Ba diễn từ tưởng niệm Dostoievski

Thứ bảy, 15 Tháng mười 2005, 17:17 GMT+7
  • Xét cho cùng thì vấn đề thể loại chỉ là cơ sở để tiếp cận tư tưởng thẩm mỹ của tác giả nên có thể coi câu nói trác tuyệt của nhà nghiên cứu lý luận Bakhtin là lời cảnh tỉnh trong quá trình nhận thức tiểu thuyết: Nội dung sẽ tự tìm được hình thức thể hiện tương ứng...

    Ba dien tu tuong niem Dostoievski

    Fedor Dostoievski (1821-1881)

    Ngay từ khi mở chuyên đề Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu, chúng tôi đã chờ đợi những bài viết mang tầm lý luận và nhân học để soi chiếu vào tiểu thuyết đương đại Việt Nam, trong khi chờ đợi những bài viết như vậy chúng tôi xin phép dịch giả, GS Phạm Vĩnh Cư được đăng tải Ba diễn từ tưởng niệm Dostoievski của nhà triết học vĩ đại Soloviev. Lý do cũng thật giản dị: Thiên tài của Dostoievski bộc lộ và phát sáng đầy đủ nhất qua thể loại tiểu thuyết và được một thiên tài thấu thị nhân học là Soloviev phân tích, lý giải. Xét cho cùng thì vấn đề thể loại chỉ là cơ sở để tiếp cận tư tưởng thẩm mỹ của tác giả nên có thể coi câu nói trác tuyệt của nhà nghiên cứu lý luận Bakhtin là lời cảnh tỉnh trong quá trình nhận thức tiểu thuyết: Nội dung sẽ tự tìm được hình thức thể hiện tương ứng...

    Vì độ dài của văn bản nên chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu từng diễn từ một, mong độc giả quan tâm theo dõi.

    Xin chân thành cảm ơn ông Đoàn Tử Huyến (Trung tâm Ngôn ngữ Văn hoá Đông Tây) đã cung cấp văn bản này.

    Ba diễn từ tưởng niệm Dostoievski

    Người dịch: GS Phạm Vĩnh Cư

    Lời nói đầu

    Ba dien tu tuong niem Dostoievski
    Triết gia VladimirSoloviev (1853- 1900)

    Trong ba diễn từ này về Dostoievski tôi không đề cập đến đời tư của ông, cũng không bình phẩm những tác phẩm văn chương của ông. Tôi chỉ bận tâm với một câu hỏi: Dostoievski đã phục vụ cho cái gì, tư tưởng nào đã cổ vũ toàn bộ hoạt động của ông?

    Dừng lại ở câu hỏi này càng là điều tự nhiên, bởi lẽ cả những chi tiết đời riêng lẫn những ưu điểm hay khuyết điểm nghệ thuật của những trước tác của Dostoievski tự chúng đều không giải thích được cái ảnh hưởng mà ông đã phát huy trong những năm cuối của đời mình cũng như ấn tượng đặc biệt mà cái chết của ông đã gây nên. Mặt khác, cả những lời đả kích gay gắt, mà Dostoievski sau khi qua đời vẫn phải chịu đựng, đều không nhằm vào phương diện thẩm mỹ của những tác phẩm của ông, bởi vì tất cả mọi người đều thừa nhận như nhau ở ông một văn tài nhất hạng, đôi khi vươn tới mức độ thiên tài, mặc dù không phải không có những khuyết điểm đáng kể. Nhưng tư tưởng mà văn tài ấy phục vụ thì có những người xem là chân chính và tốt lành, nhưng những người khác thì lại cho là giả dối và độc hại.

    Xét cho cùng, sự định giá toàn bộ hoạt động của Dostoievski phụ thuộc vào việc chúng ta nhìn nhận thế nào cái tư tưởng đã cổ vũ ông, tất cả những gì mà ông đã tin và yêu. "Mà ông yêu trước hết cái linh hồn sống của con người ở trong tất cả và mọi nơi, ông tin rằng tất cả chúng ta là nòi giống của Chúa Trời, tin vào sức mạnh vô biên của tâm hồn con người chiến thắng mọi bạo lực từ bên ngoài và mọi sa ngã từ bên trong. Tiếp nhận vào trong hồn mình toàn bộ ác khí của sự sống, toàn bộ nỗi nhọc nhằn và bóng tối của cuộc đời và khắc phục tất cả bằng sức mạnh vô tận của tình yêu, Dostoievski trong tất cả những trước tác của mình đã báo tin về chiến thắng ấy. Bằng trải nghiệm nội tâm đã biết đến một sức mạnh thần thánh thắng vượt mọi yếu đuối bất lực của con người, Dostoievski đã đi đến nhận thức về Thánh Thần và Thần-Nhân. Thực tại của Chúa Trời và Đức Kitô đã được ông khám phá trong sức mạnh nội tại của tình yêu và lòng bao dung tha thứ tất cả, và ông đã truyền bá cái sức mạnh tha thứ tất cả ấy của thiên ân như là cơ sở cho sự thực hiện trên thế gian cái vương quốc của chân lý và công lý mà ông suốt đời khao khát hướng tới"*.

