Ba diễn từ tưởng niệm Dostoievski: Diễn từ ba

18:30 25/10/2005
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

"Nét ưu việt cơ bản ở những quan điểm của Dostoievski chính là cái mà người ta nhiều khi trách cứ ông - sự thiếu vắng, hay nói đúng hơn, sự bác bỏ hữu thức mọi lý tưởng xã hội ngoại giới, tức là lý tưởng không gắn bó với sự cải hóa bên trong của con người..."

Trong hai lần xuất bản trước ( Diễn từ mộtDiễn từ hai ) vì độ dài của văn bản nên chúng tôi chưa đăng phần chú giải. Diễn từ ba sẽ kết thúc mạch bài viết về thế giới tiểu thuyết của Dostoievsky sẽ kèm theo phần chú giải của cả Diễn từ một và Diễn từ hai. Phần chú giải này sẽ làm sáng rõ thêm quan điểm của Soloviev thông qua những khái niệm, tên nhân vật, tên tác phẩm mà ông đã sử dụng.

BBT xin cảm ơn dịch giả, GS Phạm Vĩnh Cư và ông Đoàn Tử Huyến ( Trung tâm Ngôn ngữ Văn hoá Đông Tây) đã cung cấp văn bản này.

Diễn từ ba
(Thuyết trình ngày 19 tháng Hai năm 1883)


Ba dien tu tuong niem Dostoievski Dien tu ba
Triết gia VladimirSoloviev (1853- 1900)

Trong triều đại Alexandre đệ Nhị (17) đã kết thúc sự hình thành cái ngoại hình tự nhiên của nước Nga, sự định hình thân thể của nó và, trong đau đớn và bệnh hoạn, bắt đầu quá trình sinh nở tinh thần của nó. Mọi sự ra đời mới, mọi quá trình sáng tạo dẫn nhập những phần tử hiện tồn vào những hình thức và tổ hợp mới tất yếu phải có trước mình một thời kỳ lãng du (brozhenie) của những phần tử ấy. Khi thân thể nước Nga còn đương hình thành và nhà nước Nga còn đương ra đời thì những người Nga - từ các quận vương với các đội thân binh của họ cho đến người dân cày cùng đinh - tất cả đều lãng du trên khắp đất nước.

Toàn bộ nước Nga ở trong trạng thái lang thang phân tán. Sự lang thang bên ngoài ấy đã dẫn đến sự xiết chặt cũng từ bên ngoài bởi nhà nước, để cấu kết nước Nga thành một thân thể vĩ đại. Được những quận vương ở Moskva khởi đầu và được các hoàng đế ở Peterburg kết thúc, quá trình xiết chặt từ bên ngoài ấy mà do nó những đội thân binh du đãng trước đây biến thành giai cấp quý tộc có trang ấp, những người khách tự do xưa kia trở thành những thị dân, còn những người nông dân trước kia xê dịch tự do thì bị biến thành nông nô - cách tổ chức nước Nga ấy bằng những biện pháp xiết chặt của nhà nước đã đưa đời sống và hoạt động của nhân dân và xã hội vào những khuôn khổ rắn chắc và xác định. Những khuôn khổ ấy vẫn còn là bất khả xâm phạm cả khi mà sau cải cách của Piotr và đặc biệt từ thời trị vì của Alexandre đệ Nhất những tư tưởng và trào lưu tinh thần khác nhau của Tây Âu bắt đầu thâm nhập tầng lớp có học của xã hội Nga. Song cả những tín ngưỡng thần bí của các hội viên hội Tam điểm Nga lẫn những tư tưởng nhân văn của các nhà hoạt động những năm 40, mặc dù ở ta những tín ngưỡng và tư tưởng ấy thường thâu thái khuynh hướng đạo đức-thực tiễn, đều không ảnh hưởng quan trọng đến độ bền của những cơ sở đời sống và đều không cản trở những con người có học trong khi suy luận một cách mới vẫn sống theo cách cũ, trong những hình thức được truyền thống di chúc lại.

Cho đến tận văn kiện giải phóng của triều đại trước(18), cuộc sống và hoạt động của người Nga không phụ thuộc nhiều vào những tư tưởng và xác tín của họ, mà được quy định trước bởi những khung khổ có sẵn, mà từ khi ra đời mỗi một con người và nhóm người đã được đặt vào đó. Câu hỏi đặc biệt về những nhiệm vụ của cuộc đời, về việc sống để làm gì và làm gì không thể nảy sinh trong xã hội Nga thời ấy bởi vì đời sống và hoạt động của nó được ấn định không bởi câu hỏi để làm gì, mà bởi căn cứ vì sao. Người điền chủ sống và hành động một cách nhất định không phải vì một cái gì đó, mà trước hết bởi vì anh ta là điền chủ, cũng như người nông dân phải sống thế này chứ không thế kia bởi vì anh ta là nông dân, và giữa những hình thức đối cực ấy, tất cả những nhóm xã hội còn lại trong những điều kiện có sẵn của đời sống nhà nước đều tìm thấy đủ cơ sở để xác định phạm vi cuộc sống của mình, không để lại chỗ cho câu hỏi: làm gì?

