứng tỏ - mình là một công cụ có tính quyết định; một vũ khí có thể mở đường cho cuộc hành trình vô tận tới tự do.

  • Tân Đôn dịch, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính

© Culture Globe

Chú thích của người dịch:



[i] Francisco de Quevedo y Villegas (1580-1645): nhà thơ Tây Ban Nha.

[ii] Alemán, Mateo (1547-1610?): nhà văn Tây Ban Nha.

[iii] Bacon, Francis (1561-1626): nhà triết học Anh.

[iv] Aristotle (384-322 tr.C.N.): nhà bác học, triết gia Hy Lạp. Trong tác phẩm Chính trị học nổi tiếng của ông, Aristotle cho rằng tự bản chất, con người là một sinh vật chính trị (zoon politikon). Điều này có nghĩa là, cá nhân cần phải trở thành thành viên của một xã hội - hay một cộng đồng chính trị - nơi y có thể giao tiếp với các công dân khác cũng như hành động vì công lý và phúc lợi chung của cộng đồng; chỉ khi đó y mới có thể sống một cuộc sống hạnh phúc và thực hiện một cách toàn mãn tiềm năng của mình với tư cách một con người.

[v] Descartes, René (1596-1650): nhà bác học, nhà triết học và nhà toán học Pháp, người khai sinh chủ nghĩa duy lý. Ông là người đầu tiên vạch ra sự chia cắt giữa thể xác (rex extensa) với tinh thần (rex cogitans) và kết luận rằng chỉ những gì có thể diễn dịch bằng lý trí mới là nền tảng của tri thức, chứ không phải những gì thu nhận được bằng giác quan (Tôi tư duy, vậy thì tôi hiện hữu).

[vi] El Cantar de Mio Cid, El Quijote: Tên các anh hùng ca thời trung cổ của Tây Ban Nha.

[vii] Austin, John Langshaw (1911-1960): triết gia Anh.

[viii] Cratylus: triết gia Hy Lạp, môn đồ của Heraclitus. Là một nhân vật trong Cratylus, một trong các Đối thoại triết học nổi tiếng của Plato.

[ix] Hermogenes: triết gia Hy Lạp thuộc trường phái "Ngụy biện", một nhân vật khác trong Cratylus của Plato.

[x] Democritus (460?-370? tr.C.N.): triết gia Hy Lạp.

[xi] Protagorus (490-420 tr. CN): triết gia Hy Lạp.

[xii] Horace (65-8 tr.C.N.): nhà thơ trữ tình và trào phúng La Mã.

[xiii] Theo bản tiếng Anh của Francis và của Leon Golden.

[xiv] Wittgenstein, Ludwig Josef Johann (1889-1951): triết gia Anh - Áo.

[xv] Ý nói Tractatus Logico-Philosophicus (Chuyên luận Luận lí-Triết học, 1921), tác phẩm chính của Wittgenstein.

[xvi] Scheler, Max (1874-1928): triết gia Đức.

[xvii] Bühler, Karl (1879-1963): bác sĩ, nhà tâm lý học và triết gia Đức.

[xviii] Saussure, Ferdinand de (1857-1913): nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ.

[xix] Unamuno y Jugo, Miguel de (1864-1936): triết gia Tây Ban Nha.

[xx] Homer: người được coi là tác giả của hai bản trường ca cổ Hy Lạp Iliad và Odyssey.

[xxi] Don Quixote - tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Tây Ban Nha Cervantes Saavedra, Miguel de (1547-1616); Othello - vở bi kịch nổi tiếng của nhà viết kịch và nhà thơ Anh Shakespeare, William (1564-1616); Don Juan: tên nhân vật nổi tiếng vì thói trăng hoa quyến rũ đàn bà trong truyện dân gian Tây Ban Nha, về sau được các nhà văn của nhiều nước Châu Âu đưa vào tác phẩm của mình.

[xxii] Shylock: tên nhân vật cho vay nặng lãi người Do Thái trong sáng tác của Bard – nhà thơ, nhạc sĩ người Celtic hồi đầu Công nguyên.

Việt Báo
contentlength: 86793
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Văn Hóa NỔI BẬT

Con ngoại tình vì vợ vô sinh, lá thư 30 năm trước của mẹ chồng khiến tất cả câm nín

Đêm đó tôi đã lang thang ở ngoài cả đêm. Tôi đi đến những nơi hai đứa từng hẹn hò khi đang yêu và nhớ về ngày xưa. Sau tất cả, sáng hôm sau trở về, tôi quyết định sẽ coi như mình không biết chuyện kia và giữ kín không để ai biết.

Bài được quan tâm

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..