    Theo tôi, không được nhìn nhận Dostoievski chỉ như một tiểu thuyết gia bình thường, người viết văn có tài và thông minh. ở ông có một cái gì đó to lớn hơn, và cái to lớn hơn ấy là đặc điểm phân biệt của ông và nó giải thích tác động của ông đối với những người khác. Để xác minh điều này có thể dẫn ra rất nhiều chứng cứ. Xin hạn chế bằng một chứng cứ đặc biệt đáng để ý. Bá tước L. N. Tolstoi viết như sau trong thư gửi N. N. Strakhov: "Tôi mong muốn làm sao diễn đạt được tất cả những gì mà tôi cảm nhận về Dostoievski. Miêu tả tình cảm của mình, anh đã thể hiện một phần tình cảm của tôi. Tôi không bao giờ gặp con người ấy và không bao giờ có quan hệ trực tiếp với ông ta; nhưng đột ngột, khi ông mất, tôi hiểu ra rằng đây là người gần gũi nhất, quý giá nhất và cần thiết nhất cho tôi. Và không bao giờ tôi có ý nghĩ đọ sức với ông, không bao giờ. Tất cả những gì mà ông đã làm (những gì tốt đẹp, chân chính mà ông đã làm) là cái mà ông làm càng nhiều thì càng tốt cho tôi. Tài nghệ gây ra trong tôi niềm đố kỵ, trí thông minh cũng thế, nhưng việc làm của trái tim thì chỉ làm tôi vui sướng. Tôi vẫn coi ông ấy là người bạn của mình và không có ý nghĩ nào khác ngoài ý nghĩ rằng chúng tôi sẽ gặp nhau, rằng cho đến giờ chỉ chưa có cơ hội mà thôi, nhưng cái đó là phần của tôi. Thế mà đột ngột tôi đọc - ông đã qua đời. Một điểm tựa nào đó đã bật ra khỏi tôi. Tôi hoang mang, sau đó tôi nhận thấy rõ ông ấy đáng quý đối với tôi thế nào và tôi đã khóc và bây giờ vẫn đang khóc. Gần đây, trước khi ông mất, tôi đọc Những kẻ tủi nhục và cảm kích"(2). Trong một bức thư khác, gửi trước đó: "Mới đây tôi đọc Nhà chết. Tôi đã quên nhiều, đọc lại và không biết một cuốn sách nào ưu việt hơn trong toàn bộ nền văn học mới của chúng ta, kể cả Pushkin. Không phải giọng văn, mà cái nhìn thật đáng ngạc nhiên: chân thành, tự nhiên và thấm nhuần tinh thần Kitô giáo. Một cuốn sách thật tốt, có sức giáo huấn. Hôm qua tôi thích thú suốt ngày như đã lâu chưa thích thú. Nếu anh gặp Dostoievski hãy nói với ông ấy rằng tôi yêu ông ấy"*.

    Những phẩm chất của trái tim và cái nhìn, mà bá tước Tolstoi đã chỉ ra, quan hệ mật thiết với tư tưởng chủ đạo mà Dostoievski suốt đời ấp ủ trong mình, mặc dù chỉ cuối đời mới hoàn toàn thấm nhuần và làm chủ nó. Ba diễn từ của tôi nhằm làm sáng tỏ tư tưởng ấy.

    Diễn từ một

    Trong thời nguyên thủy của nhân loại, các nhà thơ là những nhà tiên tri và những vị tư tế, tư tưởng tôn giáo chi phối thơ ca, nghệ thuật phụng sự thánh thần. Sau này, với sự phức tạp hóa cuộc sống, khi xuất hiện nền văn minh dựa trên cơ sở phân công lao động, nghệ thuật cũng như những công việc khác của con người đã biệt lập và tách khỏi tôn giáo. Nếu trước kia các nghệ sĩ là những người phụng sự các thần linh thì bây giờ chính nghệ thuật trở thành thần thánh và thần tượng. Xuất hiện những tư tế của nghệ thuật thuần túy mà đối với họ sự hoàn hảo của hình thức nghệ thuật trở thành công việc chính, bên ngoài mọi nội dung tôn giáo.

    Mùa xuân diễn ra hai lần của nền nghệ thuật tự do ấy (trong thế giới cổ điển và ở châu Âu mới) thật tráng lệ, nhưng không trường cửu. Ngay trước mắt chúng ta mùa nở hoa của nghệ thuật châu Âu mới đã kết thúc. Hoa đã rụng, nhưng trái thì chỉ mới bắt đầu đơm kết. Sẽ là bất công đòi hỏi ở trái non những phẩm chất của quả chín, chỉ có thể ức đoán trước những phẩm chất tương lai ấy. Chính một thái độ như thế cần phải có đối với trạng thái hiện nay của nghệ thuật và văn học. Các nghệ sĩ thời nay không thể và không muốn phụng sự cái đẹp thuần túy, tạo tác những hình thức hoàn mỹ; họ tìm kiếm nội dung.