Giả sử nước Nga chỉ là một thân thể dân tộc-quốc gia như Trung Quốc chẳng hạn, thì nó sẽ có thể thỏa mãn với tính vững chãi và xác định ấy của cuộc sống, có thể dừng lại trong tổ chức chặt chẽ của mình. Nhưng nước Nga từ thuở rất ấu thơ đã được thụ tẩy lễ theo tín ngưỡng Kitô giáo và đã nhận được từ đó đảm bảo cho một cuộc sống tinh thần cao nhất cho nên, khi đã thành niên, khi đã hình thành và tự xác định về mặt thể chất, nó phải tìm kiếm cho mình một sự xác định tinh thần tự do. Mà để làm được điều ấy, trước hết các lực lượng xã hội Nga phải có được tự do, có được khả năng và xung lực thoát ra khỏi trạng thái bất động bên ngoài được ấn định bởi chế độ nông nô. Toàn bộ ý nghĩa của triều đại trước là ở công việc giải phóng, chứ không cải cách ấy. Kỳ công vĩ đại của triều đại ấy chỉ là giải phóng xã hội Nga khỏi những khung khổ cưỡng chế, để cho những hình thái mới được kiến tạo, chứ không phải sự kiến tạo những hình thái ấy, việc này cho đến bây giờ vẫn còn chưa bắt đầu. Trước khi những hình thái ấy cấu thành, xã hội đã được giải phóng cần phải trải qua thời lãng du tinh thần nội tại. Giống như trước khi cấu thành thân thể nhà nước đã có thời kỳ mọi người đều lãng du, tình hình cũng phải là như thế trước khi một nước Nga tinh thần ra đời. Chính vào thời buổi lãng du tinh thần này, với một sức mạnh không gì ngăn cản được hiện lên câu hỏi: sống để làm gì và làm gì?

Câu hỏi ấy xuất hiện ban đầu trong một hàm nghĩa sai lệch. Có một cái gì đó lệch lạc ở ngay cách đặt câu hỏi ấy từ phía những con người vừa mới rời khỏi những cơ sở xác định bên ngoài của cuộc sống và còn chưa thay thế chúng bằng những cơ sở nào cao hơn, còn chưa làm chủ được bản thân. Hỏi thẳng: làm gì?(19) - Có nghĩa là giả định rằng đã có sẵn một công việc mà chỉ cần bắt tay vào, có nghĩa là bỏ qua một câu hỏi khác: những người làm công việc ấy đã sẵn sàng chưa?

Trong khi ấy thì trong mọi việc làm của con người, to và nhỏ, vật chất và tinh thần, cả hai câu hỏi: làm gì và ai làm? đều quan trọng như nhau. Một người làm tồi hay không được chuẩn bị chỉ có thể làm hỏng việc tốt đẹp nhất được giao. Đối tượng của việc làm và những phẩm chất của người làm gắn bó với nhau không tách rời trong bất kỳ một công việc chân chính nào, còn ở đâu hai mặt ấy tách rời nhau, ở đấy công việc chân chính không thể thành công. Khi ấy nó trước hết sẽ lưỡng phân. Một mặt, hiện ra hình ảnh một cuộc sống xã hội lý tưởng, và một "lý tưởng xã hội" xác định được thiết lập. Nhưng lý tưởng ấy được tiếp thụ không trong quan hệ với bất kỳ một sự tự tu dưỡng nào của bản thân con người - đó chỉ là một chế độ kinh tế và xã hội được ấn định trước và được cưỡng chế từ bên ngoài; vì thế cho nên tất cả những gì con người có thể làm nhằm đạt được lý tưởng ngoại tại ấy được quy về sự xóa bỏ những trở ngại cũng ngoại tại cho sự thực hiện lý tưởng.

Như vậy, bản thân lý tưởng được hiện thực hóa chỉ trong tương lai mà thôi, còn trong hiện tại thì con người có quan hệ chỉ với những gì mâu thuẫn với lý tưởng ấy, và toàn bộ hoạt động của nó xoay từ lý tưởng chưa hiện tồn sang sự phá hoại cái hiện tồn, song do cái hiện tồn ấy được duy trì bởi những con người và bởi xã hội, cho nên toàn bộ sự nghiệp ấy hóa thành sự cưỡng bức những con người và cả xã hội. Một cách khó nhận ra, lý tưởng xã hội được đánh tráo bằng hoạt động phản xã hội. Câu hỏi: làm gì? - nhận được lời đáp rõ ràng và xác định: giết hết mọi địch thủ của chế độ lý tưởng tương lai, tức là mọi người bảo vệ chế độ hiện tại.

Một khi vấn đề được giải quyết như thế thì câu hỏi: những người làm đã sẵn sàng chưa? - quả là thừa. Để phụng sự bằng cách ấy cho lý tưởng xã hội, bản chất con người trong hiện trạng của nó và với những mặt tồi tệ nhất của nó là hoàn toàn sẵn sàng và hoàn toàn thích hợp. Khi lý tưởng xã hội được thực hiện bằng phương cách phá hoại, tất cả mọi thị dục tồi tệ, tất cả mọi tố chất ác độc và điên rồ trong nhân loại sẽ tìm thấy cho mình vị trí và công dụng: một lý tưởng xã hội như thế toàn bộ bắt rễ vào "thổ nhưỡng" của cái ác ngự trị trong thế gian. Nó không đề ra một điều kiện đạo đức-tinh thần nào cho những người phục vụ nó, nó cần đến không phải những sức mạnh tinh thần mà chỉ bạo lực vật chất, nó đòi hỏi ở loài người không phải sự cải hóa bên trong, mà cuộc chính biến bên ngoài.

Trước khi đạo Kitô xuất hiện, dân tộc Do Thái chờ đợi một cuộc giáng thế của Chúa Trời để trị vì trong thế gian này, và đa số hiểu sự trị vì ấy như là một cuộc chính biến bằng bạo lực bên ngoài, cuộc chính biến ấy sẽ phải đem lại vị trí thống trị cho dân tộc đặc tuyển và tiêu diệt hết những kẻ thù của nó. Những con người chờ đợi sự trị vì như thế, ít nhất những người cương quyết nhất và nhiệt tình nhất, thời ấy có lời đáp rành mạch và xác định cho câu hỏi: làm gì? Đó là vùng dậy chống lại La Mã và giết quân La Mã(20). Và họ đã làm như thế, bắt đầu giết những người La Mã và bản thân đã bị tàn sát. Sự nghiệp của họ đã thất bại, và người La Mã đã phá tan tành thành phố Jérusalem. Chỉ có rất ít người Israel hiểu "cuộc trị vì trong tương lai" một cách sâu sắc hơn và cơ bản hơn, họ biết một kẻ thù khác, đáng sợ hơn và bí ẩn hơn người La Mã và họ tìm kiếm một chiến thắng khác, còn khó khăn hơn, nhưng năng sản hơn. Những người ấy đã lĩnh hội chỉ có một câu trả lời bí hiểm và không xác định cho câu hỏi: làm gì? - câu trả lời mà các giáo trưởng của nước Israel đã không thể chấp nhận: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Vương quốc của Chúa Trời, nếu không được sinh ra bởi ơn trên"(21).