    Nhưng ghẻ lạnh với nội dung tôn giáo xưa kia của nghệ thuật, họ hướng toàn bộ về thực tại đương thời và đặt mình vào thế hai lần nô lệ trong quan hệ với nó: thứ nhất, họ gắng sức sao chép một cách nô lệ những hiện tượng của thực tại ấy, và thứ hai, họ cố gắng cũng một cách nô lệ như thế phục vụ thời cuộc, đáp ứng tâm trạng xã hội trong giây phút này, rao giảng cái luân lý thông dụng, tưởng rằng bằng cách ấy làm cho nghệ thuật trở nên hữu ích. Tất nhiên, cả đích này lẫn đích kia đều không đạt được. Trong sự chạy đua săn tìm vô vọng những chi tiết tưởng chừng hiện thực* người ta chỉ đánh mất hiện thực chân chính của chỉnh thể, còn ý nguyện gắn liền nghệ thuật với tính giáo huấn và hữu ích bề ngoài, làm phương hại vẻ đẹp nội tại của nó, biến nghệ thuật thành vật vô dụng nhất và không cần thiết nhất trên đời, bởi vì rõ ràng với khuynh hướng tốt đẹp nhất một tác phẩm nghệ thuật tồi vẫn không thể dạy cho ai cái gì và đem lại một ích lợi gì.

    Cất tiếng lên án vô điều kiện tình trạng hiện thời của nghệ thuật và khuynh hướng của nó là việc rất dễ dàng. Sự suy thoái của sáng tạo và những xâm hại liên tiếp ý tưởng cái đẹp quá đập vào mắt - song tuy vậy lên án tuyệt đối tất cả những cái đó sẽ là bất công. ở cái nghệ thuật thô lậu và thấp kém mang dấu hiệu hai lần nô lệ ấy tiềm ẩn những hứa hẹn về sự kỳ vĩ thần thánh. Những đòi hỏi về tính hiện thực đương thời, về cái lợi trực tiếp của nghệ thuật(4), vô nghĩa trong sự ứng dụng thô bạo và tăm tối hiện thời, tuy vậy lại ám dụ một ý tưởng cao cả và sâu sắc về nghệ thuật mà cả những chủ nhân lẫn những người kiến giải nghệ thuật thuần túy vẫn chưa vươn tới được.

    Không thỏa mãn với cái đẹp của hình thức, những nghệ sĩ thời nay mong muốn một cách ít nhiều hữu thức làm sao cho nghệ thuật trở thành sức mạnh hiện thực làm sáng và tái sinh toàn bộ thế giới loài người. Xưa kia nghệ thuật làm cho con người lãng quên bóng tối và ác khí ngự trị trong thế gian, cuốn hút nó lên những đỉnh non yên bình của mình và làm khuây khỏa nó bằng những hình tượng tươi sáng của mình; bây giờ nghệ thuật, ngược lại, nhận chìm con người vào trong bóng tối và ác khí của cuộc sống thường nhật đôi khi với nguyện vọng mơ hồ làm sáng bóng tối ấy, trấn yên ác khí ấy. Nhưng nghệ thuật lấy ở đâu ra sức mạnh làm sáng và tái sinh ấy?

    Nếu nghệ thuật không được tự giới hạn bằng việc làm cho con người lãng quên cuộc sống ác độc, mà phải cải thiện chính cuộc sống ấy, thì cái đích vĩ đại ấy không thể đạt được chỉ bằng sự tái tạo đơn thuần thực tại. Mô tả còn chưa có nghĩa là cải tạo và tố cáo còn chưa có nghĩa sửa đổi. Nghệ thuật thuần túy nâng cao con người lên khỏi mặt đất, dẫn đưa nó lên những đỉnh Olympe, nghệ thuật mới với tình yêu và lòng thương cảm trở về với mặt đất, nhưng không phải để chìm đắm trong bóng tối và ác khí của cuộc sống trần gian, bởi vì cái đó chẳng cần gì đến nghệ thuật, mà để chữa lành và đổi mới cuộc sống ấy. Để làm được điều ấy cần phải có thái độ can dự và gần gũi với cõi trần, cần có tình yêu và lòng thương cảm đối với nó, nhưng còn cần một cái gì đó nữa to lớn hơn. Để tác động mãnh liệt đến trần thế, để xoay chuyển và tái tạo lại nó, cần hút thu và áp dụng vào trần thế những sức mạnh không thuộc trần thế.

    Nghệ thuật đã biệt lập, đã ly khai tôn giáo giờ đây phải bước vào quan hệ mới, tự do với nó. Các nghệ sĩ và thi sĩ lại phải trở thành nhưng tư tế và những nhà tiên tri, nhưng đã theo nghĩa khác, quan trọng hơn và cao cả hơn: không chỉ tư tưởng tôn giáo sẽ chiếm lĩnh họ, mà cả chính họ cũng sẽ chiếm lĩnh tư tưởng ấy và điều khiển tự giác những hiện thân trần thế của nó. Nghệ thuật của tương lai, sau nhiều thử thách trường kỳ tự trở về với tôn giáo, sẽ hoàn toàn không phải là nghệ thuật nguyên thủy còn chưa tách khỏi tôn giáo.

    Bất chấp tính chất phản tôn giáo (bề ngoài) của nghệ thuật thời nay, cái nhìn sáng suốt biết nhận ra ở đây những đường nét còn mơ hồ của nghệ thuật tôn giáo tương lai, cụ thể trong hai chí hướng song hành - thể hiện đầy đủ ý tưởng thông qua những chi tiết vật chất nhỏ nhất, đến mức tuồng như hòa nhập hoàn toàn với thực tại đương thời, và đồng thời gắng sức tác động tới cuộc sống hiện thực, sửa đổi và cải thiện nó theo những yêu cầu lý tưởng xác định. Thực tình mà nói, bản thân những đòi hỏi ấy còn khá vô hiệu. Không ý thức được tính chất tôn giáo của nhiệm vụ của mình, nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa chối từ điểm tựa vững chắc duy nhất và đòn bẩy hùng mạnh để phát huy ảnh hưởng tinh thần của mình trong thế giới.