Những người ít ỏi ấy đã không bị bối rối bởi câu trả lời kỳ lạ và tối nghĩa ấy, đã chấp nhận một cuộc ra đời mới và tin vào vương quốc tinh thần của Chúa Trời - và cuối cùng họ đã chiến thắng người La Mã và đã chinh phục thế giới. Cả ở ta giờ đây cũng thế, trong thời buổi của sự lãng du tinh thần, trong khi một số người trung thành với một "lý tưởng xã hội" cũng ngoại tại và hời hợt như "vương quốc" của các nhà duy vật Do Thái xưa kia vùng dậy bạo hành, giết hại đồng loại và tự mình tử vong một cách vô bổ và nhục nhã, còn những người khác thì hoặc lầm đường lạc lối trong cảnh hỗn mang tinh thần, hoặc đắm chìm trong thái độ bàng quan tư lợi - trong bối cảnh ấy xuất hiện một số ít người; không thỏa mãn với bất kỳ mục đích và lý tưởng ngoại tại nào, những con người ấy cảm thấy và tuyên cáo sự tất yếu của một cuộc cách mạng tinh thần sâu sắc và chỉ ra những điều kiện cho cuộc ra đời mới, mang tính tinh thần của nước Nga và nhân loại. Trong số ít những người tiên báo tương lai nước Nga và toàn thế giới ấy, Dostoievski rõ ràng là người đi đầu, bởi vì ông đã thấu thị sâu hơn những người khác bản chất của vương quốc tương lai và mạnh mẽ hơn, hứng khởi hơn tiên báo về nó.

Nét ưu việt cơ bản ở những quan điểm của Dostoievski chính là cái mà người ta nhiều khi trách cứ ông - sự thiếu vắng, hay nói đúng hơn, sự bác bỏ hữu thức mọi lý tưởng xã hội ngoại giới, tức là lý tưởng không gắn bó với sự cải hóa bên trong của con người, hay là sự "sinh ra bởi ơn trên" của nó. Sự sinh ra như thế không cần cho cái gọi là lý tưởng xã hội. Lý tưởng ấy bằng lòng với cái tự nhiên của con người như vốn có - đó là một lý tưởng thô lậu và nông cạn và, như ta biết, những cố gắng thực hiện nó chỉ khẳng định và nhân lên gấp bội cái ác và sự điên rồ ngự trị trong thế gian. Lý tưởng thô lậu và nông cạn, vô thần và bất nhân ấy vắng mặt ở Dostoievski, và đây là công trạng đầu tiên của ông. Ông hiểu biết quá tốt tất cả những vực sâu sa ngã của con người; ông biết sự ác độc và điên rồ là cơ sở của cái bản tính đã đọa lạc nơi chúng ta, và nếu xem sự đọa lạc ấy là chuẩn mực thì không thể đi đến một cái gì khác, ngoài bạo lực và hỗn loạn.

Chừng nào cái cơ sở tăm tối ấy của bản tính chúng ta, độc ác trong chủ nghĩa vị kỷ thuần túy của mình và điên rồ trong chí hướng thực hiện chủ nghĩa vị kỷ ấy, trong chí hướng quy tất cả về mình và quyết định tất cả bằng mình - chừng nào cái cơ sở tăm tối ấy còn ở trong ta, còn chưa được cải hóa và cái tội tổ tông ấy chưa bị đánh bại, thì chừng ấy không một công việc chân chính nào hữu khả đối với chúng ta và câu hỏi làm gì không có ý nghĩa hữu lý. Các quý vị hãy hình dung một đám người mù, điếc, tàn phế, rồ dại, và bỗng nhiên từ đám đông ấy vang lên câu hỏi: làm gì? Câu trả lời duy nhất thông minh ở đây là: hãy tìm kiếm cách chữa lành; chừng nào các người chưa được chữa lành, thì chưa có việc làm cho các người và chừng nào các người còn mạo xưng là mạnh khoẻ, thì không thể chữa lành các người.

Ai lấy bệnh tật tinh thần của mình, lấy sự ác độc và điên rồ của mình làm căn cứ cho cái quyền hành động và kiến tạo lại thế giới theo ý mình, thì cho dù số phận bên ngoài và những việc làm của anh ta có là thế nào đi nữa, người ấy về bản chất vẫn là kẻ sát nhân; anh ta tất yếu sẽ cưỡng bức và hãm hại những người khác và bản thân tất yếu sẽ bại vong bởi bạo lực. Anh ta cho mình là mạnh, nhưng anh ta ở dưới quyền điều khiển của những tha lực; anh ta kiêu hãnh về sự tự do của mình, nhưng anh ta là nô lệ của cái bên ngoài và cái ngẫu nhiên. Một con người như thế sẽ không được chữa lành, chừng nào chưa đi bước đầu tiên tới sự giải cứu.

Bước đầu tiên đi đến sự giải cứu đối với chúng ta là cảm thấy sự bất lực và sự không tự do của mình, và ai đã cảm thấy điều đó, người ấy sẽ không là kẻ sát nhân nữa; nhưng nếu anh ta dừng lại ở cảm nhận ấy về sự bất lực và không tự do của mình, anh ta sẽ đi đến sự tự sát. Tự sát - một hình thức bạo lực đối với bản thân - đã là một cái gì đó cao hơn và tự do hơn bạo lực đối với những người khác. ý thức được sự phá sản của mình, con người bằng cách ấy đứng lên bên trên sự phá sản ấy và tuyên phạt tử hình mình, anh ta không chỉ chịu hình phạt như là kẻ bị cáo mà còn hành động một cách có quyền lực, như là một quan toà tối cao. Song ngay cả ở đây sự phán xử của anh ta vẫn không công chính.