    Nhưng cái chủ nghĩa hiện thực thô lậu ấy của nghệ thuật hiện đại chỉ là cái vỏ cứng nháp, mà bên trong ẩn náu chờ thời điểm của mình nền thơ ca có cánh của tương lai. Đó không chỉ là hoài bão cá nhân - có những sự việc thực chứng khêu gợi nhận thức như thế. Đã xuất hiện những nghệ sĩ mà, phát xuất từ trào lưu hiện thực chủ nghĩa đương thống ngự và ở mức độ đáng kể vẫn ở lại trên "thổ nhưỡng" thấp kém cúa nó, đồng thời tìm đến chân lý tôn giáo, gắn liền với nó nhiệm vụ của những tác phẩm của mình, từ tư tưởng tôn giáo rút ra lý tưởng xã hội của mình và bằng tư tưởng ấy linh thiêng hóa hoạt động phụng sự xã hội của mình. Nếu trong nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa thời nay chúng ta nhìn thấy dường như điềm tiên báo cho một nền nghệ thuật tôn giáo mới thì điềm tiên báo ấy đã bắt đầu linh ứng. Còn chưa có những đại diện của nghệ thuật tôn giáo mới, nhưng đã xuất hiện những tiền khu của nó. Một tiền khu như vậy chính là Dostoievski.

    Theo tính chất của hoạt động của mình thuộc về những nghệ sĩ - tiểu thuyết gia và thua kém một vài người trong họ về mặt này hay mặt kia, Dostoievski có một ưu thế lớn so với tất cả họ là ông nhìn thấy không chỉ xung quanh mình mà còn khá xa trước mình.
    Ngoại trừ Dostoievski, tất cả các tiểu thuyết gia ưu tú của chúng ta đều nhìn nhận cuộc sống xung quanh họ như là họ bắt gặp nó, như là nó đã tự hình thành và tự biểu hiện - trong những hình thức xong xuôi, rắn chắc và rõ ràng. Những tiểu thuyết của Goncharov và bá tước Lev Tolstoi đặc biệt là như thế. Cả hai nhà văn này tái tạo xã hội Nga (những điền chủ, những viên chức, đôi khi nông dân) dưới những hình thức sinh hoạt thường nhật đã tồn tại từ lâu và một phần đã lỗi thời hoặc đang trở nên lỗi thời. Những tiểu thuyết của hai văn sĩ này, mặc dù tài năng của họ khác nhau, rất đồng chất xét về đối tượng nghệ thuật của chúng.

    Đặc điểm phân biệt của Goncharov - đó là sức mạnh khái quát nghệ thuật, nhờ nó mà ông đã có thể sáng tạo nên một hình tượng điển hình cho toàn thể nước Nga như Oblomov, mà ta không thể tìm thấy một hình tượng nào khác ngang bằng nó về độ bao quát ở bất kỳ một nhà văn Nga nào khác*. Còn nếu nói về L. Tolstoi, thì đặc điểm của tất cả các tác phẩm của ông không hẳn ở tính bao quát của các hình tượng điển hình (không một nhân vật nào của ông trở thành tên chung), mà nhiều phần hơn ở tài nghệ khắc họa các chi tiết, ở sự mô tả rõ mồn một mọi tiểu tiết trong đời sống của thiên nhiên và con người, song sức mạnh chính của ông là sự tái tạo hết sức tinh vi cơ chế của những hiện tượng tâm lý.

    Nhưng cả tài khắc họa những chi tiết bên ngoài ấy, cả tài phân tích tâm lý ấy hiện ra trên cái nền bất biến của đời sống đã định hình từ lâu, cụ thể là đời sống của gia đình quý tộc Nga, được làm nổi bật bằng những hình tượng còn bất động hơn của những con người thuộc tầng lớp bình dân. Anh lính binh nhì Karataev quá khiêm nhường, để bằng hình tượng của mình có thể che khuất các ông chủ, và ngay cả một nhân vật có tầm cỡ lịch sử thế giới như Napoléon cũng không thể mở rộng hơn cái chân trời chật hẹp ấy: vị chúa tể của cả châu Âu được mô tả chỉ ở chừng mực gần gũi với một địa chủ Nga, mà sự gần gũi ấy có thể được hạn chế bằng rất ít chi tiết, thí dụ, cảnh rửa mặt nổi tiếng, mà ở đấy Napoléon của bá tước Tolstoi cạnh tranh xứng đáng với tướng Betritchev của Gogol(5). Trong cái thế giới bất động ấy tất cả đều rõ ràng và đã được xác minh, tất cả đã an bài; nếu có ý nguyện về một cái gì khác, có khát vọng vượt ra khỏi những khuôn khổ đã xác định ấy thì khát vọng ấy hướng không về phía trước mà về phía sau, về cái còn đơn giản hơn và bất biến hơn nữa - đời sống của giới tự nhiên (Những người Cadắc, Ba cái chết).