Trong quyết định tự sát có một mâu thuẫn nội tại. Quyết định ấy xuất phát từ ý thức về sự bất lực và sự không có tự do của mình nhưng trong khi ấy thì tự sát đã là một hành vi nào đó của sức mạnh và tự do - thế thì vì sao lại không tận dụng sức mạnh và sự tự do ấy cho cuộc sống? Nhưng vấn đề là ở chỗ kẻ tự sát không chỉ đơn thuần ý thức sự phá sản của con người ở mình, mà còn nâng nó lên thành quy luật toàn thế giới, mà điều ấy đã là sự điên rồ. Kẻ tự sát không chỉ cảm thấy cái ác, mà còn tin vào cái ác. ý thức được căn bệnh của mình, y không tin vào sự chữa lành và vì thế chỉ có thể sử dụng sức mạnh và sự tự do, mà ý thức ấy đem lại, cho sự tự tiêu diệt. Bất kỳ ai ý thức được cái ác toàn nhân loại nhưng không tin vào cái Thiện siêu nhân loại đều đi đến tự sát.

Chỉ bằng niềm tin ấy con người có trí tuệ và lương tâm mới cứu thoát mình khỏi tự sát. Nó không được dừng lại ở bước đầu tiên - ý thức được cái ác của mình, mà phải đi bước thứ hai - công nhận có cái Thiện ở bên trên mình. Và không cần nhiều lý trí lành mạnh để mà, thụ cảm được tất cả cái ác trong con người, kết luận về cái Thiện không phụ thuộc vào con người cũng như không cần nhiều nỗ lực của thiện chí để hướng mặt về phía cái Thiện ấy và dành chỗ cho nó ở trong mình. Bởi vì cái Thiện tự tồn ấy tự nó vẫn tìm chúng ta và hướng chúng ta về phía nó, và về phía ta chỉ cần nhượng bộ nó, không chống đối nó.

Cùng với niềm tin vào cái Thiện siêu nhân loại, tức là vào Thánh Thần, trở về với ta cả niềm tin vào con người, con người ấy bây giờ đã xuất hiện không trong sự cô đơn, bất lực và mất tự do của mình, mà với tư cách người dự phần tự do vào thần tính và người mang sức mạnh thần thánh. Nhưng đã tin vào cái Thiện siêu nhân loại thì chúng ta không thể nào, không bằng cách nào có thể giả định rằng sự xuất hiện và hoạt động của nó chỉ quan hệ với trạng thái chủ quan của chúng ta, rằng Thánh Thần trong biểu hiện của mình phụ thuộc chỉ vào hành động cá nhân của con người - chúng ta nhất thiết phải, ngoài thái độ tôn giáo cá nhân của chúng ta, thừa nhận sự mặc khải chính thực của Thánh Thần cả trong thế giới bên ngoài, phải thừa nhận tôn giáo khách quan.

Giới hạn tác động của Thánh thần bằng một ý thức đạo đức của con người có nghĩa là phủ nhận bản tính viên mãn và vô tận của Thánh Thần, có nghĩa là không tin vào Thánh Thần. Còn nếu thật sự tin vào Thánh Thần như là cái Thiện không biết giới hạn, thì tất yếu phải thừa nhận cả sự nhập thể khách quan của thần tính, tức là sự liên kết của Thánh Thần với chính bản chất tự nhiên của chúng ta không chỉ trong tinh thần mà cả trong thân xác và, thông qua thân xác ấy, với cả những yếu tố vật chất của thế giới bên ngoài - mà cái đó có nghĩa là thừa nhận thiên nhiên có năng lực tiếp thụ sự nhập thể của Thánh Thần, có nghĩa là tin vào sự cứu chuộc, sự linh thiêng hóa và thần hóa vật chất. Cùng với niềm tin thật sự và trọn vẹn vào Thánh Thần trở về với ta không chỉ niềm tin vào con người, mà còn niềm tin vào thiên nhiên.

Chúng ta biết giới tự nhiên và vật chất đã gián cách với Thánh Thần và đọa lạc ở trong mình, nhưng chúng ta tin vào sự cứu chuộc nó và sự liên kết của nó với Thánh Thần, sự cải hóa của nó thành Thần-Vật-chất và chúng ta thừa nhận vai trò môi giới trong sự cứu chuộc và phục hồi ấy thuộc về con người chân chính, hoàn hảo, tức là Thần-Nhân trong ý chí và hành động tự do của Người. Con người chân chính được sinh ra nhờ ơn trên ấy bằng kỳ công đạo đức của sự tự chối từ dẫn đưa sức mạnh hằng sống của Chúa Trời vào thân thể đã chết của thiên nhiên và cải hóa toàn bộ thế giới thành vương quốc của Chúa. Tin vào vương quốc của Chúa có nghĩa là liên kết niềm tin vào Chúa với niềm tin vào con người và thiên nhiên.

Tất cả mọi lầm lạc của trí tuệ, tất cả mọi lý thuyết sai trái và mọi sự phiến diện và lạm dụng trong thực tiễn xưa nay đều xuất phát từ sự tách biệt ba niềm tin ấy. Tất cả chân lý và tất cả cái thiện phát xuất từ sự liên kết nội tại giữa chúng. Một mặt, con người và thiên nhiên có ý nghĩa chỉ trong quan hệ với Thánh Thần - bởi vì con người, được phó mặc cho chính mình và tự khẳng định trên cơ sở vô thần của mình, tự tố giác sự sai trái nội tại của mình và trong thực tiễn, như chúng ta biết, đi đến sự sát nhân và tự sát, còn thiên nhiên, bị gián cách khỏi Thần Khí, chỉ là một cỗ máy chết và vô nghĩa, hoạt động không có nguyên nhân và mục đích; mặt khác, cả Thánh Thần, gián cách với con người và thiên nhiên, thiếu mặc khải chính diện của mình, xuất hiện trước chúng ta chỉ như một cái gì đó trừu tượng trống không hoặc bất phân hút thu tất cả.

Toàn bộ nền học thức tự do của châu Âu đã kinh qua sự phân ly nguy hại ba nguyên lý và ba niềm tin ấy. ở đây đã từng xuất hiện những nhà thần hiệp (những người theo thuyết tĩnh tịch và thuyết kiên tín) khao khát chìm đắm trong sự chiêm ngưỡng Thánh Thần, coi khinh tự do của con người và khinh ghét tự nhiên vật chất. ở đây tiếp theo đã xuất hiện những nhà nhân văn chủ nghĩa (những người duy lý và duy tâm chủ nghĩa) sùng bái yếu tố con người, tuyên cáo tính tự trị tuyệt đối và vị trí tối thượng của trí tuệ và tư tưởng con người, nhìn thấy ở Thánh Thần chỉ một phôi mầm, còn ở thiên nhiên - chỉ cái bóng của con người. Nhưng cái bóng ấy đã cho thấy quá mạnh tính hiện thực của mình, và giờ đây, cuối cùng, sau thất bại của chủ nghĩa duy tâm, nổi lên hàng đầu trong nền học thức thời nay là các nhà tự nhiên chủ nghĩa (những người duy thực và duy vật); tẩy trừ khỏi thế giới quan của mình mọi vết tích của tinh thần và thần tính, họ đi đến sự tôn thờ cơ chế chết của tự nhiên. Tất cả những khuynh hướng phiến diện ấy đều tố giác nhau nói dối và đã bộc lộ đầy đủ sự phá sản của mình.

Ngay nền học thức còn sơ khai của chúng ta cũng đã đi qua ba khuynh hướng trừu tượng hóa ấy. Nhưng tương lai tinh thần của nước Nga và của nhân loại không gắn bó với chúng. Hư ngụy và vô sinh trong sự chia rẽ nội bộ, chúng sẽ tìm được cả chân lý, cả sức mạnh năng sản trong sự liên kết nội tại - trong tư tưởng Kitô giáo chu toàn. Tư tưởng ấy khẳng định sự nhập thể của bản nguyên thần thánh vào đời sống tự nhiên thông qua kỳ công tự do của con người, gắn liền niềm tin vào Thánh Thần với niềm tin vào Thần-Nhân và Thần-Vật-chất (Thánh mẫu)(21). Tư tưởng Kitô giáo tam-nhất ấy, đã được dân tộc Nga hấp thụ một cách bản năng và bán hữu thức, phải trở thành cơ sở cho sự phát triển tinh thần hữu thức của nước Nga trong quan hệ với vận mệnh toàn nhân loại. Dostoievski đã hiểu và đã tuyên cáo điều dó. Hơn bất cứ một ai trong những người cùng thời, ông đã tiếp nhận tư tưởng Kitô giáo một cách hài hòa trong thể viên mãn tam hợp của nó: ông vừa là nhà thần hiệp, vừa là nhà nhân văn chủ nghĩa, vừa là nhà tự nhiên chủ nghĩa.

Thụ cảm sống động mối liên lạc nội tại với cái siêu nhân loại và theo nghĩa ấy là nhà thần hiệp, ông đồng thời tìm thấy trong cảm quan ấy tự do và sức mạnh của con người; hiểu biết tất cả cái ác của con người, ông đồng thời tin vào tất cả cái thiện cũng ở nó và, như mọi người công nhận, ông là một nhà nhân văn chủ nghĩa chân chính. Nhưng niềm tin của ông vào con người không mảy may mang dấu ấn của chủ nghĩa duy tâm hay duy linh phiến diện: ông xem xét con người trong toàn bộ thể toàn vẹn và tính hiện thực của nó. Con người ấy gắn bó mật thiết với tự nhiên vật chất - và Dostoievski với tình yêu sâu sắc hướng về thiên nhiên, thấu hiểu và yêu quý đất với tất cả những gì thuộc về đất, tin vào sự thanh sạch, sự thánh thiện và cái đẹp của vật chất. ở một chủ nghĩa duy vật như thế không có một cái gì sai lệch và tội lỗi.

Giống như chủ nghĩa nhân văn chân chính không phải là sự tôn thờ cái ác của con người chỉ vì nó là của con người, cũng như thế, chủ nghĩa tự nhiên chân chính không phải là sự làm nô lệ cho giới tự nhiên sa đọa chỉ vì nó là tự nhiên. Chủ nghĩa nhân văn là niềm tin vào con người, còn cái ác và sự bất lực của con người thì chẳng đòi hỏi niềm tin - chúng hiện diện rõ mồn một; cả thiên nhiên đọa lạc cũng chẳng đòi hỏi niềm tin - đó là thực tại thấy được và sờ mó được. Tin vào con người có nghĩa là nhận thấy ở nó một cái gì đó nhiều hơn và lớn hơn cái hiện hữu, có nghĩa là thừa nhận ở nó năng lực tự do liên kết với Thánh Thần; còn tin vào thiên nhiên có nghĩa là thừa nhận ở nó sự xán lạn và vẻ đẹp ẩn kín làm cho nó trở thành thân thể của Thánh Thần. Chủ nghĩa nhân văn chân chính là niềm tin vào Thần-Nhân, và chủ nghĩa tự nhiên chân chính là niềm tin vào Thần-Vật-chất. Sự biện chính niềm tin ấy, sự mặc khải chính diện những khởi nguyên ấy, tính hữu thực của Thần-Nhân và Thần-Vật-chất hiển hiện trước chúng ta trong Kitô và Giáo hội, Giáo hội là thân thể sống của Thần-Nhân.