    Thế giới nghệ thuật của Dostoievski mang tính đối lập hoàn toàn. ở đây tất cả còn đương lên men, chưa một cái gì định hình, tất cả còn mới đương hình thành. Đối tượng của tiểu thuyết ở đây không phải là sinh hoạt của xã hội, mà là sự chuyển động của nó. Trong tất cả các nhà văn xuất sắc của chúng ta một mình Dostoievski lấy sự chuyển động của xã hội làm đối tượng chính của sáng tác của mình. Người ta thường so sánh ông với Turgenev về phương diện này, nhưng thiếu căn cứ đầy đủ. Để xác định ý nghĩa chung của một nhà văn nào đó, cần phải xem xét những tác phẩm ưu tú nhất chứ không phải tồi nhất của anh ta. Những tác phẩm ưu tú nhất của Turgenev, đặc biệt Bút ký người đi săn và Một tổ quý tộc cho ta những bức tranh tuyệt vời hoàn toàn không phải về sự chuyển động của xã hội, mà chỉ về trạng huống của nó - cũng vẫn cái thế giới quý tộc cũ mà ta đã tìm thấy ở Goncharov và L. Tolstoi. Mặc dù sau này Turgenev thường xuyên theo dõi những cuộc vận động xã hội ở ta và một phần đã chịu ảnh hưởng của chúng, nhưng ý nghĩa của những vận động ấy đã không được ông đoán định đúng, còn cuốn tiểu thuyết nói riêng về chủ đề ấy (Đất hoang) thì lại hoàn toàn không thành công*.


    Dostoievski đã không chịu khuất phục ảnh hưởng của những chí hướng ngự trị xung quanh ông, đã không ngoan ngoãn bám sát gót các giai đoạn của vận động xã hội - ông đoán định trước những bước ngoặt của sự vận động ấy và phán xử trước chúng. Và ông đã có thể và có quyền phán xử, bởi vì ông có thước đo cho sự phán xử ở trong đức tin của mình, đức tin ấy đặt ông lên cao hơn các trào lưu thống ngự, cho phép ông nhìn thấy xa hơn nhiều so với những trào lưu ấy và không say sưa với chúng. Do có đức tin, Dostoievski tiên đoán đúng cái đích cao nhất, xa xăm của toàn bộ sự vận động, nhìn thấy rõ cả những sự đi chệch đích ấy, phán xử chúng như người có quyền và lên án chúng một cách công minh.

    Sự lên án công minh ấy chỉ đụng chạm đến những đường hướng sai lệch và những thủ đoạn tồi tệ của phong trào xã hội, chứ không phải bản thân phong trào, nó là thiết yếu và đáng mong muốn; sự lên án ấy đụng chạm đến nhận thức thấp kém về công lý xã hội, đến lý tưởng xã hội sai lệch, chứ không phải sự tìm kiếm công lý xã hội, không phải ý nguyện thực hiện lý tưởng xã hội. Lý tưởng ấy cả đối với Dostoievski cũng ở phía trước: ông tin vào Vương quốc của Chúa Trời không chỉ đã có mà còn sẽ đến và hiểu thấu sự tất yếu của lao động và kỳ công để thực hiện Vương quốc ấy. Ai hiểu biết cái đích chân chính của sự vận động, người ấy có thể và phải phán xử những sự đi chệch đích ấy.

    Mà Dostoievski lại càng có quyền làm việc này bởi vì ban đầu chính ông đã nếm trải sự đi trệch đích ấy, chính ông cũng đi con đường sai lệch ấy. Lý tưởng tôn giáo chính diện đã nâng Dostoievski lên cao hơn hẳn những tư trào ngự trị trong xã hội, song cái lý tưởng chính diện ấy ông đã không có được ngay một lúc, mà đã phải đạt tới nó sau nhiều đau khổ, trong cuộc đấu tranh gian truân và dai dẳng. Ông đã phán xét về cái mà ông hiểu biết, sự phán xét của ông là công minh chính đại. Và chân lý tối cao càng trở nên rõ hơn với ông, thì đương nhiên ông lại càng phải lên án quyết liệt hơn những đường hướng sai lệch của hành động xã hội.
    ý nghĩa chung của toàn bộ hoạt động của Dostoievski hay là ý nghĩa của ông như một nhà hoạt động xã hội là ở sự giải quyết vấn đề kép ấy: vấn đề về lý tưởng tối cao của xã hội và về con đường chân chính dẫn tới thực hiện lý tưởng ấy.

    Nguyên nhân chính đáng của phong trào xã hội là mâu thuẫn giữa những yêu cầu đạo đức của cá nhân với chế độ xã hội đã định hình. Phát xuất từ đấy mà chính Dostoievski đã khởi nghiệp như một người mô tả, lý giải và đồng thời tham gia tích cực phong trào xã hội mới. Cảm thức sâu sắc về sự bất công xã hội, mặc dù dưới hình thức hiền lành nhất, đã được thể hiện trong truyện đầu tay của ông Những người nghèo khổ. ý nghĩa xã hội của truyện ấy (nó được tiếp nối bởi tiểu thuyết viết muộn hơn Những người tủi nhục) có thể quy về cái chân lý cũ và mãi mãi mới là, với trật tự hiện hữu của các sự vật, những con người tốt nhất (về mặt đạo đức) lại hóa ra là những kẻ xấu nhất trong con mắt xã hội và số phận của họ là phải chịu đựng sự nghèo khổ, sự tủi nhục*.