Ở đây, trong đạo Kitô chính thống, trong Giáo hội toàn thế giới, chúng ta tìm thấy căn cứ vững chắc và khởi nguyên cơ bản cho cuộc sống tinh thần mới, cho sự hình thành hài hòa nhân loại chân chính và thiên nhiên chân chính. Như vậy, đây cũng là điều kiện cho một cơ đồ chân chính. Cơ đồ chân chính chỉ có thể có được, nếu mà cả trong con người lẫn trong thiên nhiên có những sức mạnh chính diện và tự do của ánh sáng và của cái thiện; nhưng không có Chúa Trời thì cả con người lẫn thiên nhiên đều không có những sức mạnh như thế. Sự cách biệt với Chúa Trời, tức là với cái Thiện chu toàn, là điều ác, và hành động trên cơ sở cái ác ấy, chúng ta chỉ có thể làm những điều xấu. Việc cuối cùng của con người vô thần là chém giết hay tự chém giết. Con người đưa vào trong giới tự nhiên cái ác và rút ra từ đấy cái chết. Chỉ từ bỏ vị trí sai trái của mình, từ bỏ sự tập trung rồ dại vào mình, sự cô đơn độc ác của mình, chỉ gắn bó mình với Thiên Chúa thông qua Kitô và với thế giới thông qua Giáo hội, chúng ta mới có thể thực hiện được cơ đồ chân chính của Chúa - cái mà Dostoievski gọi là cơ đồ chính giáo.

Nếu đạo Kitô là tôn giáo của sự cứu giải; nếu tư tưởng Kitô giáo là sự chữa lành, sự liên kết nội tại những khởi nguyên mà sự chia rẽ chúng dẫn đến bại vong, thì bản chất của sự nghiệp Kitô giáo chân chính sẽ là cái mà trong ngôn ngữ lôgic học gọi là tổng hòa, còn trong ngôn ngữ luân lý gọi là hòa giải.

Bằng nét chung ấy Dostoievski đã chỉ ra sứ mệnh của nước Nga trong bài diễn văn của mình về Pushkin(22). Đó là lời phát biểu cuối cùng và di chúc của ông. ở đây có một cái gì đó to lớn hơn rất nhiều một lời kêu gọi đơn thuần những tình cảm hòa mục vì tính bao dung quảng đại của tinh thần Nga. Không phải ngẫu nhiên mà lúc ấy đã được cảm thấy và được thể hiện thành lời rằng cuộc tranh cãi giữa phái thân Slave và phái thân phương Tây đã được xóa bỏ - mà sự xóa bỏ này có nghĩa là xóa bỏ trong ý tưởng cuộc xích mích lịch sử lâu đời nhất giữa phương Đông và phương Tây, có nghĩa là tìm thấy cho nước Nga một vị thế tinh thần mới, giải thoát nó khỏi sự cần thiết tiếp tục cuộc đấu tranh mang tính phản Kitô giáo giữa phương Đông và phương Tây và đặt lên vai nó một trách nhiệm vĩ đại phục vụ một cách hữu đức cho cả phương Đông lẫn phương Tây, hòa giải cả hai bên trong mình.

Trách nhiệm ấy và sứ mệnh ấy không phải một ai đó đã nghĩ ra cho nước Nga, mà được đạo Kitô và lịch sử giao phó cho nó.

Sự phân chia phương Đông và phương Tây theo nghĩa ly biệt và đối kháng, thù địch và căm ghét lẫn nhau - một sự phân chia như thế không được có trong đạo Kitô, và nếu nó vẫn xảy ra thì đó là một tội lỗi và một tai họa vĩ đại. Nhưng chính vào lúc khi mà tội lỗi vĩ đại ấy xảy ra ở Byzance(23), nước Nga ra đời để chuộc đền nó. Tiếp thụ từ Byzance đạo Kitô chính thống, lẽ nào nước Nga phải, cùng với vật thiêng ấy của Chúa, tiếp nhận cả những tội lỗi lịch sử của vương quốc Byzance đã tự trù bị sự diệt vong của mình? Nếu trái ngược với ý tưởng chu toàn của đạo Kitô, Byzance đã dấy lên cuộc xích mích lịch sử vĩ đại và trong cuộc xích mích ấy đã đứng hẳn về một phía - phía Đông phương, thì số phận của nó không phải là gương sáng cho chúng ta, mà là lời cảnh báo.

Từ khởi thủy Thiên Cơ đã đặt nước Nga vào vị trí giữa phương Đông phi Kitô giáo và hình thức Tây phương của đạo Kitô - giữa thế giới basurman(24) và thế giới Latinh. Và trong khi Byzance trong mối thù địch một chiều với phương Tây ngày càng thẩm thấu những yếu tố thuần Đông phương và đã biến thành một vương quốc á châu, bất lực trong cuộc đấu tranh chống lại cả những binh đoàn thập tự chinh Latinh lẫn những kẻ thù dã man Hồi giáo và cuối cùng đã khuất phục trước những kẻ thù ấy thì nước Nga đã bảo vệ mình một cách thật sự thành công khỏi cả phương Đông lẫn phương Tây, đẩy lùi thắng lợi sự xâm lăng của thế giới basurman và thế giới Latinh. Cuộc đấu tranh bên ngoài ấy với cả hai đối thủ là cần thiết cho sự cấu thành và củng cố nước Nga, cho sự hình thành thân thể quốc gia của nó.

Nhưng nhiệm vụ bên ngoài ấy đã hoàn thành, thân thể nước Nga đã cấu thành và trưởng thành, những thế lực cừu địch không thể thôn tính nó - và mâu thuẫn đối kháng cũ mất đi ý nghĩa xưa kia. Nước Nga đã cho cả phương Đông lẫn phương Tây thấy đủ sức mạnh vật chất của mình trong cuộc đấu tranh với họ - bây giờ nó phải cho họ thấy sức mạnh tinh thần của mình trong cuộc hòa giải. Tôi nói không phải về sự xích lại gần nhau bên ngoài và về sự du nhập máy móc vào ta những hình thức của ngoại bang giống như cuộc cải cách của Piôtr Đại đế, cần thiết chỉ như là một bước trù bị. Nhiệm vụ chân chính không phải là vay mượn, mà là thấu hiểu những hình thức của người khác, nhận biết và tiếp thụ bản chất chính diện của tinh thần người khác và liên kết tinh thần với nó vì chân lý hoàn vũ tối cao.

Cần phải hòa giải về thực chất, mà thực chất của sự hòa giải là Chúa Trời, và sự hòa giải chân chính là làm sao không như những con người, mà "tựa hồ Chúa Trời" đối xử với kẻ địch. Điều này càng thiết yếu hơn đối với chúng ta bởi vì giờ đây cả hai địch thủ chính của chúng ta đã không ở bên ngoài, mà ở ngay trong nội bộ chúng ta. Thế giới Latinh mà người Ba Lan là đại diện và thế giới basurman hay là phương Đông phi Kitô giáo mà người Do Thái là đại diện đã gia nhập thành phần nước Nga, và nếu họ là những kẻ thù của chúng ta thì đó đã là những kẻ thù nội bộ, và nếu cần phải chiến đấu với họ thì đây đã là nội chiến. Bây giờ đã không chỉ một lương tâm Kitô giáo, mà cả sự khôn ngoan nhân tính cũng khuyên bảo hòa giải. Và ở đây chỉ những tình cảm hòa mục đối với những địch thủ với tư cách những con người nói chung còn chưa đủ, bởi vì những địch thủ ấy không phải là những con người nói chung, mà là những người hoàn toàn đặc biệt, với tính cách xác định của họ, và để hòa giải thực sự cần hiểu biết sâu sắc chính tính cách đặc biệt ấy của họ - cần phải quay mặt lại với chính bản chất tinh thần của họ và đối xử với nó "tựa hồ Chúa Trời"*.

Khởi nguyên tinh thần của người Ba Lan là đạo Công giáo, khởi nguyên tinh thần của người Do Thái là đạo Do Thái. Hòa giải thực sự với đạo Công giáo và với đạo Do Thái có nghĩa là trước hết tách bạch ở chúng cái từ Chúa Trời với cái từ những con người. Nếu ở trong chính chúng ta vẫn sống mối bận tâm với cơ đồ của Chúa trên thế gian, nếu vật thiêng của Chúa đối với chúng ta quý giá hơn những quan hệ con người, nếu chúng ta không đặt sức mạnh trường cửu của Chúa lên một cán cân với những việc làm nhất thời của con người thì, nhìn xuyên qua cái vỏ cứng nháp của những tội lỗi và lầm lạc, chúng ta sẽ phân biệt được dấu ấn của sự tuyển chọn của Chúa, thứ nhất, trên đạo Công giáo, và sau đó trên đạo Do Thái.

Nhìn thấy rằng giáo hội La Mã ngay thời xưa đã đứng vững một mình như một núi đá đập tan những làn sóng đen tối của phong trào chống lại đạo Kitô (những dị thuyết và đạo Hồi); nhìn thấy rằng cả thời nay Rôma (La Mã) vẫn đứng một mình không lung lay và không suy suyển giữa dòng thác của nền văn minh phản Kitô giáo và từ một mình nó vang lên tiếng nói có uy lực, mặc dù khắc nghiệt, lên án thế giới đã chối bỏ thánh thần, chúng ta sẽ không gán ghép cái đó cho một sự ngoan cường khó hiểu nào đó của con người, mà sẽ nhận ra cả ở đây sức mạnh ẩn kín của Chúa; và nếu Rôma, kiên định với vật thiêng của mình đồng thời mong muốn dẫn dắt tới vật thiêng ấy cả loài người, vận động và biến đổi, đi lên phía trước, nhiều phen vấp váp, sa ngã rồi lại đứng dậy, thì không phải chúng ta là người có tư cách phán xử nó vì những vấp ngã ấy, bởi vì chúng ta đã không nâng đỡ và không giúp nó vực dậy, mà đã tự mãn nhìn trông con đường gian lao và hiểm hóc của người anh em phương Tây, bản thân ngồi một chỗ và, ngồi một chỗ, không vấp ngã.

Nếu tất cả những gì xấu xa, những gì nhỏ nhen và nhơ bẩn ở con người đập vào mắt chúng ta đến thế, nếu chúng ta nhìn thấy rõ rệt và chính xác đến thế tất cả cát bụi của cõi trần, còn tất cả những gì thần thánh và linh thiêng, ngược lại, đối với chúng ta lại khó nhận thấy, lại là mờ ảo và khó tin, thì cái đó chỉ có nghĩa là trong chính chúng ta có ít Chúa Trời. Hãy dành cho Chúa nhiều chỗ hơn trong ta và ta sẽ nhìn thấy Ngài rõ hơn ở trong người khác. Khi ấy chúng ta sẽ nhìn thấy sức mạnh của Ngài không chỉ trong nhà thờ Công giáo, mà cả trong đền thờ đạo Do Thái.

Khi ấy chúng ta sẽ hiểu và sẽ tiếp thụ lời của đức tông đồ nói về dân Israel: "Họ đã được Thiên chúa nhận làm con, được Ngài cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa; họ là con cháu các tổ phụ, và sau hết, chính đức Kitô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ. Người là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự... Phải chăng Thiên Chúa đã ruồng bỏ dân Người? Không phải thế! Thiên Chúa không ruồng bỏ dân Người, dân mà Người biết từ trước... Tôi không muốn anh em chẳng hay biết mầu nhiệm này, để anh em đừng tự cho mình là khôn, đó là: một phần dân Israel đã tỏ ra cứng lòng, cho đến khi các dân ngoại gia nhập đông đủ. Như vậy, toàn thể Israel sẽ được cứu độ... Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội lỗi không vâng phục, để ân xá cho mọi người"(25).