    Giả sử vấn đề bất công xã hội đối với Dostoievski mãi mãi sẽ chỉ là đề tài của những truyện vừa hay tiểu thuyết, thì bản thân ông cũng mãi mãi sẽ chỉ là người viết văn và sẽ không giành được ý nghĩa gì đặc biệt trong đời sống của xã hội Nga. Nhưng đối với Dostoievski nội dung cuốn truyện của ông đồng thời cũng là nhiệm vụ cuộc đời ông. Vấn đề xã hội đã được ông lập tức đặt lên trên cơ sở đạo đức và thực tiễn. Nhìn thấy và lên án những gì diễn ra trên thế gian, ông tự hỏi: thế thì phải làm gì?
    Trước hết hiện ra một giải pháp đơn giản và rõ ràng: những người ưu tú, nhìn thấy ở những người khác và cảm thấy bằng chính mình sự bất công xã hội, phải liên kết lại, đứng dậy chống lại nó và xây dựng lại xã hội theo ý mình.

    Khi mưu đồ đầu tiên, còn ngây thơ*, thực hiện giải pháp ấy đã đưa Dostoievski lên đoạn đầu đài và đến nhà tù khổ sai, ông cũng như những đồng chí của ông ban đầu chỉ có thể nhìn thấy ở cái kết cục ấy một sự thất bại của mình và sự bạo hành của những kẻ khác. Đối với Dostoievski quyết án ấy thật hà khắc. Nhưng uất hận đã không cản trở Dostoievski hiểu được rằng ông đã không đúng với ý đồ cách mạng xã hội của mình, cuộc cách mạng ấy chỉ cần cho ông và những đồng chí của ông(8).

    Giữa muôn điều khủng khiếp của nhà chết, Dostoievski lần đầu tiên gặp gỡ một cách hữu thức với lẽ phải của tình cảm nhân dân và dưới ánh sáng của lẽ phải ấy nhận ra sự không phải của những chí hướng cách mạng của mình. Những người bạn tù của Dostoievski tuyệt đại đa số là dân thường và, trừ một ít ngoại lệ xuất chúng, đó toàn là những phần tử xấu xa nhất trong nhân dân. Nhưng cả những con người xấu xa nhất ấy trong dân thường vẫn giữ được cái mà những người ưu tú nhất trong giới trí thức đã đánh mất: niềm tin vào Chúa và ý thức về sự tội lỗi của mình.

    Những tội đồ thường dân, dị biệt với quần chúng nhân dân bởi những việc làm xấu xa của mình, không khác biệt họ một tí nào trong tình cảm và quan điểm, trong thế giới quan tôn giáo của mình. ở nhà chết, Dostoievski đã tìm thấy "những con người tội nghiệp" (hay theo cách nói dân gian, những người vô phúc) thật sự. Những người tội nghiệp trước đây, mà ông đã để lại đằng sau mình, còn tìm được lối thoát khỏi nỗi uất hận xã hội trong ý thức về nhân phẩm của riêng mình, về sự ưu việt cá nhân của mình. ở những người tù khổ sai không có cái đó nhưng lại có một cái gì đó to lớn hơn. Những con người xấu xa nhất trong nhà chết đã trả lại Dostoievski cái mà những nhà trí thức ưu tú đã lấy đi của ông.

    Nếu nơi ấy, giữa những người đại diện cho học thức, tình cảm tôn giáo còn chưa chết hẳn nơi ông đã khiến ông phải tái mặt vì những lời báng bổ thánh thần của một nhà văn tiên tiến(9), thì ở đây, trong nhà chết, tình cảm ấy đã phục sinh và đổi mới do ảnh hưởng của đức tin khiêm nhường và ngưỡng kính của những người tù khổ sai. Dường như bị Giáo hội bỏ quên, bị nhà nước đè nén, những con người ấy tin vào Giáo hội và không bác bỏ nhà nước. Và trong giây phút cực nhọc nhất, đằng sau đám tù nhân khổ sai hung dữ và bạo ngược, trong ký ức Dostoievski hiện lên hình ảnh oai vệ và hiền từ của người mugic nông nô Marei đã thương yêu động viên cậu bé con ông chủ trong cơn hoảng hốt(10). Và ông đã thụ cảm được và đã hiểu được rằng trước cái chân lý tối cao ấy của Chúa Trời mọi chân lý tự tạo của cá nhân đều là giả dối và mưu đồ áp đặt cái giả dối ấy cho những người khác là tội ác.

    Thay vì niềm hằn học của nhà cách mạng đã thất bại, Dostoievski thu nhận được từ những năm tù khổ sai một cái nhìn sáng tươi của con người được phục sinh tinh thần. "Hãy nhiều đức tin hơn nữa, nhiều sự thống nhất hơn nữa, và nếu có thêm cả tình yêu, thì tất cả đều làm được" - ông viết. Sức mạnh tinh thần ấy, được chấn hưng do sự tiếp xúc với nhân dân, đã trao cho Dostoievski quyền chiếm giữ vị trí cao quý ở đằng trước phong trào xã hội của chúng ta, với tư cách không phải người phục vụ thời cuộc, mà người đích thực thúc đẩy tư tưởng xã hội.

    Khi từ Xibia trở về, Dostoievski còn chưa hình dung ngay được thật rành rõ lý tưởng xã hội chân chính. Song có ba chân lý trong lĩnh vực này đã rõ ràng hoàn toàn đối với ông: trước hết ông đã hiểu rằng những con người riêng lẻ, dù là những phần tử ưu tú nhất, không có quyền vì sự ưu việt cá nhân của mình mà cưỡng bức xã hội; ông cũng hiểu rằng công lý xã hội không được những trí tuệ đơn lập sáng chế ra, mà bắt rễ trong tình cảm của toàn dân và, cuối cùng, ông hiểu rằng công lý ấy có ý nghĩa tôn giáo và gắn bó tất yếu với đạo Kitô, với lý tưởng Kitô.