Quả thật, nếu đối với chúng ta lời Chúa đúng đắn hơn tất cả mọi suy nghĩ của con người và cơ đồ của Vương quốc của Chúa quý hơn mọi lợi ích trần gian thì trước chúng ta đã mở ra con đường hòa giải với những kẻ thù lịch sử của chúng ta. Và ta sẽ không nói: những đối thủ của chúng ta tự họ có ưng ý hòa giải không, họ sẽ ứng xử thế nào và sẽ trả lời chúng ta thế nào? Lương tâm của người khác chúng ta không nắm được và những việc làm của người khác không thuộc quyền hạn của ta. Sự đối xử tốt của người khác không thuộc quyền hạn của ta, nhưng thuộc quyền hạn của ta xứng đáng với sự đối xử như thế. Và chúng ta phải suy nghĩ không phải về cái mà người khác sẽ nói với ta, mà về cái mà ta sẽ nói với thế giới.

Trong một cuộc đàm thoại, Dostoievski đã vận vào nước Nga linh thị của thánh Jean - Nhà-thần-học về người phụ nữ mình khoác mặt trời và quằn quại vì sắp sinh con trai:(26) người phụ nữ ấy - đó là nước Nga, và đứa con đang sinh hạ là Lời mới mà nước Nga sẽ phải nói với thế giới. Không biết sự kiến giải "điềm triệu lớn" ấy có đúng hay không, nhưng Lời mới của nước Nga thì Dostoievski đã đoán định đúng. Đó là lời hòa giải cho phương Đông và phương Tây trong liên minh giữa chân lý vĩnh hằng của Thượng Đế với tự do của con người.

Nhiệm vụ và bổn phận cao nhất của nước Nga là thế, và "lý tưởng xã hội" của Dostoievski cũng là thế. Cơ sở của nó là sự phục sinh tinh thần và kỳ công đạo đức đã không của một cá nhân riêng lẻ, đơn độc, mà của cả một xã hội và một dân tộc. Cũng như xưa kia, lý tưởng ấy không rõ đối với những giáo trưởng Israel, nhưng chân lý nằm trong nó và nó sẽ chiến thắng thế giới.

1883

Phần chú giải

* Trích lời phát biểu trong lễ an táng Dostoievski, 1 tháng Hai 1881(1).
* Xem tập I Tổng tập Dostoievski, phụ lục, tr.69 và 67(3).
* Bất kỳ một chi tiết nào, được xem xét riêng biệt, tự nó đều không hiện thực, bởi vì chỉ có cái tổng thể mới hiện thực, vả lại người nghệ sĩ hiện thực chủ nghĩa dẫu sao vẫn nhìn hiện thực từ mình, hiểu nó theo cách của mình và vì thế đấy đã không còn là hiện thực khách quan nữa.
* So với Oblomov những Famusov và Molchalin, Onegin và Pechorin, Manilov và Sobakievich, không nói đến những nhân vật của Ostrovski, chỉ có ý nghĩa chuyên biệt.
* Mặc dù Turgenev đã sáng tác ra từ nigilizm (chủ nghĩa hư vô) theo nghĩa thông dụng của nó, nhưng ý nghĩa thực tiễn của phong trào hư vô chủ nghĩa đã không được ông đoán định, và những biểu hiện sau này của phong trào ấy, đi rất xa khỏi những đàm thoại của Bazarov(6), là một bất ngờ nặng nề đối với tác giả Những người cha và những đứa con.
* Đây chính là đề tài giống như trong Những người cùng khổ của Victor Hugo: sự tương phản giữa phẩm giá đạo đức nội tại của con người và vị trí xã hội của nó. Dostoievski đánh giá rất cao tiểu thuyết này và chính ông đã chịu một ít ảnh hưởng mặc dù khá hời hợt của Victor Hugo (thiên hướng sử dụng những phản đề). Ngoài Pushkin và Gogol, Dickens và Georges Sande đã ảnh hưởng sâu sắc tới ông(7).
* Thực ra, ngây thơ từ phía Dostoievski: những con đường của cách mạng xã hội được ông hình dung một cách rất mơ hồ.
* Tư tưởng chính và một phần cả dàn bài của tác phẩm mới của mình Dostoievski đã truyền đạt vắn tắt cho tôi vào mùa hè năm 1878. Cũng vào thời điểm ấy (chứ không phải năm 1879 như đã được nói sai trong hồi ký của N. N, Strakhov) chúng tôi đã đi thăm tu viện Optina Pustyn(15).
* Từ những điều đã nói, theo tôi rõ ràng vấn đề không phải là những nhượng bộ và nhân nhượng lẫn nhau trong cuộc đấu tranh bên ngoài (đấu tranh giáo hội - chính trị và dân tộc) mà là xóa bỏ nguyên nhân bên trong của sự đấu tranh ấy thông qua hòa giải tinh thần trên cơ sở thuần túy tôn giáo. Chừng nào khối thống nhất tôn giáo nội tại chưa được khôi phục, thì đấu tranh chính trị và dân tộc vẫn tiếp diễn.

Việt Báo
contentlength: 50518
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Đã tìm ra cô dâu 'quẩy' sung nhất quả đất đây rồi!
00:00 / --:--

Bài được quan tâm

VẤN ĐỀ VăN HóA NÓNG NHẤT

Whitney Houston doi va nghiep

Whitney Houston: đời và nghiệp

Whitney Houston đã đột ngột qua đời , hãy vào đây để tổng kết lại những thăng trầm, scandal trong cuộc đời và sự nghiệp của Whitney..