    Trong nhận thức những chân lý ấy Dostoievski đã đi trước khá xa khuynh hướng tư tưởng xã hội thống ngự lúc bấy giờ và vì vậy ông đã có thể tiên đoán và chỉ ra khuynh hướng ấy sẽ dẫn dắt đến đâu. Như ta biết, tiểu thuyết Tội ác và trừng phạt đã được viết trước khi xảy ra những tội ác của Danilov và Karakozov(11), còn tiểu thuyết Lũ người quỷ ám thì trước vụ án xét sử nhóm Nechaiev(12). ý nghĩa của tiểu thuyết thứ nhất trong hai tiểu thuyết ấy, với tất cả những chi tiết sâu sắc, rất đơn giản và rõ ràng mặc dù đã không được nhiều người hiểu. Nhân vật hành động chính là người đại diện cho cái quan niệm mà theo đó thì bất kỳ một người mạnh nào đều là chủ của chính mình và được phép làm tất cả.

    Vì sự ưu việt ấy của cá nhân mình, vì xem mình là sức mạnh, cho nên y cho rằng y có quyền giết người và quả thật đã giết người. Nhưng bỗng nhiên cái việc làm, mà y chỉ xem là sự vi phạm luật pháp bên ngoài vô nghĩa và sự thách thức dũng cảm định kiến xã hội - việc ấy bỗng nhiên lại hóa ra một cái gì đó to lớn hơn nhiều đối với lương tâm của chính y, hóa ra một tội lỗi, một sự vi phạm chân lý đạo đức nội tại. Sự vi phạm luật pháp bên ngoài bị trừng trị từ bên ngoài bằng tù đầy và lao động khổ sai, nhưng cái tội kiêu ngạo bên trong đã cách ly con người mạnh ấy khỏi loài người và đẩy y đến hành động giết người - cái tội nội tại của sự tự thần thánh hóa thì chỉ có thể được chuộc bằng kỳ công nội tại, kỳ công tinh thần của sự tự chối từ. Sự tự tin vô bờ bến phải biến mất trước niềm tin vào cái to lớn hơn mình và sự tự biện hộ phải quy phục trước chân lý tối cao của Chúa - cái chân lý vẫn sống trong những con người nhỏ bé, yếu đuối mà con người mạnh trước đây nhìn họ như nhìn những con côn trùng hạ đẳng.

    Trong Lũ người quỷ ám cũng đề tài ấy nếu không được khơi sâu, thì được triển khai rộng hơn và phức tạp hơn một cách đáng kể. Cả một xã hội những con người bị ám ảnh bởi mơ ước về cách mạng bạo lực nhằm tạo dựng lại thế giới theo ý mình, đã phạm phải những tội ác dã thú và bại vong một cách nhục nhã, còn nước Nga được chữa lành bởi đức tin thì ngưỡng mộ nghiêng mình trước Cứu Tinh của mình.Ý nghĩa xã hội của những tiểu thuyết ấy rất lớn; ở đấy đã được tiên báo nhiều hiện tượng xã hội quan trọng mà sau đó đã bộc phát không chậm trễ; đồng thời những hiện tượng ấy đã bị lên án vì chân lý tôn giáo tối cao và một lối thoát tốt nhất đã được chỉ ra cho phong trào xã hội - đó là sự tiếp thụ chân lý ấy.

    Lên án những tìm kiếm chân lý trừu tượng, tự tiện, chỉ đẻ ra những tội ác, Dostoievski đặt đối lập với chúng lý tưởng tôn giáo của nhân dân dựa trên cơ sở niềm tin vào Kitô. Sự trở về với niềm tin ấy là lối thoát chung cho cả Raskolnikov và cho toàn bộ xã hội bị quỷ ám. Chỉ một niềm tin vào Kitô, hằng sống trong nhân dân, chứa đựng trong mình cái lý tưởng xã hội chính diện mà trong đó mỗi một cá nhân riêng lẻ đoàn kết với tất cả mọi người. Cá nhân nào đã đánh mất tình đoàn kết ấy trước hết cần phải chối từ sự biệt lập ngạo mạn của mình, để mà bằng kỳ công đạo đức của sự tự chối từ ấy tái hợp tinh thần với toàn thể nhân dân. Nhưng vì lẽ gì cơ chứ? Chẳng lẽ chỉ vì đó là nhân dân, vì sáu mươi triệu người nhiều hơn một hay một nghìn người?

    Có thể có những người hiểu đúng như thế. Nhưng một nhận thức quá thô sơ như thế hoàn toàn xa lạ với Dostoievski. Yêu cầu các cá nhân biệt lập trở về với nhân dân, ông trước hết ngụ ý sự trở về với niềm tin chân chính còn gìn giữ được trong nhân dân. Trong lý tưởng xã hội về tình bác ái và đoàn kết đại đồng ấy, mà Dostoievski tin vào nó, cái chính đối với ông là ý nghĩa tôn giáo-đạo đức, chứ không phải nhân dân và dân tộc. Ngay trong Lũ người quỷ ám ta đã thấy sự nhạo báng chua cay những người sùng bái dân tộc chỉ vì đó là dân tộc mình, những người tán dương đạo Kitô chính thống chỉ như là một biểu hiện của dân tộc Nga(13).
    Nếu chúng ta muốn bằng một từ ngữ chỉ ra cái lý tưởng xã hội mà Dostoievski đã đi tới, thì từ ấy không phải là nhân dân hay dân tộc mà là Giáo hội.

    Chúng ta tin vào Giáo hội như là thân thể huyền nhiệm của Kitô, chúng ta cũng biết Giáo hội như là tập hợp của các tín đồ của tôn giáo này hay tôn giáo kia. Nhưng Giáo hội như một lý tưởng xã hội là gì? Dostoievski không có những tham vọng thần học nào cả, và vì thế cả chúng ta cũng không có quyền tìm kiếm nơi ông những định nghĩa lôgic về bản chất của Giáo hội. Nhưng cổ xuý cho Giáo hội như một lý tưởng xã hội, ông thể hiện một yêu cầu hoàn toàn rõ ràng và xác định, cũng rõ ràng và xác định (mặc dù đối lập trực tiếp) như yêu cầu mà chủ nghĩa xã hội châu Âu đưa ra. (Vì thế mà trong cuốn nhật ký cuối cùng của mình Dostoievski gọi niềm tin của nhân dân Nga vào Giáo hội là chủ nghĩa xã hội Nga của chúng ta)(14).

    Các nhà xã hội chủ nghĩa châu Âu đòi bằng bạo lực giáng hạ tất cả mọi người xuống một cấp độ thuần túy vật chất của những người công nhân no đủ và tự mãn, đòi giáng hạ nhà nước và xã hội xuống cấp bậc một hiệp hội kinh tế đơn thuần. "Chủ nghĩa xã hội Nga", mà Dostoievski nói đến, ngược lại, nâng cao tất cả lên tới trình độ đạo đức của Giáo hội như một thể bác ái tinh thần, mặc dù vẫn duy trì sự bất bình đẳng bên ngoài của các vị trí xã hội khác nhau; nó đòi hỏi đưa dồi dào yếu tố tinh thần vào toàn bộ chế độ nhà nước và xã hội bằng cách thể hiện trong đó chân lý và gương sống của Kitô.Giáo hội với tư cách một lý tưởng xã hội chính diện sẽ phải là tư tưởng trung tâm của một, hay một loạt tiểu thuyết mới, mà trong đó chỉ có tiểu thuyết đầu tiên được hoàn thành - Anh em nhà Karamazov*.

    Nếu lý tưởng xã hội ấy của Dostoievski đối lập trực tiếp với lý tưởng của những nhà hoạt động đương thời được mô tả trong Lũ người quỷ ám thì cũng hệt như thế, những con đường thực hiện hai lý tưởng cũng đối lập. Con đường nơi ấy là bạo lực và giết người, con đường nơi đây là kỳ công đạo đức, mà lại kỳ công kép, tức là hai hành vi tự chối từ tinh thần song hành. Cái đòi hỏi ở cá nhân là nó trước hết phải chối từ cái chủ kiến độc đoán, cái chân lý tự tạo của mình vì niềm tin và chân lý chung của toàn dân. Cá nhân phải quy phục niềm tin của nhân dân, nhưng không phải vì nó là niềm tin của nhân dân, mà vì nó là chân lý. Và nếu như thế thì có nghĩa là nhân dân, vì chân lý mà họ tin, phải chối từ và chối bỏ tất cả những gì ở trong mình không phù hợp với chân lý tôn giáo.

    Sở hữu chân lý không thể là đặc quyền của nhân dân cũng như nó không thể là đặc quyền của cá nhân riêng lẻ. Chân lý chỉ có thể mang tính hoàn vũ và nhân dân, dân tộc cũng phải phụng sự cái chân lý hoàn vũ ấy, mặc dù có thể, thậm chí nhất thiết phải hy sinh chủ nghĩa ích kỷ dân tộc của mình. Cả nhân dân và dân tộc cũng phải biện chính mình trước chân lý hoàn vũ, cả nhân dân và dân tộc cũng phải dâng hiến mạng sống của mình, nếu muốn cứu rỗi nó.

    Chân lý hoàn vũ được thể hiện trong Giáo hội. Lý tưởng và mục đích cuối cùng không phải là nhân dân hay dân tộc, tự mình chúng chỉ là một sức mạnh phục vụ, mà là Giáo hội, Giáo hội mới là đối tượng phụng sự cao nhất, đòi hỏi kỳ công đạo đức không chỉ ở cá nhân, mà còn ở toàn thể nhân dân, dân tộc. Như vậy, Giáo hội như là lý tưởng xã hội chính diện, như là cơ sở và mục đích của những suy nghĩ và việc làm của chúng ta và kỳ công của toàn dân như là con đường trực tiếp thực hiện lý tưởng ấy - đó là lời cuối cùng mà Dostoievski đã đi tới và nó đã soi sáng toàn bộ hoạt động của ông bằng một ánh sáng tiên tri.


    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Ba diễn từ tưởng niệm Dostoievski

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Ba diễn từ tưởng niệm Dostoievski bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Ba dien tu tuong niem Dostoievski ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Ba diễn từ tưởng niệm Dostoievski ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Chuyên Đề của chuyên mục Văn Hóa.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - VĂN HÓA - CHUYÊN ĐỀ